
Bút Kư của Dư Thị Diễm Buồn
|
Gia đ́nh tôi vào Mỹ thuộc diện “Ô-Đi-Ghe” (vượt biên bằng ghe), Sau khi bôn đào khỏi nước để tị nạn Cộng sản đến được Nam Dương quần đảo. Chúng tôi may mắn hơn những thuyền nhân khác bị bỏ thây ngoài biền cả v́: hải tặc, v́ bịnh, v́ đói khát, v́ tàu ch́m… Đó cũng nhờ Ơn Trên che chở và hồng phúc của cha mẹ hai bên, nên chúng tôi mới vượt thoát khỏi những ngày hiểm nguy lúc lênh đênh trên biển cả, thừa chết thiếu sống trong những trận cuồng phong, và những bạo bịnh nơi hoang đảo! Những tháng ngày lê thê lếch thếch từ đảo nầy qua đảo khác. Gia đ́nh tôi gồm có 4 người (hai vợ chồng và 2 đứa con) giống và có lẽ c̣n tệ hơn dân Cái Bang (trong truyện Tàu của Kim Dung). Những thuyền nhân trên tuyến đường bay, từ nước tạm trú đến nước thứ ba để làm thân chùm gởi xứ người. Máy bay của chúng tôi đi, đă ghé qua Tokyo (Nhật Bản) để chờ chuyến bay qua Mỹ, và về tiểu bang theo lịch tŕnh chuyển tiếp đưa đến nơi định cư. Bấy giờ, phi trường Tokyo của Nhật Bản trong tôi! Trong tâm trạng của một người tị nạn Cộng Sản Việt Nam. Chúng tôi ĺa quê hương, bỏ lại nơi chôn nhau cắt rúng, nơi có mồ mả ông cha, nơi đă bao đời xây dựng đắp bồi bằng xương, bằng máu của tiền nhân, của Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Ḥa cho một Miền Nam Tự Do! Những nhà lớn, nhà nhỏ chung quanh phi trường Tokyo, làm tôi liên tưởng đến lúc c̣n bé thơ. Cứ mỗi lần nhà xài hết diêm quẹt, là luôn giữ lại cái hộp không cho tôi. Tôi thường dùng những cái hộp quẹt không nầy, chất chồng chúng lên nhau: cái cao, cái thấp, chơi tṛ cất nhà với các bạn cùng xóm. Cho nên những ngôi nhà cao, nhà thấp nguy nga tráng lệ của Tokyo tôi nh́n thấy xa xa, giống hệt như những cái hộp quẹt không của tṛ chơi trẻ con của thuở ngày xưa. Để rồi hôm nay đây, 30 năm sau chiếc máy bay 747 của Nhật, cất cánh lúc 10 giờ 45 sáng (giờ California) đưa chúng tôi, và những hành khách từ Mỹ (phi trường San Francisco) đến phi trường Narita Tokyo của Nhật Bản. Phải mất khoảng 11 giờ bay. Mặc dù giờ đây tâm hồn tôi thơ thới, vui vẻ, trên máy bay đầy đủ tiện nghi, có TV trước mặt (màn ảnh gắn trên lưng ghế người ngồi phía trước), có báo chí để xem. Phu quân tôi mang theo sách, máy DVD nhỏ để xem phim bộ, và tôi không quên nhét vào giỏ nào, quít, kẹo, bánh ngọt… Để nhai cho đỡ buồn cái miệng hay ăn vặt của ḿnh. Nhưng ngồi vài giờ, một chỗ th́ cũng tù túng nên cảm thấy uể uải lắm! Đồng hành với chúng tôi trong chuyến nầy c̣n có vợ chồng người bạn học từ thời c̣n Trung học, nên chúng tôi cảm thấy vững ḷng hơn khi đến một vùng xa xứ lạ. Phi trường Narita Tokyo, 3 giờ 30 chiều (giờ của Nhật, đi trước California của Mỹ 16 giờ). Khi cửa máy bay mở rộng, Nhật Bản đón nhận những đứa con ra đi v́ công việc, v́ tương lai… Nay họ trở về thăm, hay trở về góp sức xây dựng cho giàu đẹp hơn cố quán. Và cũng chào đón những người khách phương xa đến viếng thăm, ngắm xem những phong cảnh, những di tích lịch sử của nước Phù Tang nổi tiếng thế giới nầy. Sau phần thủ tục giấy tờ nhập cảnh, khám xét hành lư xong. Chúng tôi (4 người) đẩy 2 chiếc xe nào va-li, túi nải… và theo làn sóng người ra cửa chờ đợi. Nơi đó sẽ có người đón, và hướng dẫn đưa chúng tôi theo lịch tŕnh thăm viếng, trong chuyến du lịch 8 ngày ở đây. Mèn ơi, phi trường Tokyo của Nhật rộng lớn có thua ǵ phi trường San Francisco, Los Angeles, hay O’hare (Illinois) của Mỹ đâu. Nơi đón rước ồn ào trong tiếng reo mừng, cười nói, khi gặp lại thân nhân, bè bạn. Họ líu lăng cũng chẳng thua ǵ cái chợ. Trong hàng rào cách ngăn lối dành cho hành khách và người đến đón. Có nhiều người đứng chờ đợi sẵn, tay họ cầm tấm bảng có dấu hiệu, hoặc có tên, để kẻ đi rước và người được rước dễ nhận diện nhau. Tôi thấy phù hiệu hăng du lịch trên ngực áo của đôi cặp vợ chồng nọ, th́ nhận biết ngay là ngoài 4 đứa tôi ra, c̣n có 4 người nữa cùng đoàn du lịch với chúng tôi. Và trong hàng rào chờ đợi c̣n có rất nhiều hưởng dẫn viên du khách ở những hăng du lịch khác. Người đến chờ, kẻ đợi rước càng lúc càng thưa dần. Họ đi hết rồi! Nh́n qua, ngoănh lại chỉ c̣n có 4 con nai “già” ngơ ngác là chúng tôi thôi! Bọn tôi chia nhau đi lẩn quẩn t́m, và mong ngóng người hướng dẫn. Nhưng 10 phút, rồi 20 phút trôi qua… cũng chẳng thấy ai đâu? Thế là hai người “liền ông” trong bọn bắt đầu càm ràm. Ông chồng tôi b́nh thường ít nói, bỗng mở miệng: - Em mua nhầm cái hăng du lịch ǵ mà vô duyên quá trời! Biết có 4 du khách ở chuyến bay nầy đến đây, mà chẳng ai ra đón! Tôi cũng thắt thẻo, và bực muốn chết đây chớ bộ không sao mà cằn nhằn? Nhưng tôi làm thinh. V́ đó là cái tật của phu quân tôi. Nhớ khi xưa, nửa đêm gà gáy, Việt Cộng pháo kích ầm ầm vào thành phố. Tôi lo ẵm con xuống hầm núp