NẮNG CHIỀU TÀN TẠ
Truyện ngắn năm 2003
Của
Linh mục Đaminh Nguyễn Đức Thông CSsR
Mục lục
VẪN CÒN MỘT NGƯỜI HƠN THẾ
CÁNH MAI VÀNG NỞ MUỘN
MỘT MÙA ĐÔNG GIÁ
NẮNG CHIỀU TÀN TẠ
ĐƯỜNG LÊN HẠNH PHÚC
HOA PHƯỢNG TRÁI MÙA
NHỮNG MẢNH ĐỜI VỤN VỠ
NHỮNG CƠN MƯA CUỐI MÙA
VẪN CÒN MỘT NGƯỜI HƠN THẾ
-Alô, cha đó phải không ạ!
-Phải, ông trùm Thăng đó hả? Có chuyện gì không ông?
-Dạ, ông Chín Đèn Cầy chết rồi, con đã cho người mua quan tài, tẩm liệm rồi. Bao
giờ chôn?
-Phải chờ con ông ta về chứ! Ông đã phôn cho cô ta chưa?
Chiều nay cô ta về, khi nào cha định thăm ông ấy? 7 giờ tối nhé ? Con vào đón
cha.
-7 giờ tối à? Không được rồi ông ơi, kẹt giáo lý Hôn nhân rồi, 9 giờ đi!
- 9 giờ tối quá cha ạ! 8 rưỡi đi, cha cho họ về sớm tí vậy!
- Thôi được, 8 rưỡi vào đón tôi nha! Chào ông.
Cúp điện thoại, cha sở ngồi đăm chiêu một lúc rồi thở dài, nói bâng quơ: tội
nghiệp ông cụ, vợ con không có… nhưng thôi thế cũng xong.
Chín Đèn Cầy là một ông lão dong dỏng cao, dáng hao gầy, không có đạo nhưng tha
thiết với dân làng và quan tâm tới xã hội. Từ khi chuyển về đây, ông vẫn ở một
mình, nên cha sở nói với giáo dân quan tâm giúp đỡ ông. Mãi đến khi gần chết,
ông mới cho biết, ông chỉ có một người con gái duy nhất đang sống tại Mỹ.
Tháng Mười, mới 5 giờ chiều, trời đã nhá nhem. Đúng 8 giờ, mưa bắt đầu lác đác,
gió se lạnh. Làng ở xa đường, vốn đã hoang vắng, đêm mưa lại càng hiu quạnh hơn.
Đường vắng tanh. Phố im lìm, lác đác một vài nhà cửa khép hờ, đèn leo lét. Chỉ
mỗi căn nhà cuối làng, hôm nay tự nhiên sáng hơn mọi khi. Lá cờ tang ủ rũ vắt
ngang cánh cửa sổ, thỉnh thoảng lại lất phất theo chiều gió. Tắt máy xe, hai
người bước vào nhà. Bên cạnh quan tài, một phụ nữ trạc 40 tuổi, che miệng ngáp.
Thấy khách vào, cô mệt mỏi đứng dậy chào.
- Chào cô Hai, tôi là cha sở họ đạo này. Còn đây là ông trùm Thăng.
- Chào cha, chào ông trùm.
- Chúng tôi xin được chia buồn với cô.
Chờ cho hai người thắp nhang cho cụ xong, cô Hai mời ra bàn uống nước.
Mưa bắt đầu nặng hạt, gõ đều đều lên mái tôn những tiếng trầm bổng u buồn. Cả ba
ngồi im lặng, ngậm ngùi nhìn khuôn mặt hao gầy của người đã khuất, trong ánh nến
lung linh khi mờ khi tỏ.
Cô Hai nghẹn ngào nói: con cám ơn cha đã giúp đỡ ba con. Thế là xong, từ nay
không bao giờ con còn có thể gặp lại con người tuyệt vời này nữa. Nước mắt cô
trào lên khóe mắt, lăn dài xuống gò má. Cô nức nở tiếp: mẹ con chết sớm, chỉ có
hai cha con. Ong rất khó nhưng lại rất tuyệt vời. Khi còn nhỏ, con rất thích đi
xe đạp. Ông không cho, ông bảo: con còn nhỏ đi xe lỡ té gãy chân gãy tay khổ cả
đời. Con vẫn cứ thích. Có lần bạn ba con đi xe tới, thấy hai người say sưa nói
chuyện, con lén lấy xe thả dốc. Xe phóng nhanh quá, không biết thắng chỗ nào,
hoảng, té lăn mấy vòng. Ong ở đâu chạy tới, bồng con lên, ấp vào lòng. Bà cô con
cũng chạy tới, la lối om xòm: đánh cho nó một trận, con gái con đứa hư! Ong bảo:
- Nó đã té đau, còn la lối nó!
Ông luôn miệng nói với con: con phải nghe lời ba, phải học cho giỏi. Con mà
không chịu học ba đuổi cổ khỏi nhà.
Học khổ quá. Lớp 9 còn gần nhà, lớp 10 phải ra phố. Trường cách nhà 7 cây số, đi
học bằng xe đạp, mệt quá, con đòi nghỉ, ông không chịu. Con cứ nghỉ, không dám
về, ở tạm bên nhà bạn. Chiều không thấy con về, ông đi tìm, gặp con ông bảo: con
không muốn học nữa thì thôi. Về nhà, muốn học nghề gì, ba cho học nghề ấy.
Nhà con học may, có một anh chàng cứ theo con hoài. Anh đẹp trai nhưng côn đồ
lại hay say sỉn. Biết chuyện, ông khuyên bảo, con không nghe. Ong làm dữ, đe
doạ:
- Mày mà cứ quen nó tao giết cả hai.
Con sợ, nhưng vẫn cứ thương, lén lút hẹn hò. Biết chuyện, ông lại bảo: ba đã nói
hết lời, nhưng nếu con còn thương nó, không thể bỏ nó được, muốn làm đám cưới,
ba lo, sau này khổ đừng trách ba.
Lấy chồng được ít tháng, vừa lúc con có mang, là anh chàng lại bắt đầu chứng nào
tật nấy, đánh đập con tàn nhẫn. Chịu hết nổi, con bỏ về với ông.
Vừa thấy con xách đồ đạc về, bà cô con từ bên nhà chạy sang, xỉa xói: mày còn
vác mặt về đây làm gì cơ chứ ! Ai bảo cũng không nghe, bây giờ đã sướng chưa!
Thấy thế, ông nghẹn ngào nói:
-Thôi khổ quá, thì về ở với ba, ba lo cho đám khác.
Rồi ông kiếm cho con một người khác. Anh là một Việt kiều, hiền lành, học thức…
bây giờ thì thôi, không bao giờ con còn có được một người cha tuyệt với như thế
nữa. Cô lại gục mặt nức nở.
Bên ngoài trời đã hết mưa. Cha sở đặt tay lên vai cô nhẹ nhàng nói:
- Ông cụ đúng là một người cha tuyệt vời, chỉ biết lo cho hạnh phúc của con.
Thật đáng tiếc cho cô! Nhưng vẫn còn một người cha tuyệt vời hơn thế. Cha của
chúng tôi và của cả cô nữa.
Nói xong, cha sở từ giã ra về. Về tới nhà xứ, trong bóng đêm dầy đặc, ông trùm
Thăng nhìn vào vùng sáng toả ra từ chiếc đèn xe gắn máy trước mặt, nói: “vẫn còn
một người cha tuyệt vời hơn thế, vậy mà từ lâu con không biết!”
Mỗi năm cứ vào mồng bốn Tết, các giáo xứ thuộc giáo phận Xuân Lộc lại tổ chức
cầu nguyện cho các tu sĩ, lúc đầu cho những người đã khuất, sau cho cả người
sống. Các cha sở còn có sáng kiến biến ngày ấy thành ngày họp mặt các tu sĩ
trong xứ nhằm cổ vũ cho ơn gọi tu trì, sáng thánh lễ, trưa liên hoan.
Sáng nay, lễ xong trở về, Minh một tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế, vốn vui vẻ hoạt bát
bỗng trầm ngâm khác thường. Về đến nhà, anh vào phòng ngay, khoá chặt cửa. Dũng,
anh ruột Minh vẫn có thói quen, cứ mỗi lần Minh về lại sang uống càphê, chuyện
trò cả hơn tiếng mới chịu về. Càphê đã lạnh tanh, Dũng đã đốt hết hơn nửa gói
thuốc mà cửa phòng Minh vẫn im lìm bất động. Mấy đứa cháu ba, bốn tuổi vẫn
thường đùa giỡn với Minh, nghịch ngợm, đập cửa, la hét, vẫn không một tiếng trả
lời. Thấy lạ, Dũng không còn kiên nhẫn được nữa, đến gõ cửa gọi:
- Càphê, Minh ơi!
Không đáp lại một tiếng, Minh lặng lẽ mở cửa, miễn cưỡng bước ra bàn, ngồi mơ
màng theo khói thuốc. Dũng chột dạ, tự hỏi hay Minh đã biết chuyện mình. Bá, con
trai út của Dũng, út ít được cưng chiều quá, hóa hư, dính vào ma túy. Vì sĩ diện
và vì muốn giữ thanh danh cho gia đình có thầy, có soeur, Dũng ém nhẹm, không
cho ai biết. Tháng trước, Bá sang thăm nhà chú út, dắt mất chiếc xa đạp đem bán,
chuyện đổ bể, nhưng Dũng đã khôn khéo dàn xếp với chú em cho êm cửa êm nhà.
“Minh biết chuyện Bá rồi sao?” Dũng tự hỏi. “Ai đã cho nó biết?” Dũng quyết định
phải tìm cho ra lẽ.
Thấy Minh mắt vẫn đăm chiêu, hai tay vẫn ấp chặt lấy ly càphê, Dũng hỏi:
-Uống càphê đi chứ… Hình như chú có chuyện gì không vui thì phải?
Minh giật mình bừng tỉnh, đáp:
- Chuyện chẳng có gì quan trọng, nhưng sao em cứ băn khoăn mãi. Sáng nay lễ
xong, nói chuyện với mấy đứa dòng Đaminh, dòng Phanxicô, Don Bosco, cả mấy nữ tu
nữa, em thấy trăn trở quá.
- Chuyện gì thế?
- Nhà đi đâu hết rồi, sao im thế? Ông Hiểu, bác ruột Minh vừa bước vào sân vừa
nói. Vào nhà thấy Minh, ông hỏi:
- Bao giờ cháu đi?
- Cháu được nghỉ tới mùng 9 cơ, nhưng chiều nay cháu đi rồi. Bài vở nhiều quá
bác ơi!
- Nghỉ ngơi cho khỏe đã! Bài vở thì lúc nào chẳng có, Tết mỗi năm chỉ có một
lần, phải không nào?
Không thấy Minh phản ứng gì, lại thấy Dũng đăm chiêu, tưởng Dũng đang nói với
Minh chuyện Bá, ông Hiểu hỏi:
-Anh em đang nói chuyện gì thế? Cứ im đi là hay nhất.
- Không im được bác ạ! Minh trả lời cho có.
-Chuyện gì mà không im được ?
Minh miễn cưỡng trả lời:
- Sáng nay bạn bè cùng tu với cháu, đứa thì than ban giám đốc khó quá, thiếu
nhân bản. Gọi điện thoại mà cũng bắt phải xin phép, ra ngoài mà cũng phải xin
phép. Đứa lại thêm thời buổi này mà đi xe gắn máy cũng không cho, không cho sử
dụng vi tính riêng, thật đúng là ban giám đốc của thời Trung cổ. Mấy nữ tu thì
than thở: các bà giáo cứ như trời con, muốn gì được nấy, còn mình thì cái gì
cũng không cho. Khó vừa vừa thôi để cho người ta sống với chứ! Khó thế, chỉ có
nước đóng cửa tu viện sớm. Dòng Chúa Cứu Thế vẫn bị tiếng là cấp tiến, nhưng
chẳng biết hiện đang cấp tiến hay cấp lùi!
- Đúng đấy!Dũng chen vào. Thời buổi này phải hiểu biết và thông cảm chứ!
Ông Hiểu nhìn Minh ái ngại, nói:
- Than thở là bệnh kinh niên của con cái đối với cha mẹ, của học trò đối với
thầy cô, của tu sĩ đối với bề trên. Kêu ca là đặc tính cố hữu của những người
thiếu trưởng thành, thiếu trách nhiệm. Bốn mươi năm về trước, bác không chỉ than
thở, kêu ca mà còn xách động cả một băng chống đối, khi bừng tỉnh, hối hận không
kịp nữa, nên bây giờ mới ra nông nỗi này.
Ông giơ tay với lấy tách trà, nhấp giọng tiếp:
- Ngày xưa khi còn ở chủng viện, bác cứ tưởng kỷ luật là hàng rào kìm hãm con
người trong vòng ấu trĩ. Lúc ra đời mới biết, mình phải vâng lời cả những đứa
chính mình đã đẻ ra. Nhiều lần, bác xem đá banh, đang đến hồi gay cấn, nó hét:
con đau bụng quá, lấy bô cho con, ba! Thế là phải tức tốc bỏ cả xem đá banh, bê
bô, rửa ráy cho nó. Chỉ khi làm cha mẹ mới biết kêu ca, trách móc là vô lý; chỉ
khi làm bề trên mới hiểu kỷ luật không ấu trĩ hóa con người, mà là thước đo mức
độ trưởng thành của con người. Vâng lời không bóp nghẹt con người nhưng làm cho
người ta sống. Bác còn nhớ, hồi mới ở chủng viện ra, lúc ấy bác đã là thầy bốn
rồi chứ ít gì. Ra phải đi lính ngay. Ở quân trường, mấy thằng khoá trước, nhãi
ranh mới lớn, hống hách. Nó cầm trái ớt, hất hàm hỏi bác:
-Ê! Trái gì đây, thằng kia?
- Ớt!
Nó nghiêm mặt bảo:
- Phải nói: thưa ngài đó là trái chuối.
Rồi nó bắt bác phải lặp lại: thưa ngài, đó là trái chuối. Rồi nó bê cả chén ớt,
bảo:
- Chuối thì ăn đi!
Bác phải ngồi nhai, nước mắt, nước mũi dàn dụa, vừa nhục, vừa cay đắng. Hôm
khác, nó lại chỉ đống đá hỏi: “đống này là cái gì?”
- Thưa ngài, đó là đống đá!
- Không phải, đó là đống nệm.
Bác phải cắn răng lặp lại: thưa ngài, đó là đống nệm. Nó nghênh ngang bảo: “đêm
nay mi ngủ trên đống nệm này, rõ chưa!”
Đêm ấy, bác ngủ không được, ngứa ngáy bực bội vì cái thằng nhãi ranh lên mặt.
Mấy thằng cùng khóa, ba gai, chống lại, bị đánh bầm dập, ra trường ngỏm củ tỏi
hết trơn. Bác, vì nhát đòn, không dám cãi, nhưng rất uất ức, bất mãn, ra trường
mới biết, đó là con đường sống.
Ông kể tiếp:
- Năm 74, lúc ấy bác đang là đại úy tiểu đoàn trưởng. Một lần hành quân tại Buôn
Mê Thuột, xung quanh toàn là vườn càphê, chỉ có một khu đất trống, khoảng hơn 1
hecta, bác cho lính vào nằm hết trong vườn càphê cho an toàn. Lính vừa ổn định,
thì nhận được lệnh, phải đưa hết quân ra nằm tại vùng đất trống. Thấy vô lý
nhưng không dám cãi, bác cho lính ra nằm tại bãi trống. Bác chưa kịp nằm xuống,
thì vườn càphê đã bị pháo tanh banh. Đó là một trong những kỷ niệm nhớ đời của
bác.
- Chà! Bác cháu nói chuyện gì mà vui thế? Ba Minh vừa máng chiếc áo lên thành
ghế, vừa hỏi.
- Kể một vài kỷ niệm cho các cháu nghe mấy ngày Tết cho vui ấy mà! Thôi chào
chú, chào các cháu, tôi về. Ở nhà chó đang đợi!
Ra khỏi cửa, ông còn nói với lại: “chú và các cháu, nhớ trưa nay sang nhà tôi
chén đấy nhé!”
Dũng gật đầu ra vẻ đồng ý, nhìn Minh buột miệng nói: “ông Hiểu có lý! Thằng Bá
nhà tôi thiếu kỷ luật”.
Minh thở phào nhẹ nhõm, ngẫm nghĩ: kỷ luật là thước đo mức độ trưởng thành của
con người. Vâng phục không bóp chết nhưng làm cho người ta sống. Vậy mà chẳng
hiểu sao, nhiều tu sĩ đã khấn vâng phục vẫn mắc phải chứng bệnh kinh niên kêu
ca, chống đối!
Tàn tiệc trưa hôm ấy, ông Hiểu vỗ vai Minh, nói: “bác nói chắc cháu không tin
đâu, nhưng đừng để khi hối hận, thì không còn kịp nữa!”
- Cháu tin bác mà!
Minh từ giã ông Hiểu. Trên thềm cây mai toàn lộc, chỉ còn mỗi cánh hoa vàng nở
muộn, đang cười toe toét, đong đưa trong nắng chiều.
Trời đã vào Đông. Mùa Đông năm nay có vẻ lạnh hơn mọi năm. Mọi cửa lớn, nhỏ của
nhà nguyện Dòng Chúa Quan Phòng đều đóng chặt, gió vẫn lùa qua khe cửa làm chị
Mai Trinh, giáo tập đang quì cầu nguyện run lên cầm cập từng cơn. Cứ mỗi lần gió
núi ùa về sớm thế này, thì y như rằng Tập viện thế nào cũng có chuyện chẳng
lành. Lần thì mất chó, mất gà, lần thì chị giáo tập tự nhiên lăn đùng ra chết,
lần thì gió thổi bay cả nóc nhà, may mà mọi người vẫn bình yên. Mới đây nhất,
chỉ hai năm về trước thôi, vào cuối mùa đông lạnh, bà bề trên đòi đuổi cổ hết
các tập sinh, giao nhà cho quản lý tỉnh muốn làm gì thì làm. “Năm nay lạnh sớm
thế này, thế nào cũng có chuyện”. Mai Trinh tự nhủ. Gió ào tới, chị run lên cầm
cập.
Tập sinh năm nay chỉ có 7 em, hầu hết đều xuất thân từ những gia đình nghèo phía
Bắc. Kim Yến là cô gái có nhiều vấn đề nhất. Cư xử thì vụng về. An nói thì ngang
tàng ngổ ngáo; làm việc thì cẩu thả, học thì kém, đúng là chẳng được tích sự gì,
nhưng lại làm ra vẻ hơn ai hết. Bích Phụng dễ thương nhất, vừa hiền ngoan, lại
đạo đức, chỉ mỗi tội không làm việc chung được. Yến Vẹn điềm đạm, chịu khó, việc
gì cũng làm được, chẳng hiểu sao lại là cái gai của chị phó giáo tập. Hà Thanh,
chị phó giáo tập, cũng xuất thân từ một gia đình nghèo, nhưng xuất sắc về mọi
mặt, lại nghiêm túc, đạo đức, chỉ mỗi tội hơi độc tài, độc đoán. Từng khuôn mặt
một trong tu viện nhỏ thó, toạ lạc trong nơi hoang vắng này, cứ lần lượt hiện
lên trong đầu óc Mai Trinh. “Ta không có quyền loại trừ ai, cũng không có quyền
ép ai phải đi tu. Ta chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là phát hiện và phát triển ơn
gọi nơi mỗi người thôi. Điều quan trọng là phải giúp cho mọi người có được một
kinh nghiệm đích thân về Chúa, nhưng phải làm gì bây giờ?”.
Trời đã khuya. Toàn tu viện đã chìm ngập trong bóng đêm dầy đặc, thanh vắng, giá
buốt từ lâu. Thỉnh thoảng, gió núi quất phần phật lên mái tôn, rít lên những âm
thanh u uẩn rợn người. Đang chuẩn bị tắt đèn đi ngủ, thì nghe tiếng dép lẹp xẹp
bên ngoài. “Lại có chuyện gì đây”, Mai Trinh tự nhủ, rồi ra cửa đứng đợi.
- Cóc, cóc, cóc.
-Ai đó?. Vừa hỏi, Mai Trinh vừa nghe ngóng.
-Em, Hà Thanh đây!
Mai Trinh mở cửa, gió ùa vào lạnh buốt. “ Có chuyện gì thế, em chưa đi ngủ à!”
Bước vào phòng, hai tay Hà Thanh nắm chặt lấy thành ghế, mắt dán xuống đất, môi
cắn chặt, mặt hoang dã. Bao giờ có chuyện bực bội, cô ta cũng đều thế cả.
- Yến Vẹn lại có chuyện gì phải không? Mai Trinh nhẹ nhàng hỏi.
- Không! Vừa nói Hà Thành vừa kéo ghế ngồi, bực quá không ngủ được chị ơi!
- Mà chuyện gì mới được chứ?
Hà Thanh chặc lưỡi, nhăn nhó: “ cái con Kim Yến thật quá quắt, em chịu hết nổi
rồi. Mặt mũi thì trâng tráo mà lúc nào cũng se sua. Tuần này, nhiệm vụ của nó là
rửa chén. Chén lúc nào cũng đầy bồn. Nhắc nó, nó bảo: đã tới giờ ăn đâu mà lúc
nào cũng phải nhắc với nhở. Chiều nó đọc sách gẫm vấp lên vấp xuống như học trò
tiểu học. Bảo nó, nó bảo: đọc thế còn gì nữa, lại còn đòi với hỏi. Sáng nay thấy
nó đạp xe ra ngoài, em hỏi đã xin phép chưa. Nó gân cổ cãi:
- Em bị đau chân, không được nghỉ vẫn phải đi cắt cỏ, thì phải đạp xe đi chứ
việc gì lại còn phải phép với tắc. Đúng là chuyện trẻ con. Khối đứa không đau
chân, vẫn cứ đạp xe đi, sao chị không gọi lại mà hỏi!
- Đứa nào?
- Linh hồn đứa nào, đứa nấy giữ!
Hà Thanh đứng bật dậy, nhìn Mai Trinh bực bội nói: cái giống ấy béo bở gì mà chị
còn giữ lại không biết! Cứ như thế này thì cái nhà này còn ra thể thống gì nữa.
Nói xong, Hà Thanh giận dữ bước ra, đóng sập cửa lại.
Hôm sau, vừa ăn sáng xong, Mai Trinh gọi Kim Yến vào phòng, hỏi:
- Hôm qua, em nói gì với chị Hà Thanh?
Kim Yến lặng người, không nhớ mình đã nói gì. Suốt từ chiều qua đến giờ, chỉ có
một chuyện ám ảnh, dằn vặt, dầy xéo cô. Đó là những lời Thắng viết trong thư:
“Kim Yến thương… anh đã tìm được con đường Chúa muốn anh đi… không bao giờ anh
muốn quên em… không biết bao giờ anh mới có thể quên được những kỷ niệm ta đã có
với nhau… thôi thì ta hãy coi nhau như anh em vậy…” ký tên: người tình của em
một thời. Những lời ấy hiện vẫn làm cô ấm ức, hậm hực, cay đắng. “Mẹ kiếp, đồ
phản bội! Bà mà bắt gặp, bà xé xác ra chứ ở đấy mà anh với lại em!”.
-Chị hỏi em có nghe không? Mai Trinh nhắc.
- Thú thật, em không còn nhớ là em đã nói gì chị ạ!
-Em nói làm cho người ta chết điếng đi được, vậy mà em bảo em không nhớ gì sao?
Chị cho em hai tuần suy nghĩ, cầu nguyện. Em nhớ rằng trong nhà này, ai cũng bảo
chị bao che cho em đấy! Em phải quyết định lấy đời em chứ, lớn rồi. Không muốn
tu thì về, có ai bắt em phải tu đâu.
Mai Trinh nhìn Kim Yến thông cảm, nói: “thôi về suy nghĩ đi nha!”
Vừa ra khỏi cửa, Kim Yến gặp ngay Lệ Hằng, đang quét nhà. Trong lớp, Yến chỉ còn
có thể nói chuyện với một mình Hằng. Thấy Yến đi ngang, Hằng kéo lại hỏi nhỏ:
“chuyện gì thế? Có phải chuyện hôm qua không?”
- Phải, tớ không hề nhớ, tớ đã nói gì với chị Hà Thanh, cậu ạ!
- Cậu hỗn quá, cậu dám nói với chị giáo: làm gì mà lúc nào cũng phải nhắc với
nhở, đòi với hỏi, phép với tắc… sao cậu bạo thế?
-Chắc tớ về quá cậu ơi! Tu với tác như thế này chán quá!