th́ ổng lại cằn nhằn nào là: con nhỏ ở hồi chiều để em khóc, quần áo giặt không sạch, không xúc b́nh sữa… Hoặc là vợ ông không coi chừng cho con ăn no, hồi sáng đi chợ quên mua sữa cho con sắp hết… Tôi đang vừa lo sợ pháo giặc, vừa thấy ghét nhưng cố nhịn, ôm con vào ḷng không thèm trả lời ông ta. Để rồi sáng hôm sau đêm Việt Cộng pháo kích vào thành phố! Ai chết th́ chôn, ai bi thương th́ vào bịnh viện, nhà cửa ai hư hại th́ chống chỏi hoặc có tiền th́ tự bỏ ra mà sửa chửa lại… Việt Cộng pháo kích xong th́ chuồn mất, không cần biết ǵ đến cái đau khổ của họ gây ra cho dân lành! Khi sóng lặng gió yên, tôi nhắc chuyện hồi hôm ổng càm ràm tôi và người làm… Ông mỉm cười, không nói lời nào, lỏn lẻn bỏ đi chỗ khác. Bao nhiêu năm chung sống, tôi c̣n lạ ǵ cái tánh của chồng ḿnh. Và đến nay, mấy mươi năm sau chàng cũng không thay đổi! Cứ mỗi lần có chuyện ǵ lo, giận, tức… th́ ông chồng tôi hay càm ràm vợ, con. Ấy vậy, đó lại là cái hay cho gia đ́nh tôi. V́ bây giờ các con chúng tôi đă thành nhân. Đứa có chồng ở riêng, đứa đi làm xa lâu lâu mới về thăm nhà. Mỗi lần gia đ́nh đoàn tựu, được xum họp, trong lúc ăn uống th́ chúng thường hay nhắc những chuyện xưa. Thằng con trai lớn nhắc chuyện năm cháu c̣n ở Tiểu học. Lúc đó cháu bảo với ba cháu: - Ba ơi, chỗ rửa chén bị nghẹt rồi. Phu quân tôi chẳng nói rằng, đi t́m cây thụt ra thụt cho nước chảy thông. Thụt một hồi nước vẫn c̣n đọng. Ổng nổi nóng nói lớn: - Tại mẹ bây khạc cục đàm, nhổ vào trong đó nên mới bị nghẹt. Đứng gần nghe được, vừa tức, vừa mắc ghét tôi nhăn mặt, chỏ mỏ đớp lại liền: - Đừng có đổ thừa nghen! Tại nhà mướn nầy cũ mấy chục năm rồi, có biết bao nhiêu người ở trước ḿnh. Ồng nước nghẹt tại dùng lâu đời nên nó không chảy thông thương! Tôi nhổ cục đàm, chớ có phải là cục đá đâu mà bị nghẹt? Mấy đứa nhỏ nghe phá lên cười ngă nghiêng ngă ngữa. Ức ḷng lắm, nhưng tôi cũng cười ngất ngất. Ông chồng tôi cố làm thinh, nhưng nhịn không được, cũng bật cười thành tiếng lớn. Ḍng hồi tưởng tôi bị cắt ngang bởi có người hỏi bằng tiếng Anh với giọng lờ lợ. Tôi quay lại th́ ra người đàn bà ăn mặc chỉnh tề, đeo huy hiệu trên ve áo. Chắc chắn đó là huy hiệu, chức sắc, và phận sự bà ta ở phi trường nầy: - Các người từ đâu tới, và làm ǵ ở đây? Chồng của chị bạn tôi trả lời: - Chúng tôi từ Mỹ tới, chờ người hướng dẫn du lịch đến đón. Vừa nói đến đó, th́ người hướng dẫn cũng vừa chạy vào. Cô sổ một tràng tiếng Nhật với bà ta rồi quay qua xin lỗi chúng tôi bởi cô bị kẹt xe, và cô phải đến bên cánh khác của phi trựng đón 4 người, đang ngồi ngoài xe. Ra khỏi phi trường th́ phố xá đă lên đèn. Bầu trời âm u, tiết trời lành lạnh, cái lạnh dễ chịu của mùa xuân trên đất Phú Tang. Chúng tôi được đưa đến một khách sạn lớn, sang trọng nằm dưới chân đồi xoai xoăi. Người hướng dẫn làm thủ tục để chúng tôi nhận pḥng ngủ đêm nay (lúc đó đă hơn 7 giờ chiều). Cô dặn chúng tôi để hành lư trên pḥng, rửa mặt rồi xuống dùng bữa ăn tối. Hai lỗ tai tôi c̣n lùng bùng và điếc căm, mặt tôi lừ đừ, dă dượi v́ gió, v́ máy bay lên cao, xuống thấp, xuyên vào những đám mây dầy nên lắc lư của con tàu bay! Tôi dụi mắt mấy lần tưởng nh́n lầm khi bước vào pḥng ăn của khách sạn. V́ cả pḥng đa số là người Việt. Tôi nhận ra cô Loan Anh và phu quân mà có thời gian cô dạy ở trường Trung học Phan Thanh Giản (Cần Thơ). Thật không ǵ vui cho bằng, những người đồng hành trong chuyến du lịch nầy, c̣n là đồng hương của ḿnh nữa. Họ đến từ Nam California, Bắc California, Seattle (Washington), Sacramento (Thủ phủ của California) từ New York. Chúng tôi họp lại thành một đoàn có 34 người (chỉ 1 ngướ Mỹ, 6 người Tàu, không nói và nghe được tiếng Việt thôi). Theo thời khóa biểu, kèm theo giấy máy bay có từ khi hăng du lịch gởi đến tận nhà khoảng 2 tuần trước khi lên đường. Hôm nay, đoàn chúng tôi sẽ đi thăm viếng những phong cảnh, những di tích lịch sử xa xưa cổ kính uy nghiêm, và hiện đại vừa đẹp lại vừa mới lạ đă tạo cho nước Nhật nổi tiếng về nhiều mặt đứng nhứt nh́ trên thế giới. Chúng tôi đi thăm khu thương mại sầm uất ở Tokyo. Hàng hóa nhân công và chủ đều là người bổn xứ. Hàng hóa Nhật cái ǵ cũng đẹp, cũng xinh xinh, cũng trang nhă dễ nh́n hơn những hàng hóa vật dụng của ngoại quốc như Pháp, Ư, Anh, Ấn Độ… Nhưng nói về phần phẩm chất của hàng hóa bền, chắc th́ Nhật chưa chắc đă hơn các nước khác. Ở Nhật Bổn cái ǵ giá cũng cao, cũng mắc từ đồ dùng cho đến thức ăn, nước uống và phương tiện di chuyển. Thí dụ như: Một cái sống chén bằng nhựa (như cái rổ h́nh chữ nhựt, bên dưới có miếng nhụa để giữ nước rỏ xuống khi chén được rửa sạch úp lên). Tại khu chợ Nhật tính ra tiền Mỹ phải là 22 dola. Trong khi tại Mỹ, tôi chỉ mua giá b́nh thường là 4 dola 99 cents, cộng thêm