Cả tuần nay, Kim Yến trầm ngâm hẳn. “Về thì cũng được, nhưng về một mình thì về
làm gì cơ chứ!” Nhìn lại 6 năm về trước, khi hai đứa định cưới nhau, chính Thắng
đề nghị:
- Lấy nhau ở cái vùng đồng khô cỏ cháy này, chỉ có nước cạp đất mà sống, mà đất
cũng chẳng có mà cạp đâu. Tốt nhất là vào nam ít năm, học lấy một nghề, rồi ở
trong ấy được thì tốt, không thì về ngoài này, lấy nhau cũng chưa muộn.
- Sao anh vớ vẫn thế! Yến vặn lại, vào đấy ở đâu cơ chứ! Ở dưới gầm cầu à!
- Tìm một người đồng hương nào đó mà ở!
- Họ hàng người ta còn chẳng muốn chứa, nói chi tới đồng hương với đồng khói!
Hai người im lặng hồi lâu, Thắng nắm chặt tay Yến, nhíu mày ra chiều suy nghĩ.
Bỗng anh buông tayYến ra, đứng bật dậy, vỗ tay reo:
- Anh có cách rồi.
Yến chạy tới nắm tay Thắng, hí hửng:
- Cách gì anh?
-Vào nam, mỗi đứa tìm lấy một nhà dòng mà ở. Cố học cho thành tài rồi về, không
học được chữ, thì học nghề. Rõ?
Yến giơ bàn tay đập lên bàn tay Thắng đang xòe sẵn, đáp: “ rõ! Ý kiến hay đấy,
bao giờ tiến hành?”
- Tuần sau, tuần sau ta vào nam.
Sáu năm ở trong nam, hai đứa vẫn thường xuyên liên lạc, thế mà sao bây giờ hắn
lại thay lòng đổi dạ nhanh như thế?, Yến tự nhủ. Vì sao? Phải nhờ đến hai người
đỡ đầu Yến mới hoàn tất được chương trình bổ túc văn hoá và một khoá dược tá.
Còn Thắng cũng đã xong cử nhân Anh văn. Theo đúng hợp đồng, học xong nếu không ở
trong nam được thì về bắc. Vậy mà sao hắn không về? Hắn bảo vào nhà Tập một năm
thử xem sao. Nghe lời hắn mình mới phải khốn khổ trong chỗ khỉ ho cò gáy này.
Yến nhớ lại, Tết năm ngoái, hắn viết thư than thở về một trong những bà mẹ nuôi
đa tình, lãng mạn của hắn: “… bà ta còn trẻ, cứ mỗi lần anh về thường ôm hôn
thắm thiết như tây vậy… thường xuyên bắt chở đi hết nơi này đến nơi khác… xưng
hô thì cứ như là hai người đồng vai phải lứa… anh rất ngại gặp bà ta, nhưng
không gặp thì lấy tiền đâu mà học…”, “thôi đúng rồi”, Yến tự nhủ, “hắn phải lòng
con mẹ mụ nuôi ấy thật rồi. Mụ hơn hắn cả chục tuổi nhưng đi với nhau vẫn còn
đẹp đôi vừa lứa lắm. Đã thế mụ lại goá chồng, các con đều ở Mỹ cả!” Nghĩ đến đó,
nước mặt Yến dàn dụa.
Nghe như có tiếng ai gọi, Yến lau vội nước mắt, vừa lau vừa trách mình: “sao
mình lại khóc. Sao lại phải khóc vì một tên phản bội chứ! Nhưng không biết tại
hắn hay tại mụ kia?”
Nghe tiếng chân bước mỗi lúc một gần, Yến soi mặt lần cuối: “mắt hơi đỏ tí thôi,
không sao đâu! Ai đây không biết!”
- Chị Yến ơi, chị có thư đấy! Bích Phụng nhẹ nhàng nói.
- Để đấy tôi, cám ơn! Tưởng ai, Yến thì thầm hóa ra cái con mẹ nửa đực nửa cái
này! Yến vẫn gọi Bích Phụng như thế. Nói xong Yến chột dạ. Chưa bao giờ Bích
Phụng làm một điều gì phật lòng Yến, chẳng hiểu sao lúc nào Yến cũng ác cảm với
Phụng. “Nó còn nhỏ, lễ phép, dịu dàng, lại sẵn sàng giúp đỡ, sao mình lại ghét
nó? Mà cũng lạ, mình ghét nó thế, mà nó vẫn không ghét mình”.
Ra lấy thư, Yến thấy Bích Phụng như đang tung tăng nhảy múa, mái tóc thề xõa
ngang lưng đong đưa theo nhịp bước. Mặt Yến đanh lại, la lớn: “đúng rồi! Lưng
con bé y như lưng con mụ mẹ nuôi ấy, thảo nào mình cứ ghét oan con bé!” Nhìn bìa
thư, Yến lẩm bẩm: “thư gia đình, lại toàn những tiếng than với thở!” Càng đọc
thư, Yến càng bực bội: “Anh Thắng sẽ khấn dòng ngày 25.1, sẽ về quê tạ ơn ngày
30.1… chị cầu cho anh ấy một kinh”. Yến vứt thư xuống đất, lẩm bẩm: cầu cầu cái
gì cho cái thằng phản bội ấy . Mà có Chúa đâu mà cầu cơ chứ. Rõ là đồ ngốc!
Tối hôm ấy trời lạnh khủng khiếp. Yến đã mặc tới ba áo len, xỏ tới ba lớp vớ rồi
mà người vẫn co ro, răng vẫn đánh nhịp.
- Ngày mai em mặc thêm một cái áo nữa cho khỏi lạnh Yến ạ!
- Vâng thưa chị.
- Tuần này tĩnh tâm, em cố gắng tập trung suy nghĩ, cầu nguyện, rồi sau đó trả
lời cho chị nhé!
- Vâng ạ!
“Tuần này con bé ngoan hẳn ra, hy vọng mọi chuyện sẽ tốt đẹp”, Mai Trinh tự an
ủi.
Đêm ấy Yến không sao ngủ được, cứ ngồi lên lại nằm xuống. Sao hắn lại khấn dòng
chứ? Hắn bảo hắn lấy mình cơ mà! Sao mình lại vào đây? Sao chị Mai Trinh học
giỏi như thế, đi du học về, nói tiếng Anh như gió lại nhốt mình trong nơi vắng
vẻ này? Sao chị Hà Thanh, một bác sĩ trẻ đẹp như thế lại bỏ nghề vào đây làm gì?
Hàng loạt những câu hỏi như thế đẩy Yến vào giấc ngủ lúc nào không biết.
Hôm nay bắt đầu tuần tĩnh tâm kéo dài 10 ngày. Yến rất thích tĩnh tâm, vừa không
phải làm việc, vừa khônhg phải nói chuyện với ai, lại được ăn ngon, ngủ kỹ, chỉ
mỗi tội là cứ phải nghe mấy ông cha lải nhải. Năm nay nghe đâu ông cha Thịnh
Dòng Chúa Cứu Thế giảng thì phải, mà cha nào lại chẳng giống cha nào.
Gần tới giờ nghe giảng rồi mà đầu óc Yến vẫn ắp đầy những câu hỏi chưa có lời
giải đáp: sao hắn lại khấn dòng? Sao hắn lại bỏ mình… sao người ta lại đi tu?
Một linh mục trẻ măng, mặt dễ nhìn, miệng duyên dáng bước lên bục giảng. “ Anh
này đẹp trai thật, sao anh lại đi tu. Mình ngồi bàn đầu chắc anh ấy thấy mình”,
Yến tự an ủi.
Khác với những lần tĩnh tâm khác, lần này Yến chỉ mong tới giờ nghe giảng. Yến
tới hội trường trước cả 15 phút, hồi hộp đợi chờ. Có điều là cả tuần đã trôi qua
mà Yến chẳng nhớ được một lời nào của cha giảng cả, chỉ nhớ có mỗi một điều
thôi: anh đẹp trai quá, giọng anh trầm ấm quá, sao anh lại đi tu, anh có nhìn
thấy em không?
Yến đang đắm đuối nhìn vị giảng thuyết cô hâm mộ, bỗng bừng tỉnh khi nghe vị
giảng thuyết cười cười nói: Sáng nay có chị hỏi tôi, vì sao tôi lại đi tu? Tôi
có hạnh phúc trong đời tu không? Có thấy cô đơn khi nào không?
Mặt Yến đanh lại, bực bội, lẩm bẩm: “con mẹ nào dám hỏi thế không biết! Cái này
phải để tao hỏi. Tụi bay tu thì lo tu đi, tao không muốn tu, tao phải chinh phục
anh của tao”.
-Để có thể tu được, và hạnh phúc trong đời tu cả trong những lúc cô đơn, ta phải
có một kinh nghiệm đích thân về Chúa. Cha Thịnh vẫn thao thao bất tuyệt: Đôi khi
ta vẫn đọc kinh, vẫn cầu nguyện, vẫn đi lễ, rước lễ mà vẫn chưa biết Chúa. Tôi
nhớ, khi tôi còn là sinh viên Đại Học Sư Phạm, có một anh chàng tên là Sáng, rất
ác cảm với người có đạo. Có lần anh ta hỏi tôi:
- Ê, Thịnh mày là người Công giáo hả?
- Phải tao là Công giáo, có gì không?
- Bọn Công giáo tụi bay chỉ tin vớ vẩn. Cái gì mắt này thấy thì mới có, cái gì
mắt này không thấy thì không có. Chỉ cho tao thấy Chúa của mày đi, tao sẽ tin.
Nói xong hắn cười ngạo nghễ, đắc thắng. Tôi hơi bối rối nhưng bình tĩnh lại
ngay. Biết nó đang si mê một cô người Hoa cùng lớp tên Cẩm Hồng, không đẹp lắm
nhưng duyên dáng, tôi hỏi:
- Ê Sáng! Mày có thương Cẩm Hồng không?
Vừa nghe nhắc đến Cẩm Hồng, mắt hắn sáng hẳn lên, hắn mỉm cười:
- Thương chứ ! Cuối năm nay tụi tao làm đám cưới mà, không thương, cưới nhau thế
nào được!
-Vậy, mày cho tao xem tình yêu mày dành cho Cẩm Hồng đi! Thử xem nó to hay bé,
nặng hay nhẹ, trắng hay hồng.
Mặt hắn đỏ lên, rồi tái đi, hắn miễn cưỡng đáp: “ tình yêu thì cho xem thế nào
được!”
- Mày vừa nói với tao: cái gì mắt này thấy, thì mới có, cái gì mắt này không
thấy thì không có. Vậy mày không cho tao xem được tình yêu mày dành cho Cẩm
Hồng, nghĩa là mày không có tình yêu. Con người mà không có tình yêu, thì may
lắm chỉ là con chó thôi.
Mọi người cười ồ, khoan khoái, chờ cho hết cười, cha Thịnh tiếp: nhưng cũng từ
ngày ấy, tôi bắt đầu dằn vặt tôi: Chúa có thật chăng? Có thấy Chúa được chăng?
Nếu không có Chúa, thì đời tu thật là phi lý, hoang phí. Trăn trở mãi mà vẫn
chưa tìm được giải đáp. Năm 1977 chiến tranh giữa Trung quốc, Việt nam và
Campuchia bùng nổ. Một số bạn bè tôi phải lên đường nhập ngũ. Hôm tôi tiễn Minh
và Tâm lên đường, khi trở về, Lệ Dung, bạn gái Tâm nức nở khóc ngay trên xe. Cô
khóc quá, tôi cũng mủi lòng, chợt nhớ đến mình. Hôm nay phiên nó, ngày mai có
thể đến phiên tôi. Tôi không muốn đi lính, nên bắt đầu suy nghĩ mông lung: sao
mình không phải là con gái để khỏi phải đi lính? Sao mình không phải là người
Nhật, người Mỹ mà lại là người Việt nam? Sao mình không phải là con ông nọ, bà
kia mà là con ông bà này?… Dòng dã theo năm tháng, nghĩ nát đầu mà vẫn không tìm
được câu trả lời, tôi quyết định về Xuân Lộc hỏi mẹ tôi. Lúc tôi về, bà đang cho
heo ăn, thấy tôi bà hỏi:
- Hôm nay không phải đi học à?
- Có chứ, nhưng có chuyện quan trọng, con mới phải về hỏi mẹ đây!
-Chuyện gì thì nói đi!
- Mẹ rửa tay vào nhà con nói.
Rửa tay xong vào nhà, mẹ tôi hỏi: “chuyện gì nào, nói đi!”