thuế vào chưa tới 6 dola. Khi gặp lúc hạ giá c̣n rẻ hơn 1, hoặc 2 dola. Ở đây, một trái chuối già không lớn lắm phải 3 dola. củ khoai lang nướng bằng cườm tay (người ốm) cũng 3 dola. Thấy giá trái dưa hấu, bà bạn tôi thản thốt kêu lên: - Chu mẻ mẹt ơi! Ở Mỹ bán 6 dola tui không thèm mua c̣n dọa kêu lính bắt là đàng khác! Úi, nồi đất ơi, bà xem đi, trái dưa hấu mà 74 dola! Trái dưa tây, có nơi gọi là dưa hoàng kim (cantelope) 21 dola/1 trái. Bà khác cũng đi chung đoàn trề môi dài cả thước, lẩm bẩm: - Bộ điên sao mà mua? Đồ cái thứ mắc ma nầy bên Mỹ 1dola, hoặc 99 cents/1trái. Tươi rói, ngọt như đường, bự tồ bà dền tôi c̣n chê mắc không thèm mua nữa đó. Bởi có khi 1 dola 50 cents/2 trái. Tôi cười: - Biết mắc, nhưng người ta cũng phải mua để ăn chớ. Có như vậy, họ bán mới được. Về Mỹ mà thuật lại, chắc những người bên đó sẽ bảo ḿnh nói láo. Nhưng thật sự mắc quá! Có lẽ lương hướng của nhân viên ở đây cao lắm mới sống nổi! Ấy vậy mà đến bữa ăn chiều ở nhà hàng, các món trán miệng, trái cây tươi rất phong phú. Ngoài bánh ngọt, các loại sương sa ra c̣n có: dưa tây, dưa hấu, chuối già chín, cả trái vải đông lạnh nữa… Bà bạn cười tủm tỉm, kề tai tôi nói nhỏ: - Tụi ḿnh phải ăn thật nhiều, ăn hết mấy trái cây nầy, ăn cho bỏ ghét, ăn để trả thù! Tôi gật gật đầu cười hí hí đồng t́nh. Một chai nước lộc nhỏ bán trong máy, trung b́nh ở Mỹ 1 dola. Ở đất Phù Tang phải 4, đến 5 dola đó quư vị ạ. Đến Nhật mà quư vị đi taxi sẽ bị phá sản ngay. Taxi khoảng đường dài chừng 25 cây số thôi. Thần hoàng thổ địa ơi, tối thiểu phải trả 300 dola! - Quần, áo, tơ, vải vóc, giầy vớ, xách tay, đồ chơi bằng nhựa của trẻ con… Giá cái nào cũng cao ngất tận chính tầng mây xanh! Trong đoàn tôi, bà nầy kêu mắc, bà kia chê ỉ chê ôi. Nhưng rồi cũng có người mua. Và miệng họ cười tươi như hoa mới nở, bảo: - Nó tuy mắc thiệt! Nhưng quư ở chỗ là vật kỷ niệm! Có bà đứng sau lưng tôi, nói nhỏ: - Quư cái con khỉ đột! Quư th́ bà mua đi, cho chồng bà xách về nặng né thở, và về bển cày ra tiền ứ hơi cho chết luôn. Tôi cũng nói nhỏ: - Bả nói đúng thật mà! Là vật kỷ niệm, sau nầy chắc khó có dịp trở lại đây để mua. Có những chuyện nói ra th́ tôi cảm thấy hổ ngươi, nhưng nếu cười th́ nước mắt tôi sẽ chảy ṛng ṛng đấy quư bạn ơi! Số là tôi vốn thích ăn vặt hơn ăn bữa cơm chánh. Nhứt là ăn mấy thứ như hột bí ran, chuối chiên, hột điều, kẹo, khoai lang, chuối nướng, trái cây tươi… Thấy hột dẻ nướng (chestnut), hột nào hột nấy lớn bằng ngón chân cái, đă luộc chín rồi mới nướng và tách vỏ sẵn. Chỉ c̣n cái ruột, màu ngà ngà nằm phơi phới trong thùng kiếng, và mùi thơm phảng phất gợi thèm. Thật là hấp dẫn vô cùng! Tôi bèn dừng lại, dỡ hầu bao trả tiền là 550 yen/100gram (tiền Nhật, tương đương với 5 dola 50 cents Mỹ). Cầm bao hạt dẻ lên sao nghe nhẹ hều? Tôi liếc qua liếc lại không thấy ai nh́n ḿnh, vội mở bao hột dẻ ra đếm! - Nồi đồng nồi đất ơi! Chỉ thốt ra được bấy nhiêu đó thôi! Tôi trợn mắt trắng dă, mặt chừ bự, nh́n ông xă tôi lầm bầm: - Đồ mắc toi, phải biết trước mắc như quỉ th́ không thèm mua! Thật không có cái xứ nào bán mắc thấu xương như xứ nầy. Phu quân tôi cười h́ h́, chọc quê: - Phải ăn nhín nhín. Ăn từ từ nghe không. Chớ 1 dola 10 cents/1 hột đó! Nhưng em phải vui mừng mới phải, v́ cái biệt danh “Bà Tư Kẹo” của em đươc xóa bỏ sau khi mua hột dẻ nầy rồi. Nên không mắc đâu, xứng đáng lắm em ơi! Tôi liết xéo ổng, rồi nhoẻn miệng cười như mếu! Nhật Bản đất hẹp, người đông nên nhà cửa nhỏ, sang sát nhau. Mỗi chung cư th́ có mấy chục tầng. Cầu bắt ngang sông, cầu trên, cầu dưới cho xe chạy xuôi, chạy ngược chiều với nhau. Cầu nầy bắt chồng trên cầu kia, bắt chằng chịt để làm đường cho xe chạy. Có cầu bắt ngang qua eo biển, cầu bắt từ đảo nầy qua đảo kia. Các thành phố lớn, các chợ bán hàng ở tầng 1 tầng 2, tầng 3. Ở tầng lầu thứ 4 thường là nhà hàng. Khi c̣n thiếu thời, sống chung với cha mẹ, anh chị em, tôi là đứa nổi tiếng kén ăn nhứt nhà. Và bây giờ tuy có nhiều thay đổi, nhưng thú thiệt món ăn của Nhật không hợp khẩu vị với tôi chút nào! Món su-si bổ dưỡng mà người Nhật ưa thích. Và mỗi lần đi nhà hàng có món cá, tôm… sống ăn kèm với sa-b́ th́ các con tôi ăn ngon lành, ăn say sưa, ăn c̣n chắc lưỡi hít hà khen lấy khen để… và ăn nhiều như ma đói. Nh́n chúng ăn cá tôm không nấu, cái miệng tôi cảm thấy lạt nhách. Mọi thứ bán ở các chợ như là tôm, cá, thịt, rau, cải, đậu, bầu, bí… của Nhật tuy mắc, nhưng vệ sinh tối đa. Họ đả rửa sạch, bỏ những thứ hư, thứ úng… giữ ǵn sạch sẽ, tươi ngon, đựng trong bao ni-lon hàn kín lại. Chúng ta mua về để nấu, hay ăn sống ngay, không cần phải rửa lại. Người Nhật nói chung rất lịch sự, niềm nỡ, ăn mặc sạch sẽ, tươm tất, nói năng nhỏ nhẹ, giọng êm dịu, ngọt ngào… Cho