- Mẹ, trước khi mẹ cưu mang con trong bụng, mẹ có biết là mẹ sẽ sinh ra con
không?
Không một chút suy nghĩ, bà nói ngay: “ làm sao mà biết được!”
- Vậy khi con đã ở trong bụng mẹ rồi, mẹ có biết con là con gái hay con trai
không?
Bà cười, đáp: “ làm sao mà biết được!”
- Vậy khi sinh con ra rồi, mẹ có biết lớn lên con sẽ làm gì không?
Bà bắt đầu khó chịu, hơi lớn tiếng một chút: “ làm sao mà tao biết được!”
- Mẹ có biết khi nào con chết không?
- Hỏi vớ vẩn!
Chiều hôm ấy, trên xe từ nhà tới Sàigòn, tôi ngẫm nghĩ: đã có lần tôi là máu, là
thịt của mẹ tôi, đến độ nếu bà chết, tôi cũng chết theo, vậy mà bà không biết
tôi. Thế thì phải có một người biết tôi chứ! Người đó là ai? Chả lẽ tình cờ, tôi
rơi vào thế gian này, rồi lại tình cờ tôi biến mất, như gió như mây sao? Không,
nhất định phải có người biết tôi. Người ấy là ai? Khi tới nhà trọ, bạn bè đi học
hết, chỉ còn mình tôi. Tôi nhớ, hôm ấy, tôi đã quì gối xuống, thưa lên với Thiên
Chúa: lạy Chúa con tin. Nước mặt bắt đầu trào ra. Đó là lần đầu tiên trong đời,
tôi tin có Chúa. Trước đây, tôi tin bằng lòng tin của cha mẹ, của ông cha, bà
phước đã dạy tôi. Còn bây giờ, tôi tin bằng lòng tin của chính tôi. Từ đó, tôi
luôn thấy Chúa ở với tôi, luôn đồng hành với tôi, luôn cầm tay dắt tôi đi. Có
những lúc tôi không muốn đi, Ngài vẫn cứ đợi chờ. Có những lúc tôi phản bội
Ngài, nhưng chưa khi nào Ngài phản bội tôi. Không có Ngài, đời ta không ý nghĩa,
không cùng đích, khi ấy ta chỉ còn biết sống cho cái bụng của ta, và cho mọi thứ
ô uế từ đó xuất ra… nhưng làm sao ta có thể gặp được Ngài?
Dừng lại một chút, ngài tiếp: ta không những có thể gặp được Ngài, mà còn nghe
được tiếng Ngài nói với ta, qua Lời Ngài, qua các biến cố lớn nhỏ trong đời ta,
qua bạn bè, và qua cả những phản bội, lừa đảo của con người nữa.
Bài giảng đã kết thúc từ lâu, mà Yến vẫn một mình trầm ngâm trong hội trường.
Như vậy là anh đã bị Chúa hớp hồn rồi Yến ơi! cô tự nhủ, đừng mong mồi chài được
anh. Yến buồn bã nói với mình. “ Cả Thắng cũng vậy chắc!”. Yến bắt đầu buồn như
muốn khóc, tự hỏi: “ vậy tôi có thể gặp được Ngài không, tôi có nghe được tiếng
Ngài như anh nói chăng?”
Sau đợt tĩnh tâm, Yến gặp chị Mai Trinh tâm sự: “chị ơi! Trước đây em chưa có
đức tin, nên không chỉ chân trong chân ngoài, mà chỉ có xác ở trong đây thôi,
còn hồn thì ở ngoài kia. Vậy em xin chị cho em ở lại một thời gian nữa, em hứa
sẽ cố gắng.”
- Chị rất sẵn sàng Yến ạ! Miễn là em cố gắng và ý thức thôi.
Một buổi sáng cuối mùa đông giá ấy, trong một buổi hướng dẫn suy gẫm, giọng Yến
dõng dạc: “trước khi tôi được hình thành trong dạ mẹ, Ngài đã biết tôi. Trước
khi tôi lọt lòng mẹ, Ngài đã hiến thánh tôi. Ngài đã gọi đích danh tôi. Tôi là
của Ngài, Ngài là của tôi. Tôi đã nên quí giá trước mặt Ngài. Từ nay Ngài mãi ở
trong tôi, và tôi mãi ở trong Ngài. Từ nay, ai đụng đến tôi là đụng đến con
ngươi mắt Ngài. Yến nghẹn ngào: “tôi đã phản bội Ngài, hay đúng hơn tôi chưa hề
yêu Ngài, nhưng Ngài vẫn yêu tôi”. Yến lại xúc động: “ nếu tôi có phản bội Ngài,
Ngài sẽ không bao giờ phản bội tôi”. Không cầm được cơn xúc động, Yến bật khóc
nức nở. Các tập sinh bắt đầu sụt sùi. Hà Thanh rút khăn mouchoir chậm lên mắt.
Mai Trinh xúc động nguyện cầu: “xin cho những giọt nước mắt này xua đi quá khứ
của lạnh lùng, bất tín, của do dự , chần chừ”.
Sáng hôm ấy, đi ngang qua cây đào tiên đã tàn héo từ lâu, Mai Trinh dừng lại, cố
ý đợi Hà Thanh, bỗng phát hiện ra một nụ xanh mướt bật lên từ gốc, chỉ cách mặt
đất vài phân.
Cả năm nay cứ vào chiều thứ bảy tuần thứ ba trong tháng, cha Thân Dòng Chúa Cứu
Thế lại được đón lên Mai Hoà , trung tâm săn sóc cho bệnh nhân sida giai đoạn
cuối để dâng lễ cho họ. Lần thì đi bằng xe Toyota 15 chỗ của Dòng Phan Sinh Thừa
Sai Đức Mẹ, lần thì đi bằng xe Daihatsu. Mỗi lần như thế đều có những chuyện vui
buồn lẫn lộn. Cách đây ít tháng, có cha Tuyến, Việt kiều Mỹ cùng đi. Thế là một
em ca đoàn từ cuối xe la lớn: “trên xe hôm nay có hai cha. Cha trong nước là cha
nội. Cha nước ngoài là cha ngoại. Tiền ngoại hơn tiền nội. Cha ngoại hơn cha
nội. Nên hôm nay cha ngoại sẽ đãi ca đoàn một chầu phở Hòa. Xin cho ngài một
tràng pháo tay”. Cả xe cười ồ, vui vẻ. Có lần xe Toyota kẹt công tác, phải đi
bằng Daihatsu. Tài xế không quen đường, đưa cả đoàn vào rừng, mãi 7 giờ tối mới
mò ra được tới Củ Chi, mọi người đói meo, phải mua bắp cạp đỡ. Bệnh nhân thì
tháng nào cũng mất vài, ba người. Tháng nào cũng có thêm vài khuôn mặt mới. Lâu
nhất trong tại có lẽ là Thảo, mới 22 tuổi, mặt hiền khô, chẳng hiểu sao lại
nhiễm sida. Người thứ hai là Sơn, bị xe lửa nghiền nát cặp giò, chỉ vì muốn tự
tử khi biết mình nhiễm HIV. Chiều nay thứ bảy cuối cùng của năm 2002, trên xe có
thêm ông John, người Bỉ. Vợ John là người Việt nam. John có một đứa con trai 13
tuổi, một đứa con gái nuôi, người Việt nam 6 tuổi.
Như thường lệ, lễ xong, mọi người kéo xuống trại, thăm hỏi các bệnh nhân đau
liệt, không đi được. Trong phòng, một tấm hình chân dung của một cô gái đẹp
tuyệt trần, đặt trên thành giường Mỹ Dung, một cô gái trạc 25 tuổi, chỉ còn da
bọc xương, đang thở dốc từng cơn, mắt khép hờ, man dại, đập ngay vào mắt cha
Thân.
-Hình này của ai đây? Cha ngạc nhiên hỏi soeur Thanh Thảo, giám đốc trung tâm.
-Hình của cô Dung đó, cha! Tuần rồi cô tưởng cô qua đời nên cho người ta làm tấm
hình ấy, chắc chỉ nay mai thôi cha ạ!
Cha Thân lặng lẽ nhìn lên tấm hình chân dung trước mặt lần nữa, rồi lại ái ngại
nhìn Mỹ Dung đang thoi thóp.
Đang đứng trầm ngâm trước cửa, thấy cha Thân, John hỏi:
- Hôm nay cha có thấy gì trong phòng này không?
Thấy cha hơi bỡ ngỡ, John hỏi tiếp: “cha có thấy tấm hình của Mỹ Dung đặt trên
thành giường không?
-Có!
- Tôi chụp cho cô ta năm ngoái đấy, vậy mà bây giờ cô đã tàn tạ đến thế!
Thanh Thảo chen vào: “Mỹ Dung rất tội, cha ạ!” Rồi chị nghẹn ngào, đôi mắt lệ
lưng tròng, lặng lẽ nhìn về phía chân trời phía tây đang tối dần.
Mọi người lên xe về, trả lại cho Mai Hoà vẻ trống vắng ghê rợn cố hữu của các
bãi tha ma. Thanh Thảo vẫn thơ thẩn trong bóng đêm mỗi lúc một dầy thêm. Thỉnh
thoảng gió rít, dương reo xáo xác như những tiếng ai oán từ cõi âm vọng về.
Huyền My, Diễm Lệ đang từ phòng bệnh nhân trở về tu viện, vừa đi, vừa nhỏ to tâm
sự. Diễm Lệ mới từ Sa Đéc chuyển về, thế chỗ cho chị Mỹ Linh. Còn Huyền My đã ở
đây được gần năm.
- Chị có biết cha Thân không? Huyền My hỏi.
- Biết chứ! Chị là học trò của ngài mà!
-À! Em nhớ rồi, ngài dạy lớp dự khấn của các chi ở Bình Lợi cách đây ít năm,
phải không?
-Ngài thật tuyệt vời! Giờ này chị vẫn nhớ như in những gì ngài dạy. Ngài bảo:
yêu không phải là chuyện chăn gối mà là tìm hạnh phúc cho người mình yêu. Là phụ
nữ, các chị phải coi chừng, đừng nghe những lời ngọt bùi của đàn ông mà khổ cả
đời. Bản năng của đàn ông là chiếm đoạt. Cạm bẫy họ giương ra là những lời ong
bướm, khối người đã chết vì những lời ve vãn, mơn trớn ấy.
- Ngài nói đúng đó chị ơi! Hầu hết bệnh nhân nữ ở đây đều là nạn nhân của những
tên đểu cáng, dùng lời lẽ ngọt bùi xí gạt người ta.
- Cả nữ tu mình cũng bị nữa đó! Chị nhớ có lần cha Thân vào lớp trễ 15 phút, mồ
hôi nhễ nhãi, tóc tai bù xù, mặt mũi bơ phờ. Hỏi ngài, ngài bảo ngài mới đi xức
dầu cho một người quen. Chị này trước kia là nữ tu Dòng Saint Paul, rất giỏi
nhạc, lại duyên dáng, dễ nhìn khiến một anh chàng đã có vợ phải chết mê chết
mệt, cứ bám theo chị miết. Lúc đầu chị dứt khoát không chịu. Anh bám riết quá,
thư từ tới tấp, toàn những lời ngon ngọt. Chị em trong cộng đoàn biết chuyện đã
không thông cảm, lại cô lập, loại trừ. Chị buồn quá, ra chung sống với anh. Mới
được vài tháng, chuyện đổ bể, vợ anh đánh ghen, tạt cho một ca acid. Mặt cháy
nát, loang lổ, không biết có sống nổi không, đang lúc bụng mang dạ chửa. Đời
thật lắm trái ngang!
Hai người vẫn đang say sưa trò chuyện thì nghe tiếng ơi ới trong phòng Mỹ Dung.
Huyền My nói:
- Chị về ăn cơm trước đi, em lại đó xem sao.
Mỹ Dung đang co giật từng cơn. Mặt mét xanh. Mắt đứng tròng. Huyền My vừa giúp
Thanh Thảo cầm lấy hai tay Dung, thì đầu Dung ghoẹo sang một bên, nằm im bất
động. Thùy Thanh, một bệnh nhân cùng phòng, đốt hai cây nến, cắm lên thành
giường, vô tình chạm khuỷu tay vào tấm ảnh làm rơi xuống đất vỡ tan tành.