dù là những người buôn bán cũng vậy. Họ bán không thách giá. Khách ghé tiệm xem hàng, dù biết khách không mua, họ cũng tiếp đón niềm nở vui vẻ, tươi cười, lịch sự. Chớ không khó chịu, đốt phong long, hoặc chửi đổng khách không mua, khi họ vừa quay lưng bước qua gian hàng khác. - Quư vị xem coi, nước Nhật văn minh, giàu thế nầy mà c̣n có kẻ ngồi cho người nai lưng ra kéo xe trông kỳ cục quá! Tiếng nói lớn của một ông trong đoàn. Làm mọi người quay sang và nh́n theo tay ông chỉ. Rồi một bà phụ họa: - Ờ hén, kỳ quá ai để cho người khác kéo ḿnh ngồi ở chỗ đông người toàn là du khách, nơi phố xá sang trọng như thế nầy. Thật là khó coi làm sao. Đúng như vậy, nơi đây là trung tâm của thành phố, phồn thịnh, sang đep và hầu hết những người qua lại trên đường là những du khách. Tôi cố t́m kiếm không thấy xe hơi hay xe gắn máy chạy trong khu nầy. Phải, nơi đây chỉ có xe kéo! Tôi dơi mắt nh́n theo những phu xe kéo của người Nhật. Có kẻ đang đứng vịn 2 càng xe với tư thế chờ khách. Có người đang kéo xe, và có người dừng lại cho khách xuống… Nhưng tôi ngạc nhiên và lấy làm lạ khi nhận thấy những phu xe nầy, y phục của họ khác lạ hơn những người dân bản xứ đang qua lại trên đường. Phu xe kéo đa số là những người trong lứa tuổi thanh niên, những người đàn ông trẻ. Họ có thân h́nh cao lớn, da dẻ hồng hào, khỏe mạnh, mặt mày rạng rỡ luôn nói cười tự nhiên vui vẻ. Trong ánh mắt họ, tôi không t́m thấy có vẻ ǵ ái ngại, hay mệt nhọc với công việc kéo xe. Với đôi tay gân guốc, rắn chắc, họ g̣ lưng kéo người ngồi trên xe. Họ chạy bon bon với hai chân vững, gọn gàng, lanh lợi, luồn lách tránh né người qua lại trên đường phố vào trọng điểm trưa chan ḥa ánh nắng và đông người. Tiết trời hôm nay dù nắng, nhưng rất dễ chịu v́ Nhật Bản đă vào chánh mùa xuân. Tôi ngẫm nghĩ, những phu xe kéo nầy kéo xe bằng chân tay mà xe chạy nhanh hơn những chiếc xe xích lô đạp, hay chiếc xe lôi đạp trên quê hương ḿnh thuở trước. Sự trang phục của phu xe kéo Nhật trông lạ mắt và hay hay. Họ mặc toàn màu đen viền một vài nơi trắng. Có người ở trần phơi những bắp thịt vai, tay rắn chắc chứng tỏ họ thường xuyên tập luyện thể thao, thể dục hay tập tạ… Họ mặc quần ngắn, ống hơi bó, dây thắt lưng bằng vải bảng lớn che gần đến ngực. Có người th́ khoác chiếc áo tay rộng, tay lở, cổ bà lai bản lớn cột choàng qua bên hông. Đầu đội nón rơm màu xám đen đương rất khéo. Nếu ai không đội nón th́ được cột một chùm tóc bằng dây màu. Và chân mang dép rơm. Nói tóm lại, những người Nhật kéo xe ở đây, ăn mặc, trang sức theo lối cổ truyền của họ từ thời xa xưa. Chiều về, xuống lấy nước uống, gặp một nhân viên làm việc ở văn pḥng khách sạn, tôi dọ hỏi. Cô ta cho biết (tôi không chắc có đúng không?). Những phu kéo xe đó là nhân viên khó khăn lắm mới được tuyển chọn làm nhân viên kéo xe. Họ hănh diện được kéo xe để giữ truyền thống từ thuở xưa, nhắc nhở dân trong nước. Và ngầm cho người ngoại quốc đến thăm biết rằng đất nước Nhật Bổn được như ngày nay là nhờ công khó, tận tụy, chịu cực, chịu khổ của người đời trước, mà người đời sau phải học hỏi, mở mang kiến thức… Để Nhật hôm nay có những chiếc xe hiện đại, dài, rộng, đẹp, đầy đủ tiện nghi, chạy rất nhanh. Chạy hơn 300 cây số/1 giờ mà họ gọi là Bullet Train. Đoàn du lịch của chúng tôi lên xe ở trạm nầy. Đến 15 phút sau, xuống ở trạm kia. Ông Tài xế đưa chúng tôi từ trạm lên, phải chạy cà-rịt cà-tang, mất gần 2 giờ mới đến trạm xuống để đón chúng tôi. Tinh thần Quốc Gia của người Nhật rất cao. Cả nước Nhật không nhận tiền của nước khác trong việc buôn bán. Thí dụ như Dola của Mỹ, baht của Thái Lan, euro của Âu Châu… Dù cho việc buôn bán đó có lợi cao, hoặc có người mua rất nhiều hàng hóa thu hoạch nhiều lợi ích… Nhưng nếu người mua không có tiền Nhật, th́ chịu thôi! Họ không bán. Trong khi chờ xe đến đón, người hướng dẫn cho biết chúng tôi có thể vào thăm khu chợ nơi trạm chúng tôi vừa mới xuống. Đây là khu chợ lớn có những căn ngăn riêng cho từng chủ bán hàng hóa trong một dảy nhà, có lầu cao, và chợ dài hàng mấy cây số. Tôi đi vào khu hàng quán ăn. Những món ăn trong mỗi quán đều được bày ra rơ ràng tùy theo từng món như ḿ xào gồm có những ǵ, và đúng màu sắc của nó. Thí dụ như: Trên những cọng ḿ vàng, có cải màu xanh cắt khút, dưa leo xắt sọc dưa, giá trắng, thịt hường, tôm đỏ… được bày trên dĩa. Hủ tíu được bày trong tô, cơm bày trong chén, nước uống bày trong ly… Và tất cả bằng ni long (bằng nhựa) để trong tủ kiếng trước các quán ăn, cho khách hàng thấy rơ. Khách hàng muốn ăn món ǵ cứ chỉ vào món đó là có ngay (rất tiện lợi cho những người không nói được tiếng Nhật). Người đàn ông Nhật có lệ, cứ mỗi độ chiều sau giờ tan sở, và nhất là những chiều cuối tuần. Họ la