Từ khi có trại Mai Hòa tới nay chưa đầy năm, đã có cả trăm cái chết. Có những
cái chết rất dai dẳng, đớn đau. Thanh Thảo đã chai lì với chết chóc, ly tán, đau
thương. Vậy mà chẳng hiểu sao, hôm nay khi đứng trước thi hài Mỹ Dung, Thanh
Thảo lại nghẹn ngào, nấc lên từng cơn. Cô nhắm mắt lại, cố ngăn giòng lệ đã tràn
mi. Một giọt nước mắt nóng hổi rơi xuống nền đất lạnh. Tất cả những chuyện Mỹ
Dung kể cho cô cách đây 3 ngày lần lượt hiện lên trong đầu óc cô.
Dung là con gái út của một gia đình công giáo đạo đức. Cha làm trùm 4 khóa. Cậu
ruột là linh mục dòng Phanxicô. Anh đang tu dòng Đaminh. Mặt đẹp như tượng. Dáng
thon thả. Nói chuyện duyên dáng, hấp dẫn. Mới 15 tuổi, Dung đã là một giáo lý
viên hiền lành, mẫu mực. Ai cũng thương mến cô. Dung còn là một nữ sinh xuất sắc
của trường chuyên Lương Thế Vinh, Biên Hòa. Năm nào cũng lãnh thưởng, Dung trở
thành niềm kiêu hãnh của gia đình.
Ngay từ ngày đầu tiên bước vào trung học, Trần Phi Hùng đã để ý Dung. Hùng là
con duy nhất của một gia đình giàu có, uy thế trong thành phố. Cha mẹ là người
Cao Đài, không mấy thiện cảm với Công giáo. Hùng đẹp trai, học giỏi, là người
duy nhất có thể cạnh tranh hạng nhất với Mỹ Dung trong học tập, chỉ mỗi tội hơi
thiếu bản lãnh, thiếu trách nhiệm.
Sinh nhật thứ 18 của Mỹ Dung, nhân lúc tan trường về, Hùng dúi vào tay Mỹ Dung
một món quà nhỏ. Dung vội vàng nhét vô cặp, sợ bạn bè trông thấy. Chiều lúc ôn
bài, Mỹ Dung mới mở ra xem. Một cái vòng cẩm thạch nằm ngoan ngùy trên một lớp
bông gòn trắng phau! Mắt Mỹ Dung tròn xoe: trời đẹp quá! Ngắm nghía hồi lâu,
Dung mới dám lấy ra ướm thử. Vừa khít. Bên dưới chiếc vòng là một mảnh giấy nhỏ,
chữ nắn nót:
Mừng sinh nhật thứ 18
Kỷ niệm năm cuối cấp
Nếu Mỹ Dung không ngại, chiều mai 6 giờ,
mời Mỹ Dung đi nhà hàng.
Thúy Liễu sẽ đi đón Dung.
Bạn cùng lớp
Phi Hùng
Dung nhớ lại, năm nào Hùng cũng có quà sinh nhật cho Dung. Năm ngoái là một lô
tiểu thuyết thời danh của Victor Hugo, của Balzac. Quyển Mỹ Dung thích nhất vẫn
là Đỉnh gió hú của Emily Bronte. Năm trước nữa là gì ha? Dung tự hỏi, cố lục lọi
trong bộ nhớ mà vẫn không tài nào nhớ được. Chưa bao giờ có ai cho Dung một món
quà quí như thế. Dung ngắm chiếc vòng xanh biếc đang ôm gọn cườm tay nhỏ nhắn,
mỉm cười khoan khoái, tự nhủ: ngày mai mình sẽ đi ăn với Hùng!
Đêm hôm ấy, Mỹ Dung bắt đầu bị giằng xé. Cô nhớ lại có lần cha cậu dặn: “là con
gái, con hãy cố học hành, thong thả hãy yêu. Nhớ là thà ở vậy còn hơn lấy người
không yêu mình. Đàn ông nhiều người đểu lắm. Chỉ khi nào thành vợ chồng mới ăn ở
như vợ với chồng. Vì mọi hậu quả của việc ăn ở ấy con phải lãnh hết”. Những lời
ấy khiến Dung chột dạ: “ chiếc vòng này không khéo trở thành vòng kim cô thì
khốn”. Nhưng ngay lúc ấy, giọng Thúy Liễu lanh lảnh trong lòng Dung: “có tiền là
có tất cả. Tiền đi trước. Tình theo sau. Họ yêu mình, mình không yêu họ, họ yêu
người khác cũng vậy thôi. Tội gì mà không yêu!”
Thuý Liễu là bạn học với Mỹ Dung thời tiểu học. Cả chục năm nay Dung mới gặp
lại. Trông cô rất chững chạc, sành điệu, khêu gợi. Nghe đâu cô đang làm việc ở
Sàigòn, giàu có lắm thì phải. Mỹ Dung tự nhủ, Thúy liễu có lý và cha cậu cũng có
lý. Ta phải thận trọng. “ Đi ăn có cả Thúy Liễu nữa mà lo gì!” Dung tự trấn an.
Chiều hôm sau, Mỹ Dung đã sẵn sàng, hồi hộp chờ Thúy Liễu tới. Thỉnh thoảng lại
giơ tay lên ngắm chiếc vòng cẩm thạch, cười khoan khoái. Thúy Liễu tới. Thấy Mỹ
Dung trong bộ đồng phục học trò, nhăn nhó: “trời ơi là trời! Đi nhà hàng mặc đồ
này sao được, bồ! Thay đồ khác đi. Mặc bộ nào sexy chút, xứng với tuổi 18 đó
nghen”.
Tới nhà hàng, Mỹ Dung đã thấy Phi Hùng áo quần tươm tất, đang đứng chung với một
người lạ hoắc. Mặt rất cô hồn. Tóc chấm lưng. Râu ria xồm xoàm. Thấy Mỹ Dung
tới, Hùng chạy vội lại, đỡ xuống xe. Thuý Liễu tươi cười chỉ Dung giới thiệu:
“Đây là Mỹ Dung, bạn Thúy Liễu. Còn đây là Tư đểu anh tui đó bồ!”
Tư đểu nhe hàm răng sún cười nham nhở, trông hệt như mặt Luxiphe bị thiên thần
Micae đâm chết Dung vẫn thấy đặt ở nghĩa trang giáo xứ. Dung vội nép mình vào
bên Hùng tránh ánh mắt thèm thuồng của Tư đểu. Chân tay lọng cọng. Dung có cảm
giác như đang bị lùa vô hang cọp.
Hôm ấy thúy Liễu và Tư đểu ôm ấp nhau, đút cho nhau ăn ngay trước mắt Mỹ Dung.
Cử chỉ ấy làm Dung vừa hoảng sợ, vừa hấp dẫn cô. Suốt bữa tiệc hôm ấy, Phi Hùng
chỉ nắm tay Dung có một lần duy nhất, lấy cớ là xem chiếc vòng có vừa tay Dung
không.
Tàn tiệc chiều hôm ấy, trên đường về, Thúy Liễu khích: “con gà ấy chịu đèn cậu
lắm rồi, tớ thấy nó nhìn cậu đắm đuối suốt bữa tiệc. Cá cắn câu thì phải giựt
lên ngay, kẻo nó vuột mất. Cậu phải tấn công, phải ngồi sát hắn, phải cầm lấy
tay hắn… phải làm tất cả những gì cần làm”.
Từ hôm ấy, quan hệ giữa Hùng và Dung thắm thiết, công khai hơn. Dung bắt đầu bỏ
bê bài vở, tập tành thi phú, mơ màng, thơ thẩn. Tối nào cũng đem hộp cẩm thạch
ra ngó. Một hôm, Dung hứng chí viết:
Vòng cẩm thạch chìm sâu trong bông trắng
Như tình anh chìm đắm trong em
Hùng ơi! Anh như vừng trăng sáng
Còn em, như hồ nước đón trăng đêm.
Có hôm ngồi suốt từ chập tối tới nửa đêm mà đầu óc Dung vẫn trống trơn, chẳng vô
được chữ nào. Tập giấy nháp trước mặt không còn x,y; sin cos; tang, cotang nữa
mà chỉ còn hai chữ Hùng- Dung. Mắt Dung không còn lanh lẹ như xưa mà mịt mù như
trời chiều trên phố núi. Có lần Dung đắm đuối nhìn vào hai chữ Hùng-Dung, hứng
chí viết:
Anh và em có chung tất cả
Chỉ khác là anh đầu H, em D
Những buổi dạy giáo lý thưa dần. Những lần hẹn hò dầy thêm. Dung lại còn dám cúp
học đi chơi. Thấy thế, Bảo Trân, bạn thân của Mỹ Dung dáng mảnh mai nhưng lại
thẳng thắn như đàn ông, nói với cô:
-Dung ơi! Hình như kỳ này bạn hơi khác thì phải!
-Linh hồn ai nấy giữ! Dung đáp, rồi ngoăn ngoắt bỏ đi. Bảo Trân nói với theo:
- Bồ mà “hoảng chưa” thì chỉ có nước độn thổ thôi đấy.
- Mỹ Dung quay lại nguýt cho Bảo Trân một cái, rồi lại tiếp tục bỏ đi.
Đêm hôm ấy, Mỹ Dung không ngủ được, trăn trở: tại sao con nhỏ mặt ngựa ấy lại
dám bảo mình là “hoảng chưa” cơ chứ! Dung vẫn tôn trọng Bảo Trân. Mới đây Dung
vẫn còn chỉ bài cho nó cơ mà! Sao bây giờ nó lại trở mặt như thế? Dung nhớ lại,
trước đây đã có lần, Bảo Trân rất lẳng lơ với Phi Hùng. “ Thôi đúng rồi! Trâu
cột ghét trâu ăn ấy mà. Đã thế ông sẽ công khai hơn cho biết tay”.
Thi tốt nghiệp xong, Phi Hùng dẫn Mỹ Dung vào khách sạn, rút trong túi ra một
chiếc nhẫn hột xoàn sáng loáng, nhìn Mỹ Dung đắm đuối: “ đây là chiếc nhẫn đính
hôn, là trọn vẹn tình anh dành cho em”. Hai người nhìn nhau, mặt đỏ lên ngượng
ngùng. Hùng lại tiếp tục rút ra một sợi dây chuyền vàng chóe, nặng cả cây vàng,
vừa đeo vào cổ Dung, vừa nói: “còn đây là quà đính hôn, là sợi tơ hồng se kết
tình ta”. Hai người ở lại khách sạn cho đến khi cả phố lên đèn, vẫn bịn rịn,
chưa muốn về.
Suốt ba tháng luyện thi đại học, Mỹ Dung không học được chữ nào, cứ ra ngẩn vào
ngơ. Tâm tính bắt đầu thay đổi như ngâu tháng bảy. Khi thì tươi như đào mai ngày
tết, lúc lại héo như cây cối mùa đông, khi thì bi bô như trẻ đang tập nói, lúc
lại trầm ngâm như đan sĩ về già. Đầu óc cô bây giờ chỉ có Hùng, với những kỷ
niệm của một tình yêu nồng cháy. Dung có cảm giác như cô đang đứng ở ngưỡng cửa
thiên đàng.
Buổi sáng hôm thi đại học, trong phòng thi, Mỹ Dung ngồi cắn bút, người choáng
váng, toát mồ hôi, lại cứ buồn nôn muốn ói, phải ra vào phòng thi cả chục lần.
Đưa Dung về nhà xong, Hùng mới quay về nhà. Trên đường về Hùng tự nhủ: thua đại
học, nhưng được tình yêu… Dung ơi, em chính là thiên đàng của anh. Rồi anh mỉm
cười khoan khoái. Về tới nhà, Hùng nghe như trong nhà có tiếng cãi nhau. Anh
nhón gót bước vào nghe ngóng. Giọng bà Mai, mẹ Hùng chua chát:
-Tủ này chỉ tôi với ông là có chìa khoá, ông không lấy thì còn ai vào đây!
- Chuyện đâu còn có đó, bà coi kỹ lại xem, hay bà có cho ai mượn không?
Nói thì nói vậy thôi, ông Mai nghĩ, vì có đời nào vợ ông cho ai rớ tới tiền bạc
của bà đâu. “Kỳ này sẽ tan cửa tan nhà cho mà xem. Cái con mẹ coi tiền trọng hơn
mọi thứ này không vừa đâu”, ông nghĩ. Trầm ngâm một lát, ông nhớ lại những ngày
gần đây Hùng luôn đi sớm về khuya có khi cả tuần ông không gặp. “Chắc nó chứ
không ai! Thôi rồi” ông thở dài “dám nó dính vào xì ke rồi !” Miệng đắng nghét.
Mắt cay xè. Ong âu lo, tư lự. Bà Mai lại oang oang nói như khóc:
-Mất mẹ nó cả hai xấp, mỗi xấp 100 tờ 100.000 nữa! Bà giận dữ quát: không chịu
tìm cho người ta, cứ ngồi đực ra như thế à! Còn thằng ranh con nhà này đâu mất
rồi? Ong không lấy thì chỉ có nó thôi. Bà mà biết, thằng nào bà cũng chém.
Nghe thế, Hùng lẻn ra ngoài, lên xe phóng mất. Mắt cay xè. Thiên đàng như sụp
đổ. Tương lai như khép lại. Bà mà biết Hùng lấy những thứ đó cho Dung, chắc chắn
bà sẽ giết cả hai. Có lần hàng xóm kể: nhà chỉ có hai chị em. Cha mẹ rất giàu
nhưng chết bất đắc kỳ tử khi mới ngoài 40. Vì muốn chiếm trọn gia tài, bà đã đầu
độc em bà cho chết. Cây độc không trái, gái độc không con. Có lẽ thế, nên bà vẫn
chưa có con. Hùng nghĩ: em ruột bà, bà còn xử ác thế, huống hồ, mình chỉ là con
nuôi. Tốt nhất là trốn về quê, không liên lạc gì với Mỹ Dung cho cô được yên
thân.
Đi thi về, Dung nằm bẹp cả tuần lễ. Ngày nào cũng buồn nôn. Dung giật mình: thôi
chết, mình có thai rồi! Dung bắt đầu lo lắng. Cả tuần nay cũng chẳng thấy Hùng
tới, mà cũng không nhận được một tin tức gì. Dung bắt đầu hốt hoảng: không biết
anh có bị sao không? Có khi nào anh cũng bị bệnh như Dung không? Hay anh bị tai
nạn. Lo lắng thế, nhưng Dung vẫn không dám đến nhà Hùng vì biết mẹ Hùng rất khó.
Đang bồn chồn lo lắng, thì Bảo Trân tới. Dung định lánh mặt mà không kịp. Bảo
Trân thân mật nói:
-Dung ơi! Có chuyện này quan trọng lắm, cậu biết chưa?
-Chuyện gì?
- Hùng trốn đi rồi.
- Trốn đi đâu mới được chứ? Sao bồ biết? Dung hốt hoảng hỏi.
- Tớ với Hồng Ánh mới tới nhà, thấy cửa khoá chặt. Nghe hàng xóm nói: nhà mất
vàng mất bạc gì đó, bỏ đi hết trơn cả tuần nay rồi, không biết đi đâu.
Chân tay Dung bủn rủn, đầu óc quay cuồng, muốn té, phải bám vội lấy cạnh bàn.
“Không biết con nhỏ này nói thật hay nói chơi!” Dung tự hỏi.
Chờ đợi đúng một tháng, không còn có thể kiên nhẫn thêm được nữa, Dung đem hết
tất cả các thư Hùng gửi ra đốt, vừa đốt, vừa cay đắng nức nở. Dung dự tính sẽ
mang hết vòng vàng, dây chuyền trả lại cho bà Mai.
Bào thai trong bụng lớn dần. Bây giờ phải tính sao, phá hay để? Dung nhíu mày
nhìn qua cửa sổ, cây phượng trước nhà đã trổ hết bông, nhả đầy những cánh héo
quắt dưới gốc, làm vấy bẩn cả một góc sân.
Phá hay để? Một câu hỏi nan giải khiến cô trằn trọc suốt đêm. “Phá!” Dung quyết
định. Trời đã chuyển sang ngày mới mà Dung vẫn trằn trọc. Tiếng ngáy của ai
không rõ thỉnh thoảng lại chen với tiếng gà khuya eo óc. Bực bội. Dung ngồi bật
dậy. Bước xuống giường, Dung đạp ngay phải một miếng giấy vuông vắn: giấy chứng
nhận đã học giáo lý hôn nhân. Dung nhớ như in có lần cha sở kể: tuần trước, có
dịp lên thành phố, đi ngang qua một nơi nọ, tôi phải chứng kiến một trò vô cùng
man rợ: một số người lớn cầm dao, cầm kéo, cắt đầu, cắt tay trẻ em vô tội quăng
vào thùng rác. Mỗi ngày vài trăm em. Hàng ngàn người đứng xem, trong đó có cả
cha mẹ các em, không một người lên tiếng. Dung còn nhớ, khi cha sở kể đến đó,
Đĩnh, cũng là giáo lý viên, đã ngoài 30, nhưng rất ngây thơ, đứng bật dậy, giận
dữ hỏi: ở thành phố mà ở chỗ nào, cha?” Cha sở ngậm ngùi: “ ở Từ Dũ chứ còn ở
chỗ nào nữa!”.
Dung thở dài thườn thượt, mím chặt môi, nước mắt tràn vô miệng mặn chát: “không!
Không! Không thể thế được!” Nhưng không phá thì phải ăn nói thế nào đây? An nói
làm sao với cha mẹ, với cha sở, với bạn bè và nhất là với các em Dung vẫn dậy
giáo lý cho? “Khi chưa thành vợ thành chồng, thì đừng ăn ở với nhau như vợ
chồng. Hậu quả của việc ăn ở ấy con phải lãnh đủ hết đấy. Tình yêu không phải là
chuyện chăn gối nhưng là tìm hạnh phúc cho người mình yêu”. Những lời căn dặn
của cha cậu bây giờ trở thành thẩm phán buộc tội, đay nghiến, đầy đoạ cô. Lời
châm chích của Bảo Trân: “bồ mà hoảng chưa, thì chỉ có nước độn thổ thôi đấy”
đang bôi tro, trát trấu lên mặt Dung. Tức tưởi, cô đứng dậy, ra mở cửa sổ, thấy
trời vẫn tối om, lại quay trở về giường, khóc thút thít.
Ơ với Thúy Liễu cả tháng nay, ngày nào Dung cũng phải ôm mặt khóc một mình. Thúy
Liễu ở chung với hai người nữa, đều là tiếp viên nhà hàng. Tuyết Lan quê ở Cần
thơ, bị bố dượng làm nhục, bỏ nhà lên thành phồ, rơi ngay vào tay Tư đểu, bị bắt
phải tiếp khách, được bao nhiêu nó lột sạch, hiện còn thiếu nợ cả chục triệu.
Cẩm Tú ngổ ngáo hơn, bỏ nhà đi bụi từ lúc 12 tuổi, hút chích đã từ lâu, nên phải
bán trôn mà hút. Ngày nào Mỹ Dung cũng phải nghe Thúy Liễu lải nhải: “bà để làm
gì không biết nữa! Nó không có bố, ai nuôi nó? Phá đi thôi!” Tiền bán sợi dây
chuyền mỗi lúc một cạn dần. Phải chờ tới 6 tháng nữa mới sinh, sinh rồi lấy tiền
đâu mà sống. Nghĩ thế, Mỹ Dung đành nhắm mắt đưa chân, để Thúy liễu dẫn tới nhà
thương Từ Dũ.
Mới 8 giờ sáng mà đã có cả trăm cô gái ngồi chờ, chật hết các ghế. Có cô trẻ hơn
Dung nhiều, mới khoảng 12, 13 tuổi thôi. Thúy Liễu hất hàm chỉ đám đông, nói với
Mỹ Dung: “ đó, bà thấy chưa? Ai cũng như bà thôi. Phụ nữ tân thời có thèm đẻ nữa
đâu. Đẻ thì còn giờ đâu mà thưởng thức cuộc đời nữa!” Chiều hôm ấy, về tới nhà,
Thúy Liễu căn dặn: “ nghỉ ngơi ít bữa cho khỏe rồi đi làm!” Khi mọi người đã
phấn son lòe loẹt, áo quần cũn cỡn đi làm, Mỹ Dung mới thấy xót xa, đau đớn. Cô
úp mặt xuống gối, nức nở: “mi là tên sát nhân, tên đồ tể!” Dung đã đóng một nhát
đinh cuối cùng vào chiếc quan tài của cô giáo lý viên xinh đẹp, đạo đức. Quá khứ
đang bị đẩy dần vào quên lãng. Chẳng mấy chốc, Dung đã trở thành một gái nhảy
chuyên nghiệp, nằm trong vòng tay của hết người này đến người khác.
Hai năm sau, Dung lại đến bệnh viện lần nữa. Thấy Dung ngồi một mình, soeur Hồng
Quế Dòng Đaminh Tam Hiệp sà tới: “ chào em, chị là Hồng Quế, học khoa xã hội
học. Chị đang phải làm luận văn, em có thể giúp chị trả lời phỏng vấn không?”.
Mỹ Dung cắn chặt môi, tự nhủ: “Không! Nhất định không!”
- Em làm ơn giúp chị với! Hồng Quế năn nỉ. Thấy Hồng Quế hiền lành, tội nghiệp,
Mỹ Dung do dự, rồi khẽ gật đầu. Hồng Quế mỉm cười thân thiện thay cho lời cám
ơn, mở máy thu băng đang cầm sẵn trong tay, hỏi:
-Em tên là gì?
- Dạ, Diệu Trinh
- Em bao nhiêu tuổi?
- Dạ, 22
- Em ở quê hay thành phố?
- Dạ, ở quê lên
-Em đến đây lần này là lần thứ mấy?
- Dạ, lần thứ hai
- Em có thấy phá thai là một tội không?
- Dạ không! Vì nếu là tội thì nhà nước đã không cho phép, và chắc chắn ở đây sẽ
không đông như thế này!
- Em có gia đình chưa?
- Dạ chưa?
- Đã yêu lần nào chưa?
Hình ảnh Hùng hiện lên trong đầu Dung. “Mẹ kiếp, tên phản bội!” nước mắt chực
trào ra, Dung cắn chặt môi cố dằn cơn giận xuống.
- Hoàng Thị Mỹ Dung. Y tá gọi.
Hồng Quế tắt máy, nói: cám ơn em, chị là soeur Hồng Quế, chị thường xuyên có mặt
tại đây, khi nào cần gì, em cứ đến!
Vừa đi Dung vừa lẩm bẩm: mẹ kiếp giờ này mà con xơ với múi, tội với lỗi cái quái
gì không biết. Bà làm gì kệ xác bà, miễn là bà không ăn bám thằng cha, con mẹ
nào là được rồi.
Chiều hôm ấy trở về, Dung thấy mệt mỏi, đau đớn lạ thường. Nằm ở nhà một mình,
Dung thèm khát những âm thanh điệu nhảy cuồng loạn nơi vũ trường. Dung ngồi bật
dậy, mở cassette, vặn hết volume, cố phá vỡ bầu khí im lặng ngột ngạt trong
lòng. Mưa bắt đầu ập xuống, đập phành phạch vào mái tôn, bắn tung toé vào cả chỗ
Dung nằm. Dung run lên cầm cập, bò dậy rút thuốc ra đốt hết điếu này đến điếu
khác. Miệng đắng nghét. Mắt cay xè vì khói. Bụng quặn đau. Máu lại rịn ra ướt
hết mông quần. Sợ quá, Dung với lấy chai rượu sát chân giường, tu một hơi dài.
Rượu vương vãi, ướt từ cổ xuống. Trong cơn say túy lúy, Dung nằm vật xuống
giường, thiếp đi.
Ít năm sau, Dung lại có thai lần nữa. Lần này, phá xong, bác sĩ đưa cho Dung kết
quả xét nghiệm HIV dương tính. Cầm bản án tử hình, Dung ấp vào người, cười ngạo
nghễ, man dại. “Đã đến giờ giải thoát”. Dung tự nhủ: Tư đểu, Thúy Liễu, Cẩm Tú
sau khi gieo chết chóc cho nhiều người đã về chầu diêm vương. Nay đến lượt ta.
Ta mang mầm chết đi chơi. Tên nào ham ta bán. Dung lại cười man dại.
Đang lang thang vô định trên hè phố, Dung gặp một khách xộp, trả cho cô một vé
chỉ để chụp lấy mấy kiểu hình.
Nhan sắc tàn tạ. Hết tiền, Dung lang thang hết Tao Đàn lại tới Văn Lang, có khi
nằm bẹp trên hè phố. Một lần đang trên đường tới Tao Đàn, Dung quị xuống phố nào
không rõ. Mở mắt ra, thấy mình nằm trên nệm ấm êm, hỏi ra mới biết đó là Mai
Hòa. Tỉnh lại được ít phút Dung lại thiếp đi. Thấy đã hai, ba ngày Dung vẫn
trong tình trạng hôn mê, Diễm Lệ hỏi:
- Chị này có tỉnh lại được không, My?