cà ở các quán ăn lớn sang trọng đắc tiền cho người làm lương cao. Quán nhỏ vừa túi cho người b́nh dân… Và quán nào cũng dập d́u khách hàng. Những người khách ăn mặc chỉnh tề, họ luôn mặc đồ lớn (suit) màu đen, đàn ông lẫn phụ nữ. Và họ luôn xách cặp-táp đen kè kè bên hông như làm việc ở văn pḥng (gần như tất cả mọi người dân bản xứ đều có lối ăn mặc như vậy). Tôi bèn hỏi nhỏ người hướng dẫn ngồi kế bên, trong lúc chúng tôi rổi rảnh. Cô nói chung để mọi người cùng nghe: - Người dân ở Nhật giàu hay nghèo khi bước ra đường họ luôn ăn mặc như vậy. Ở đây không phải ai cũng có xe riêng để đi. Phương tiện di chuyển tốt nhứt và thuận lợi là xe đ̣ (xe bus) đưa khách trong thành phố và các vùng lân cận. Vào những giờ đi làm việc, xe bus chen chúc những người nên chỗ ngồi thiếu, cho nên một số người phải đứng. Hành khách đứng luôn có một chỗ nắm nào đó để giữ thăng bằng khi xe di chuyển, khi xe ngừng lại, hoặc xe thắng gắp. Những tay nắm có từ trên mui tḥng xuống, hay những cây ngang, hoặc những cây dựng đứng trong xe. Cô hướng dẫn khi nói đến đây dừng lại. Cô nh́n trời rồi mỉm cười e thẹn trông rất dễ thương. Cô tiếp: - Nếu dùng một tay để nắm, c̣n tay kia ở không sờ bậy th́ phiền lắm! Cho nên họ luôn luôn xách túi nhỏ hay cái cặp táp ở tay kia như quư vị đă thấy. Và tại sao người đàn ông Nhật, sau giờ tan sở ít khi về nhà ngay? V́ họ lo ngại cḥm xóm sẽ nghĩ chê bai là họ bị vợ kềm kẹp, làm ít lương ba đồng ba cộc nên không đủ sài, hoặc là keo kiết… Và những người lân cận luôn có ư nghĩ là những người làm việc ở cấp cao mới nhiều lương, sau giờ làm việc th́ hay ở lại để họp hành, để tiệc tùng xă giao mới trở về nhà trể… Thường ngày, nếu họ đi làm việc về đúng giờ th́ các ông chồng sẽ mắc cỡ, và các bà vợ cũng sẽ mất phần hănh diện về chồng ḿnh với xóm diềng. Nghe cô hướng dẫn giải thích. Tôi thở ra, mỉm cười lắc đầu! Cô ta mở to mắt ngạc nhiên nh́n tôi, hỏi: - Bà nghĩ thế nào? Và tại sao bà cười? Không trả lời cô vội, mắt tôi mơ màng nh́n lên không trung. Nền trời Nhật hôm nay xanh biếc, xa xa đùn một vài cụm mây trắng mỏng. Nắng lụa của buổi hoàng hôn vẫn c̣n sáng rỡ trải trên vạn vật. Gió phất phơ lành lạnh, cái lạnh dễ chịu trên đất Phù Tang làm cho tâm hồn người phơi phới, tươi vui khi bắt gặp những chùm hoa anh đào nở sai cành, toàn một màu hồng nhạt, màu trắng gợn hồng… Cô Florence Tham (người Nhật gốc Tàu), là hướng dẫn viên của hăng Travel Grant Holidays. Phụ trách đưa đoàn chúng tôi thăm viếng suốt những ngày ở Nhật. Cô có giọng nói nhẹ, ngọt và líu lo như tiếng hót của chim sơn ca. Cô nh́n tôi như hối thúc và chờ đợi câu trả lời: - Bà nghĩ thế nào? Thưa bà Dư? Tôi không thay đổi nét mặt, cười nhẹ nh́n sâu vào mắt cô: - Mấy mươi năm trước, khi c̣n học ở Trung học. Tôi nghe người bổn xứ của tôi nói: “Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, cưới vợ Nhật”. Lúc đó tôi nghĩ rằng những người ở nước chúng tôi nói chơi trong lúc suông miệng thôi. Hôm nay nghe cô kể, tôi nghĩ những người đàn ông nước tôi khen phụ nữ Nhật thật chớ không sai chút nào cả. Cô hỏi tôi nghĩ ǵ về người chồng, sau giờ tan sở la cà ở các quán rượu đến khuya mới về, th́ vợ mới hănh diện với cḥm xóm? Tôi xin trả lời với cô rằng: Tôi không hănh diện chút nào hết cô ơi! V́ tôi không phải là một phụ nữ Nhật. C̣n cô th́ sao, Florence? Florence cười nhẹ, nh́n tôi: - Tuy tôi không phải người Nhật hoàn toàn, nhưng tôi ở đây từ thuở nhỏ nên về văn hóa, phong tục, tập quán ở xứ nầy ảnh hưởng tôi rất nhiều. Nhưng chúng tôi là lớp người trẻ, nên bây giờ có cuộc sống cởi mở hơn. Chúng tôi không c̣n bị ràng buộc khắc khe bởi những thói quen, hay tập quán quá lỗi thời xa xưa nữa. Ở Nhật có những người không nhà (homeless) ngủ dưới gầm cầu, ngủ trước mái hiên những nơi từ thiện, nhưng Nhật không có người xin ăn. Những người không nhà đó, họ sống đùm bọc lẫn nhau. Sáng sớm họ đi lượm lon, vỏ chai, báo cũ, đi lượm cá, rau, cải… Làm tất cả những chuyện ǵ có thể làm được mà không phạm pháp… để kiếm sống qua ngày. Họ xấu hổ ngữa tay xin tiền người khác. Mặc dù Chánh phủ không giúp ǵ cho họ (theo lời người hướng dẫn đoàn du lịch). Họ giữ ǵn tắm rửa sạch sẽ như người b́nh thường. Những hộc tủ có khóa ở các chợ lớn cho mướn là nơi họ gởi áo quần và những tư vật quư giá. Thật sự, những ngày ở Nhật tôi không thấy người xin ăn lẻ tẻ ở đầu đường góc phố, hoặc tụ tập lại những nơi có môi trường thích hợp để kiếm sống như ở các sân chùa chiền lớn, các nơi công cộng có nhiều kẻ thập phương thăm viếng giàu ḷng từ thiện. Những người đă đi thăm nước Nhật về nói lại là núi Phú Sĩ khó thấy rơ, v́ tuyết phủ quanh năm, khí hậu lạnh lẽo, ẩm ướt nên lúc nào cũng có sương mù. Cho nên v́ thời tiết, ít khi du khách