Huyền My cầm lấy bàn tay khô khốc của Mỹ Dung, nghe ngóng:
- Chưa đi đâu, ít ra cũng phải được cả tháng nữa! Ai đưa cô ta vào đây ha?
-Chẳng biết nữa. Hình như cô ta bị xỉu dọc đường, được đưa vào bệnh viện rồi
bệnh viện chuyển xuống đây.
Trong cơn mê man, Mỹ Dung nghe như có tiếng ai đang hát. Tiếng hát rõ dần. Hình
như ca đoàn đang hát lễ: Chúa đến thăm con, xin ở luôn với con. Nuôi con bằng
bánh hằng sống… ở là ở cùng con, xin Chúa ở là ở cùng con. Lời hát đưa Dung trở
về với thời cô còn là giáo lý viên. Những khuôn mặt dễ mến của Minh, Hưng, Hùng,
Yến, Chi, Lan… hiện lên trong đầu Dung. Cứ mỗi lần Dung dạy giáo lý là Hưng lại
bắt Dung cho lớp hát bài này. Hưng hát say sưa, hát quên cả trời đất. Mắt nhắm
nghiền. Miệng há hốc, hát với tất cả con người. Mới chỉ 6 năm thôi mà ngày ấy đã
xa xôi như muôn thuở vọng về. “Tôi đã dạy cho người ta: xin Chúa ở cùng con; còn
tôi, tôi lại xua trừ Ngài. Dung bật khóc, để mặc cho nước mắt trào tuôn. Thấy có
ai lau mặt cho, Dung cố ngăn giòng lệ, nhẹ nhàng mở mắt.
- Chào em, chị là Thanh Thảo, coi sóc trung tâm này.
Dung gật đầu chào, cố gượng ngồi dậy. Thanh Thảo can:
- Em cứ nằm yên cho khỏe. Em cần gì cứ cho chị biết.
- Hình như ở đây có lễ phải không chị? Dung hỏi.
- Không có lễ hằng ngày đâu, chỉ được mỗi tuần một lễ vào chiều thứ bảy thôi.
Dung ngậm ngùi nhớ lại, 6 năm về trước, cứ mỗi chiều thứ bảy Dung thường làm
việc kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp với Bảo Trân, Kim Yến, Thanh Bằng… vậy mà bây
giờ… Dung lại bật khóc, rồi lấy mu bàn tay lau đi giòng lệ đang ứa tràn.
- Cha sở đến dâng lễ à chị?
- Không, các cha trên thành phố xuống. Cha Thân, cha Tước Dòng Chúa Cứu Thế; cha
Hoàng, cha Chính Dòng Đaminh, mỗi cha một tuần.
Nghe tên cha Chính Dòng Đaminh, Dung hồi hộp hỏi:
- Có phải cha Hoàng Minh Chính không chị?
- Chị không biết, chị không hỏi, chị chỉ biết là cha Chính thôi.
- Trẻ hay già?
- Trẻ măng, mới chịu chức, khoảng trên dưới 30 thôi.
- Người cao cao, da ngăm ngăm, lưng hơi gù gù, đeo mắt kiếng, nói giọng miền Nam
phải không chị?
- Đúng rồi! Ngài vừa dâng lễ xong, về thành phố mất rồi. Thôi em nằm nghỉ nha!
Dung lại bật khóc, cắn chặt môi. Đúng anh Chính của mình rồi. Anh đã làm linh
mục, còn em đang nằm dưới đáy vực thẳm. Dung khóc thật lâu. Nước mắt làm ướt cả
một mảng gối. Hình ảnh của từng người thân trong gia đình lần lượt hiện lên.
Không biết bố mẹ có khỏe không. Thằng cu Tiến, con anh Hai, khi Dung đi, mũm mĩm
như hạt mít, đang lững chững biết đi, không biết bây giờ ra sao. Ngày anh Chính
chịu chức, không biết cậu Ba có về không. Từ ngày ra đi, Dung đã không một lần
trở lại, không thư từ liên lạc. Dung nhớ lại, trước đây cứ mỗi lần nhà có ai đi
vắng, hơi khuya một chút, chưa thấy về là mẹ lại đứng ngồi không yên, đi ra, đi
vào, thở dài, lo lắng. Chắc bà đã phải chết lên chết xuống vì mong tin mình.
Dung lại bật khóc. Bố kín đáo hơn, nhưng cái gì cũng dành cho con. Có lần ông ôm
Dung, nựng hồi lâu rồi hỏi: “ mai mốt lớn, con có nuôi ba không?”. Dung không
nói, lặng lẽ giơ tay sờ râu ông, rồi áp sát mặt lên khuôn mặt ông sạm nắng. Bây
giờ sao tôi lại ra nông nỗi này. Tôi đã thành vết thương luôn luôn rướm máu của
cha mẹ tôi. Bây giờ nếu có ai biết tôi chết vì sida, tôi sẽ lại thành nỗi nhục
của gia đình, gia tộc tôi. Không, nhất định không! Tôi sẽ không cho ai biết
chuyện của tôi.
Đây không phải là lần đầu tiên Mỹ Dung bị dằn vặt sâu xé như thế. Từ khi phá
thai lần thứ nhất, cô vẫn sống nhưng lòng cô đã thành bãi tha ma. Ba đứa con cô
chưa hề biết mặt đã từng là những nhát dao đâm xoáy vào tim lòng cô, lúc này như
đang xỉa xói: “quân gian ác, đồ nhờm tởm, tên đồ tể khốn kiếp!” Bụng lại quặn
đau. Mắt đờ đẫn. Xa xa tiếng cú kêu cứ đều đều mất hút trong đêm.
Dung nhìn lại đời mình, 6 năm qua: 3 lần phá thai; đêm nào cũng chơi bời trác
táng; những ngày gần đây lại còn rạch giỏ, móc túi, mất hết đức tin. Càng nhìn
lại, Dung càng đau đớn tự nhủ: không biết Chúa có chịu tha thứ cho tôi không.
Nếu Chúa chịu tha đi nữa, các con tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho tôi. Chúng có
tội gì đâu mà tôi đã nhẫn tâm giết chúng, giết tới 3 đứa. Chỉ vì ích kỷ, vì muốn
hưởng thụ, vô trách nhiệm, tôi đã làm mất chính tôi, đã thành mụ sát nhân, sát
hại chính con ruột mình. Cái chết của chúng đã không làm tôi sống thêm được một
vài gang tấc, trái lại đã làm cho tôi chết mau hơn, chết đau đớn, tức tưởi hơn.
- Đêm qua, em có ngủ được không? Thanh Thảo hỏi
- Trằn trọc lắm soeur ạ! Em buồn quá! Dung gục mặt khóc.
- Thưa soeur, có cha tới. Dũng một bệnh nhân sida nói với Thanh Thảo. Hình như
có người muốn xưng tội thì phải.
Nghe thấy thế, Diễm Lệ từ phòng trong bước ra, tay vẫn còn cầm khay băng, kéo.
- Cha Thân Dòng Chúa Cứu Thế phải không? Mời cha vào đi. Diễm Lệ nói nhỏ với
Thanh Thảo đang đứng bên cạnh giường Mỹ Dung. Anh này có đạo, bỏ xưng tội từ khi
rước lễ lần đầu, đâm thuê, chém mướn, giết không biết bao nhiêu người.
- Tội nặng thế, Chúa có tha không chị?
- Tội nào mà Chúa chẳng tha! Diễm Lệ đáp.
Cha Thân tươi cười gật đầu chào mọi người, rồi vào thẳng phòng trong,
- Chào anh Long.
Long gật đầu đáp lễ.
- Anh hãy tin tưởng vào Chúa nhé! Tội nào Chúa cũng tha hết. Ta có khác gì cô
gái bị bỏ trong Ezekiel đâu. Khi cô vừa sinh ra, chẳng ai quan tâm đến cô, vứt
cô bên đường. Chúa đi ngang, thấy cô đang còn giãy giụa trong máu, thấy cô tội
nghiệp quá, Chúa bảo: hãy sống và hãy nẩy nở như chồi lộc ngoài đồng. Cô đã sống
và đã nảy nở như chồi lộc ngoài đồng. Chúa lại đi ngang qua lần nữa, thấy cô đã
khôn lớn mà vẫn tô hô trần truồng. Chúa đã xoè vạt áo, che đi cái lõa lồ của
thân thể cô. Chúa đã ký kết giao ước với cô. Cô là của Chúa. Chúa là của cô.
Chúa đã nuôi dưỡng cô bằng cao lương mỹ vị, đã trang sức cho cô bằng lụa là gấm
vóc, đã ban xuyến đeo tay, ban kiềng đeo cổ, đã xỏ khuyên vàng vào lỗ tai cô. Cô
đã nên xinh đẹp quá chừng, quá đỗi. Nhưng cô đã sử dụng sắc đẹp ấy mà đi đánh
đĩ. Thế nên Chúa đã nổi cơn thịnh nộ, nguyền rủa cô: khốn cho ngươi, khốn cho
dòng giống ngươi sinh ra… nguyền rủa xong, Chúa lại an ủi, nhưng thôi nếu ngươi
có rẻ rúng lời thề mà quên bỏ giao ước Ta đã ký kết với ngươi, thì Ta, Ta sẽ
không bao giờ quên bỏ giao ước Ta đã ký với người thưở ngươi còn niên thiếu.
Ngưng lại một chút, cha Thân tiếp:
- Anh Long ạ, Chúa đã cho ta tất cả mọi sự để ta sống bình an, hạnh phúc ngay
hôm nay, nhưng ta đã phung phá tất cả, đã quăng đi tất cả. Thế nhưng Chúa vẫn cứ
thương ta. Ta vẫn mãi là của Chúa, Chúa vẫn mãi là của Ta. Ta có đi hoang, Chúa
vẫn tìm kiếm, đi hoang cả đời, Chúa vẫn đợi chờ ta. Từ nay cho đến muôn đời, nơi
ta bao giờ cũng có Chúa, và nơi Chúa bao giờ cũng có ta. Thiếu ta, nơi Chúa như
vẫn thiếu một cái gì đó. Nên không gì có thể tách Chúa ra khỏi ta, ta ra khỏi
Chúa. Chúa là như thế đó. Lúc này đây, Chúa đang nói với anh: nếu ngươi có rẻ
rúng lời thề mà quên bỏ giao ước Ta đã ký kết với ngươi, thì Ta, Ta sẽ không bao
giờ quên bỏ giao ước ấy. Chúa vẫn đợi chờ anh trở về, vậy hãy trở về với Chúa,
hãy trao phó cả cuộc đời tội lỗi của anh trong tay Ngài. Ngài sẽ tẩy rửa cho
sạch. Vì anh là của Chúa.
Những lời ấy như rót vào tai Mỹ Dung. “ Chúa đã cho tôi tất cả, để tôi sống hạnh
phúc: cho tôi một gia đình đạo đức, cho tôi học giỏi, đẹp gái, ăn nói duyên
dáng, hấp dẫn nhưng tôi đã dùng tất cả những thứ ấy để đi đánh đĩ”. Dung lại nức
nở. “Nhưng Ngài vẫn không quên bỏ giao ước Ngài đã ký kết với tôi. Ngài vẫn đợi
chờ tôi. Cả khi tôi bị mọi người ruồng rẫy, hất hủi, Ngài vẫn không quên bỏ tôi.
Khi tôi quị ngã trên đường, vất vưởng như con chó đói, thì chính Ngài đã đưa tôi
vào đây, đã nói khó với tôi, để tôi trở lại với Ngài, để Ngài lại được là của
tôi, tôi lại được là của Ngài”. Dung lại bật khóc.
Hôm ấy, xưng tội, rước lễ xong, Dung tươi tắn nói với Thanh Thảo: “khi em chết,
em chỉ xin soeur một điều thôi. Xin soeur hãy nhắn gửi các bạn trẻ dùm em: tình
yêu không phải là chuyện chăn gối mà là tìm kiếm hạnh phúc cho người mình yêu.
Yêu cuồng sống vội là tự sát”.