được đến gần chân núi… Chỉ thấy dạng núi xa xa, ảo ảo, mờ mờ mà thôi. Nhưng bầu trời hôm nay rạng rỡ. Mới 8 giờ sáng mà mặt trời đă lên cao, trải ánh sáng tươi vui khỏe mạnh và phản chiếu lóng lánh những giọt sương đọng trên hoa lá khóm cỏ cḥm cây. Cảm nhận được ngoại cảnh, đoàn người chúng tôi lên đường thăm Phú Sĩ sơn và những phong cảnh khác, mặt mày ai nấy tươi rói, nói cười vui vẻ rộn ràng. Ở chân trời xa đă thấy dạng những ngọn núi chất chồng, cái cao, cái thấp, cái xoăi dài như người đang nằm nghỉ ngơi. Người hướng dẫn chỉ cho mọi người hướng núi Phú Sĩ. Chị bạn ngồi kế bên khều tôi, bảo nhỏ: - Phú Sĩ sơn đẹp quá hả chị? Thật là đặc biệt. Tôi cười, nh́n chị hỏi: - Đặc biệt chỗ nào đâu? Chị nói cho tôi nghe coi. Sao tôi không thấy ǵ hết trọi vậy? Chị ta nguưt tôi cười, trả lời: - X́, chị không biết th́ ai biết? Nhưng chị nh́n xem xe chạy ṿng qua, ṿng lại khi th́ thấy núi Phú Sĩ ở cạnh nầy, khi ở cạnh kia. Nhưng nó vẫn đều đặng, tṛn trịa vun chùn lên như nhủ hoa của thiếu nữ “mười bảy bẻ găy sừng trâu” căng đầy sức sống… Nghe chị thí dụ dí dơm, tôi bật cười thành tiếng. Cả hai không nói lời nào, nhưng như ngầm hiểu, cùng gục đầu cười rũ rượi. Những người ngồi gần có thể nghĩ: “Hai con mụ nầy chắc là có ḷng dạ tà gian chi đây? Cho nên sắp đến núi linh thiêng th́ cả hai bị quở, nên đă tửng tửng rồi”. Tôi ngưng cười, reo lên với chị: - À, tôi cũng t́m ra chỗ đặc biệt của nó. Chị xem, tất cả các ngọn núi gần Phú Sĩ sơn đều có mà xám đen, hoặc xám mốc. Chị nh́n kỹ coi, có đúng không? Chị gật gật đầu và chăm chú, nh́n theo tay tôi chỉ: - Chị thấy đó, núi Phú Sĩ có màu xám ở từ chưn lên gần đến lưng chừng núi th́ gần như không c̣n là màu xám nữa, nó ngă màu xanh dương đậm, tươi. Chị hăy nh́n rơ xem. Sao, thấy có đúng không? Phần trên th́ vun chùn có màu trắng đục như vôi, và h́nh thể núi như cái nón lá khi ta nh́n ngang. Nửa phần trên th́ tuyết phủ. Tuyết phủ muôn đời và được ánh thiều quang phản chiếu tạo cho Phú Sỉ sơn chói lọi, ngời màu sáng xanh thật tuyệt! Thật tuyệt quá! Trên thế gian có lẽ chúng ḿnh khó thấy được cái núi thứ hai đẹp như vậy. V́ nước Nhật đất ít, dân lại đông nên nhà cửa chen chúc. Chỉ cần hai bên núi có chỗ đất thấp hơi bằng, dù không rộng lớn, cũng có nhà. Cho nên xe chạy thường trên các cầu nầy nối tiếp cầu kia nhứt là ở các thành phố lớn. Xe chở du khách qua những cánh rừng thưa, qua núi non hùng vĩ, qua những bờ biển nổi tiếng của Nhật. Đoàn chúng tôi đi thưởng lăm những di tích lịch sử, những danh lam thắng cảnh đă làm Nhật hănh diện về mọi mặt giàu, đẹp. Trên nước Nhật ngoài những bông hoa do người trồng được chăm sóc cẩn thận để có hoa nở 4 mùa, c̣n có những loại loa rừng cỏ dại ở nơi hoang dă. Và trong câu chuyện nào đó, có người nhắc, hoặc hỏi về nước Nhật có ǵ đặc biệt? Th́ mọi người đều biết, nước Nhật có Phú Sĩ sơn. Chánh phủ Nhật khôn khéo đem trồng tặng cho rải rác các nước trên thế giới cả vườn hoa anh đào. Tạo thành ấn tượng đẹp để khi nghĩ đến Nhật ngoài Phú Sĩ sơn ra, mọi người đều biết ở Nhật Bản c̣n có hoa anh đào. Gần như ở Nhật, những nơi công cộng, nhà cửa của tư nhân, rải rác trên khắp các phố xá nào, con đường nào cũng trồng cây anh đào. Hoa anh đào có nhiều loại: Loại có cánh hoa lớn, nhỏ, cánh dầy, cánh mỏng, loại hoa nở bao chung quanh cành, nở từng chùm trút xuống… Cùng nhiều màu sắc: hồng nhạt, trắng, tím tái (như màu lá cẩm), hồng phấn, trắng hồng… Hoa anh đào nở sớm hay muộn là tùy theo thời tiết nóng lạnh của mỗi vùng. Những cây anh đào mọc lẫn lộn trong cỏ cây trên những cánh rừng thưa, những rặng núi chập chùng ngọn nầy nối tiếp ngọn kia. Cái cao, cái thẩp của núi có màu xám da chuột, có cái màu xám tro nhạt, có cái màu xám đậm… Tất cả nằm mơ màng dưới ánh nắng hồng tươi lơi lả theo ngọn gió đùa trải dài lên những cành hoa anh đào màu sắc rực rỡ nở rộ chen trong đám cỏ cây rừng như bức tranh thêu hoa bỏ màu tài t́nh nổi tiếng của phụ nữ ở Tô Châu (nước Tàu). Trước cánh thiên nhiên như vậy, dù cho người khó tánh đến đâu cũng không khỏi thầm khen và ca ngợi hoa anh đào. Th́ nói chi đến những cây hoa anh đào được trồng kế mái hiên, trong sân, dọc theo hàng rào thâm nghiêm của chùa, có những cành hoa phơi phới, màu trắng phau phau lung linh trong gió, trong nắng. Ngoài ra trong khuôn viên khu đại học, trước các thánh đường, giáo đường, trong đền đài cung điện của vua chúa toàn là hoa, là hoa, là hoa anh đào. Đi đến đâu, chúng ta cũng thấy hoa anh dào màu sắc kiêu sa dưới trời quang đăng trong buổi sáng mai c̣n mờ màn sương sớm. Hay trong buổi trưa ngập ánh thều quang. Hoặc trong buồi hoàng hôn mặt trời ngă bóng, chiếu sáng những tia nắng màu sắc rực rỡ rồi tắt ngấm nhường cho vầng trăng ngạo nghễ vươn cao, và hoa anh đào tắm trong ánh trăng sáng dịu dàng tăng thêm phần đẹp xinh thanh tú. Người Nhật c̣n trồng hoa anh đào bên những bờ hồ, dọc theo đôi bờ những con kinh đào dài hung hút. Dưới ḍng kinh nước trong xanh biếc chảy lửng lờ. Những chiếc du thuyền đưa khách thường lăm, được che mát bằng những nhánh, những cành, những cội hoa anh đào từ hai bên bờ đang khoe sắc thắm gie ra. Những chiếc du thuyền trang nhă do người chèo, bơi hay thả trôi theo ḍng nước nhàn nhă đó c̣n văng vẳng có tiếng đàn, tiếng sáo trầm bổng, du dương. Và những kiều nữ mặc kimono có dáng điệu nhẹ nhàng, xinh đẹp, giọng nói thỏ thẻ như gió thoảng, như chim hót … Tạo cho hoa anh đào đă đẹp c̣n có phong thái cao sang., Ngoại ô, những thành phố thường có những khu vườn trồng toàn cây anh đào rộng lớn hàng mấy mẫu. Vào mùa những ngày hoa nở rộ, người bổn xứ đến đây từng đoàn đông người, từng hộ gia đ́nh để giải trí sau những ngày làm việc vật vả lao tâm, tổn sức. Họ ngồi dưới gốc hoa anh đào uống rượu sa-kê, ngắm hoa, hàng huyên, ngâm thơ, ca hát… Những người đàn ông Phù Tang mặc áo quần theo lối cổ truyền, phụ nữ thường mặc Kimono. Những cảnh sắc trên, đă tạo tạo du khách có ấn tượng đẹp về hoa anh đào, trong mỗi lần nhắc đến. Dưới nắng xuân ấm, gió xuân mơn mang làm cho tâm hồn viễn khách thêm bồi hồi xúc động. Tôi chụp mấy tấm ảnh dưới cội hoa anh đào ở Osaka Castle để làm kỷ niêm. Phu quân tôi không kềm được nỗi trào ḷng trước cảnh đep và hùng vĩ của núi non cùng những cây anh đào cành đầy những chùm hoa mới nở, dưới bầu trời trong, có nắng hồng ướm nhẹ, có lác đác những cánh hoa rơi lao chao rồi bay bay trong nắng gió mùa xuân. Ông khe khẽ ngâm mấy câu thơ của Thôi Hộ: “Khứ niên kim nhật thử môn trung/ Nhân diện đào hoa tương ánh hồng/ Nhân diện bất tri hà xứ khứ/ Đào hoa y cựu tiếu đông phong”. Trong ḷng tôi, dù cây anh đào của Nhật có hoa đẹp trong hoàn cảnh nên thơ, hữu t́nh. Nhưng hữu dụng của cây anh đào không bằng cây ô môi, màu sắc hoa anh đào không đẹp bằng hoa ô môi của quê hương Miền Nam nước Việt tôi. Nhứt là ở những sông rạch, ao bàu, những con kinh vùng Đồng Tháp Mười, miệt Sa Đéc, hướng về Cao lănh, Mỹ Tho... Nhưng trước những cảnh sắc thi vị, tao nhă đă được thêm phần khéo léo của nhân tạo. Th́ hoa anh đào của xứ Nhật Bổn cũng không làm sao không có những huyền thoại đẹp làm nổi tiếng khắp nơi cho được. Nắng mai trải lên hoa lá, cỏ cây lung linh những giọt sương đêm c̣n đọng. Từ trên tầng lầu thứ 15 nh́n xuống. Tôi bồi hồi xúc động trước vùng Kobe qua trận động đất năm xưa! Mà truyền thông, báo chí một thời đă khóc, đă nói đến cái đau chung của nhân loại.! Trận thiên tai lớn đó đă tàn phá gần hết thành phố Kobe. Và khoảng 6,000 người bị chôn vùi trong trận động đất khủng khiếp ghê gớm nầy! Hôm nay, tôi đến thăm Kobe là một thành phố trẻ, một thành phố mới được xây cất, được dựng lên hiện đại nguy nga, và tráng lệ hơn xưa. Kobe sản xuất rượu Sake, ḅ Kobe (Kobe beef) được nuôi bằng bă rượu Sake. Thịt ḅ Kobe mềm mại nổi tiếng đó đây là ngoài ăn bă rượu Sake ra, một phần chúng đă bị tra tấn (đánh đập cho mềm ḿnh) thường xuyên. Con ḅ bị dần, mà người miền Bắc nước ta c̣n gọi là tẩm quất. Nên thịt ḅ Kobe có màu đỏ sặm, mềm, béo, không nhảo. Du khách đoàn chúng tôi đến ngày cuối du lịch ở Nhật, vào buổi ăn chiều, ngoài những món b́nh thường được ăn tự do, mỗi người chúng tôi được đăi 2 miếng thịt Kobe beef. Mỗi miếng bề ngang bằng 2 ngón tay (của người ốm kẹp lại), dầy chừng 1 phân, dài chừng 1 tấc. Ai muốn thêm phải đặt 4 giờ trước khi ăn. Mỗi 200 gram là 90 dola (tính theo tiền Mỹ hiện tại). 1/kg thịt ḅ Kobe phải 450 dola Mỹ. Vừa nghe cô hướng dẫn dứt lời, bà ngồi cạnh tôi mở to mắt, trề môi, bẻ miệng, vo vảnh: - X́, ăn vàng sao mà mắc thấu trời vậy? Bộ họ tưởng bọn ḿnh “sộp” lắm, nên muốn cắt cổ mổ bụng người ta? Thiệt là cái xứ đập đổ quá mà! Tôi cười tiếp theo lời bà ta: - Chớ họ có ngờ đâu ḿnh là “trùm ṣ” hả? Bà ta không hài ḷng câu nói của tôi: - Không phải “trùm ṣ” đâu! Tại v́ tui thấy không đáng đó mà! Tôi cười thay câu trả lời với bà ta. Vặn lửa ḷ cho lửa thấp xuống, tôi lấy 2 miếng thịt ḅ Kobe để lên vĩ nướng một cách cẩn thận. V́ nếu lỡ tay làm rớt, hay nướng khét th́ toi mất ít nhứt cũng 50 dola chớ bộ! Nướng vừa ăn được là tôi gắp để vào dĩa phu quân tôi. Ông đă thủ sẵn lon bia, chờ tôi nướng xong là nhâm nhi ngay. Tôi vừa nướng phần thịt ḅ của ḿnh vừa cười, bảo: - Hai miếng thịt ḅ mắc lắm, phải thưởng thức từ từ, coi nó ngon ra sao mà mắc dữ thần ôn vậy! Phu quân tôi chẳng nói rằng, cắt miếng nhỏ thịt ḅ để vào miệng nhai nhỏ nhẻ như cô dâu mới cưới ăn cơm bữa đầu với họ nhà chồng. Mắt chàng lim dim, hớp ngụm bia, rồi lại tiếp tục… Tôi nóng ruột muốn nghe xem chàng nhận xét thế nào về ḅ Kobe? Nhưng hai thẻo thịt ḅ của tôi nướng cũng vừa chín tới. Tôi ngồi xuống chẩm rải cắt miếng nhỏ, để vào miệng thử xem ra sao? V́ từ xưa đến nay, vốn vĩ tôi không hảo thịt ḅ. Định bụng thử một chút thôi, sẽ tặng hết phần c̣n lại cho phu quân tôi. Nhưng xin lỗi nghen! Tôi đă ăn hết rồi! V́ thịt ḅ Kobe ngon vô cùng kể! Ngon thật đó! Tôi phải bắt chước truyện phim Tàu, và nói không chút ngượng miệng: “Ôi, thịt ḅ Kobe đúng là mỹ vị, là cực phẩm thời nay của nhân gian!”. Kobe c̣n là nơi của người phát minh ra máy “Karaoke”. Vào năm 1971, do nhạc công Daisuke Inoue (Tinh Thượng Đại Hữu) chuyên đệm trống ở ngoại ô Kobe (Thần Hộ, gần Osaka, phía Nam Nhật Bản) nghĩ ra. Những ngày ở Nhật tôi được ăn những món ngọn, vật lạ. Tôi được ngồi ăn trên sàn gỗ, có bàn trước mặt, và hai chân được thọt dưới gầm bàn như người bổn xứ. Mà từ lâu tôi cứ tưởng họ ngồi xếp bằng trên sàn nhà! Tôi cười thầm và nghĩ, thiệt là ḿnh quê quá đi thôi! Mặc dù khẩu vị của tôi không thích hợp những món ăn nấu và gia vị theo kiểu Nhật cho lắm. Nhưng phần ăn của mỗi người Nhật, nếu chúng ta ăn và uống hết th́ no, và có đầy đủ các chất dinh dưỡng. Nhưng riêng tôi không ngại ngùng tâm t́nh với quư vị rằng, cha mẹ sanh ra tôi vốn dĩ đă có “Ḿnh hạc, xương cối đạp” rồi. Nên sau khi ăn không bao lâu, th́ tôi cảm thấy cái bụng của ḿnh lỏng lẽo quá chừng chừng đi thôi! Dù ở Nhật cũng có pizza, hambrerger (Mc Donald), có bánh ḿ thịt nguội… Nhưng mấy món nầy ở đây có mùi, vị rất khác biệt. Nếu có đi thăm Nhật lần nữa, nhứt định tôi sẽ thủ theo mấy gói ḿ là thượng sách. Chúng tôi đi thăm viếng bảo tàng viện, đền đài, cung điện của những vị vua, những ngôi chùa cổ kính có từ mấy trăm năm trước, thăm di tích lịch sữ, thăm Phú Sĩ Sơn, ngắm anh đào vào mùa hoa nở rộ. Đi xem những phụ nữ Phù Tang mặc áo Kimono và một ít thay đổi theo ḍng thời gian của lịch sử. Chúng tôi thăm nơi làm rượu Sake. Đi thăm nơi sản xuất và xuất cảng ngọc trai (hột bẹt). Những viên ngọc trai sáng ngời ánh hồng, ánh bạc, xanh đen, xanh xám, xám trắng, trắng xanh, trắng tím… Mà người Nhật lấy từ những con trai (đồng loại ṣ, hến) thiên nhiên ngoài biển cả, và những con trai được nuôi. Ngọc trai cũng đắc giá lắm! Chỉ có 1 viên ngọc trai mà 15 ngàn dola, 17 ngàn dola là chuyện hết sức b́nh thường. C̣n một sâu chuỗi ngọc trai từ 10 ngàn dola trở lên được bày nằm la liệt trong tủ kính. V́ là nữ trang mà! Những ngày thăm viếng Nhật, chúng tôi được ngủ trong những khách sạn tốt (4, 5 sao), đầy đủ tiện nghi và hiện đại. Bàn cầu được gắn máy điều ḥa ngồi cho ấm, hay mát tùy ư ḿnh điều chỉnh. Có ṿi nước tự động dưới bàn cầu. Để chúng ta muốn rửa bằng nước… Nhưng những nơi công cộng của Nhật chỗ tiểu tiện phía phụ nữ luôn ngồi chồm hổm. Ít khi có bàn cầu ngồi cao như ở khách sạn. Nếu có chỉ một hay hai cái thôi. Thường th́ các pḥng vệ sinh nơi công cộng không để giấy vệ sinh (giấy mắc quá chăng?). Ḿnh phải biết, và luôn thủ sẵn giấy trong túi áo. Chiều nào về khách sạn, tôi cũng giặt bằng tay 2 ống quần ở phía dưới (gần lai). Bởi quần mặc dù về thay ra sẽ để chung và riêng trong bao với những áo quần đă mặc rồi, nhưng tôi vẫn ngại nó dơ hơn. Nhưng khi ra phi trường về Mỹ. Nơi chờ đợi của những hăng hàng không ngoại quốc ra vào nước Nhật (không phải những đường bay nội địa). Cầu vệ sinh bên nữ phái, ngoài những bàn ngồi cao, c̣n có chỗ ngồi chồm hổm! Lấy làm lạ, tôi hỏi một bà Nhật lớn tuổi làm vệ sinh ở đây? Th́ ra, người phụ nữ Nhật mặc Kimono, ngồi chồm hổm tiện cho họ hơn ngồi cầu có bàn cao. Tôi đến Tokyo lần nầy với tánh cách du lịch, với tâm trạng của một du khách! Theo nhận xét của riêng tôi, nếu đi du lịch ở Nhật mà tự túc (tự mướn xe, tự mướn khách sạn, tự lái đi ngoạn cảnh) như đi những nước khác th́ thật là không nên. V́ ở Nhật, mọi thứ gia cả quá đắc đỏ! Chuyến du lịch Nhật Bản 8 ngày, với tôi thật thoải mái, thật hài ḥa từ ăn ở cho đến thăm viếng những danh lam thắng cảnh. Thật xứng đáng với phí tổn, mà chúng tôi đă bỏ ra trong những ngày du lịch ở Nhật Bản. Theo tôi biết, rất nhiều hăng có đại diện lo mọi thủ tục cho người đi du lịch ở Nhật Bản. Những hăng du lịch lớn có văn pḥng đại diện đặt khắp nơi. Muốn đi du lịch, chúng ta phải hỏi thăm nhiều hăng, chọn những hăng du lịch tốt, giá cả phải chẳng và nhứt là được vừa ư trong suốt những ngày viếng thăm. California, đầu xuân năm 2007 Tệ xá Diễm Diễm Khánh An DƯ THỊ DIỄM BUỒN
|
Vài H́nh ảnh ở Nhật Bản

H́nh trên cảnh Phú Sĩ Sơn

Cảnh Một Vườn Hoa tiêu-biểu của Nhật (Japanese Garden)
Cô hàng bánh Nhật
Chùa và sư Phật giáo Nhật
Đôi du khách Việt ( từ Sydney) trên xứ Nhật
Video : Khánh Ly tŕnh diễn ở Nhật : Hát Diễm Xưa bằng tiếng Nhật