Hôm sau, trong nắng chiều tàn tạ, thắp cho Mỹ Dung một nén nhang xong, Thanh
Thảo lặng lẽ nhìn khói nhang nghi ngút phủ mờ quách đựng cốt Mỹ Dung. Tiếng
dương reo vi vút khiến Thanh Thảo có cảm giác như Dung đang thì thầm: yêu không
phải là chuyện chăn gối nhưng là tìm kiếm hạnh phúc cho người mình yêu. Yêu
cuồng sống vội là tự sát”. Thanh Thảo thơ thẩn ra về. Chân trời phía tây rực lửa
hoàng hôn.
Suốt cả tuần nay, mưa vẫn cứ rả rích. Biển vẫn ầm ầm sóng vỗ. Ơ xóm chài nhỏ
này, mưa bao giờ cũng dai dẳng như thế. Không đi biển được, người ta, kẻ thì
quần đùi, kẻ thì áo thung ba lỗ, lại tụm năm tụm ba đánh tiến lên, xập xám, tứ
sắc, hoặc bày bàn nhậu, la lối như mổ bò.
Trời đã gần trưa, dân đánh tiến lên nhiều tụm đã lục tục giải tán, vậy mà Minh
vẫn năm chèo queo trong căn nhà nhỏ, cửa khoá chặt. Về đây đã 6 năm, Minh vẫn
chưa quen được với ai. Sáng xách cặp đi dạy, chiều về lại thui thủi một mình, có
hôm chẳng buồn nấu ăn, chỉ uống nước cho qua bữa. Mưa vẫn cứ rả rích, như gõ vào
lòng Minh những âm thanh u buồn, bi thảm. Sáu năm về trước, tại Phước Nguyên,
mưa cũng miên man vô tận thế này. Cứ mỗi lần Phước Nguyên hiện về trong trí
Minh, thì bao giờ hình ảnh Thái, đứa con yêu quí duy nhất của Minh cũng khi ẩn
khi hiện, nhạt nhoà trong đám dừa xanh. Lúc thì Thái cười toe toét, khi thì ôm
mặt khóc, lúc thì bi bô đủ thứ, khi lại lặng lẽ nép mình vào tường, tay mân mê
rèm cửa. Chưa bao giờ, Minh nhớ Thái da diết như lúc này. Mắt Minh cay xè. Môi
rung rung. Tay nắm chặt lấy thành giường.
- Chú Minh ơi, chú Minh ơi, cứu tôi, cứu tôi với! Giọng ai thật quen thuộc, cùng
với tiếng đập cửa thình thình, hoà lẫn với đủ mọi thứ âm thanh hỗn loạn, tiếng
chân chạy thình thịch, tiếng nước tung tóe, tiếng la lối, giận dữ của một đám
thanh niên cuồng loạn, trai có gái có, đã kéo Minh bật dậy khỏi giường. Minh vội
vã ra mở cửa. Mọi người im lặng nhìn Minh, rồi lại nhìn nhau. Tiến, một học trò
cũ của Minh, giơ tay vừa đấm cho người đang cởi áo mưa một đấm, vừa nói:
- Mẹ kiếp, quân ăn cắp chó!
Cởi áo mưa xong, Tịnh giận dữ nhìn mọi người, nhưng lại ôn tồn nói: “các ông bà
nhìn kỹ lại xem, tôi ăn cắp chó hồi nào!”
Mọi người lại im lặng. Mưa vẫn rơi. Minh trợn tròn mắt khinh khỉnh nhìn đám
người cuồng loạn. Bỗng một thanh niên lạ hoắc, có lẽ là tên đầu xỏ, la lớn: “
không phải rồi tụi bay, về thôi!”
Cả đám thanh niên trần trùng trục kéo nhau đội mưa về. Tịnh mỉm cười thân thiện
nhìn Minh nói: “hôm nay không có chú, chắc là tớ no đòn với bọn nhãi ranh ấy
rồi. Sao, chú có khỏe không?”
-Bác đội mưa tới đây làm gì để bị tụi nó đánh cho như thế không biết! Minh lạnh
lùng nói.
- Tôi đi thăm chú đấy, xem chú sống chết ra sao. Nói xong, Tinh nhìn lên giường
thấy mùng vẫn còn nguyên, hỏi tiếp: “chú vẫn còn đang ngủ à!”
Minh vẫn im lặng, nhìn ra ngoài. Mưa đang thưa dần. Trời đã bắt đầu sáng.
-Chú đã cơm nước gì chưa?
-Chán chẳng muốn ăn!
Tịnh nhìn Minh thông cảm nói: “thôi, dậy mặc quần áo đi ăn với tớ!”
Quán ăn đầu làng vắng teo, chỉ có Minh và Tịnh. Mưa như thấm vào mọi thứ trong
quán. Bàn ghế, chén bát, cái gì cũng ướt. Vừa ăn, Tịnh vừa kể: tuần rồi tớ bị
một vố đau điếng nhưng cũng tức cười. Quân kinh tế mới xin tớ tới làm lễ. Tới
nơi, tớ định dắt xe qua chiếc cầu mới làm. Một anh chàng bảo vệ hống hách, chống
nạnh quát: “đi lối khác!” Thế là tớ dựng xe, đứng lì tại chỗ. Quá giờ lễ, cả nhà
thờ xôn xao, vì không thấy cha đâu. Các ông biện, ông trùm chạy ra, chạy vào,
lóng ngóng. Một ông chạy ra tận đường ngó, chẳng thấy ai, buột miệng: “trễ 15
phút rồi, sao cha chưa tới!” Nghe thế, tớ bảo: “cha đây! mà tại chúng nó không
cho cha vào, nên cha phải đứng đây đây!”. Ông chạy vội lại, xin lỗi ríu rít.
Minh nhếch miệng cười: “ông nông dân quá, đến dân làng chài này cũng tưởng lầm
ông là tên ăn cắp chó”.
-Tại mắt tụi nó, chứ đâu phải tại tớ. Tịnh cười hóm hỉnh.
An xong, Minh hỏi: “này, tôi hỏi thật bác, bác tìm tôi có chuyện gì không đấy?”
-Không! Tới thăm chú thôi mà!
Tịnh là linh mục con cùng cha bố với Minh. Bố chết đã 3 năm. Tịnh muốn mời Minh
dự lễ giỗ mãn tang, ngặt nỗi, Minh không có cảm tình với cha già. Hôm cụ chết,
đưa tang cho nó, nó không đội, nhét vào túi, Tịnh không biết phải ăn nói sao với
Minh bây giờ. Chuyện thứ hai quan trọng hơn. Đó là chuyện vợ chồng Minh. Hai đưa
chia tay 6 năm nay rồi. Vợ Minh vẫn sẵn sàng hàn gắn vì tương lai của con. Minh
thì cứ nhất định không. Khuyên nó gẫy cả lưỡi, nó chỉ trả lời gọn thỏm: “tôi
không phải là chó, ói ra ăn lại!”
-Có gì cứ nói, miễn là đừng nói chuyện cũ!
-Tôi chở chú về đã rồi tính!
Trời lại chuyển mưa. Mưa quất phần phật vào mắt, mũi Tịnh, vừa đau, vừa rát, vừa
không thấy đường, loạng choạng xém té.
- Tắp vào nhà thờ đã! Minh nói.
-Chỗ nào?
Con hẻm trước mặt, quẹo phải!
-“Mưa to quá!” Vừa nói Tịnh vừa gỡ kính ra lau, “quất vào mặt mình đau như sáng
nay bị tụi nó đánh vậy. Nhà thờ này có cha chưa?”
-Có rồi. Ông cha gì cũng học ở chủng viện Xuân Lộc… Minh nheo mày suy nghĩ: cha
Nghĩa!
-Người thâm thấp, mắt to to, mặt tròn tròn…? Tịnh hỏi.
- Đúng! Chính hắn!
- Ông ấy dễ thương lắm đấy, chú ơi! Rất thân với tớ. Vào thăm hắn đi!
-Vào thì vào!
Tới nhà xứ, Minh gõ cửa.
- Mời vào!
- Con chào cha sở ạ! Tinh tinh nghịch nói.
- Ơ Tịnh! Sao cậu lại lạc vào đây? Nghĩa ngạc nhiên hỏi.
Tịnh giơ tay chỉ Minh nói: đi thăm chú em đây.
- Chào anh. Nghĩa giơ tay bắt tay Minh.
- Chào cha, con là Minh, giáo dân của cha.
- Vậy hả? Sao tôi chưa bao giờ thấy anh. Bắt tay Minh xong, Nghĩa gọi với xuống
bếp: lấy nước Tiến ơi!”
Tịnh và Nghĩa say sưa nói chuyện, quên cả Minh. Từ chuyện ở tiểu chủng viện cách
đây vài chục năm, đến chuyện đi giúp xứ, chuyện tĩnh tâm, cấm phòng… Mãi chẳng
thấy Tiến mang nước lên, Nghĩa sốt ruột, xuống nhà dưới, bưng lên một khay. Nước
trà đã lạnh tanh, vừa rót Nghĩa vừa lẩm bẩm: “cái thằng này hôm nay làm sao
không biết, bảo nó mang nước lên, nó lại để dưới bếp”.
Chợt nhớ tới chuyện ban sáng, Minh nói: “nó không dám đem lên đâu!”
-Sao vậy? Nghĩa hỏi.
-Sáng ông Tịnh mới bị nó đấm cho một đấm nên thân.
-Thật hả, Tịnh?
-Thật! Tớ đi tìm nhà chú Minh, có tới đây bao giờ đâu mà biết. Tớ vừa tắp vào
hỏi một ông già xong, thì một đám thanh niên trần trùng trục ào ra, đuổi theo la
ơi ới. Tới nhà Minh, tớ đang cởi áo mưa thì bị thằng nào không biết, đấm cho một
đấm, hiện vẫn còn đau, bảo tớ là quân ăn cắp chó. Tịnh vừa nói vừa rờ gáy.
Nghĩa thở dài ngao ngán, hỏi: “ mà có chính xác là thằng Tiến không?
- Chính xác 100%, nó là học trò cá biệt của con mà!
-Anh nói đúng, nó là thằng cá biệt, may mà hôm nay nó không mang gậy gộc, nếu
có, tớ không biết phải ăn nói thế nào với cậu, Tịnh ạ!
- Mặt tớ thế này mà nó bảo là quân ăn cắp chó, thật chán cái bọn không có mắt!
- Có mắt, nó mới đánh trúng ông chứ! Mà phải công nhận tụi nó nhìn không sai
mấy, ông trông cũng giống như thế thật! Minh nói. Cả ba cười ồ khoan khoái.
- Lần sau đi, nhớ mặc áo dòng vào để khỏi bị đánh oan. Nghĩa căn dặn.
-Càng bị đánh bạo hơn. Minh xen vào. Vì nó tưởng là linh mục giả.
Cả 3 lại cười ồ. Lâu lắm rồi, hôm nay Minh mới được cười đã như thế.
- Vậy Minh cũng tu à? Nghĩa hỏi.
- Ừ! Học hết thần 2 rồi mới ra. Cùng con cha già Nghiễm với tớ đấy.
- Cậu con cha già Nghiễm à? Tớ giúp ngài hai năm đấy.
- Tuần sau giỗ mãn tang cụ, tớ muốn họp mặt con cái cụ lại lần cuối, hiện vẫn
chưa biết họp ở đâu.
- Ở đây đi, tớ bao hết, đông không?
- Khoảng trên dưới 20 thôi.
- Đâu có bao nhiêu, thôi về đây nhé!
- Cám ơn Nghĩa để tớ báo tin cho mọi người. Tịnh quay sang Minh thân thiện nói:
“mời chú Minh tuần sau nha!”. Minh gượng cười, miễn cưỡng gật đầu. Mặt lại ủ
dột. Bên ngoài trời đã hết mưa. Minh đứng dậy cáo từ.
Tối hôm ấy, Nghĩa, Tịnh thức, nói chuyện đến gần sáng.
- Hai năm ở với cụ Nghiễm là hai năm sung sướng nhất đấy Tịnh ạ! Thật khó có thể
kiếm được một linh mục nào thánh thiện hơn cụ. Nghĩa nói.
- Cụ là con đường đi lên hạnh phúc của tớ đấy. Nhờ cụ mình mới được như hôm nay,
nếu không sáng nay khi bị “giáo gian” của cậu tấn công, chắc chắn có đổ máu.
- Minh ở với cụ lâu không?
- Trước tớ hai năm.
- Hình như nó không được bình thường mấy thì phải? Không vui, không bình an,
không có sức sống.
- Đúng! Nó ghét cụ Nghiễm kinh khủng, nó bảo sống như cụ là ngu, là khùng, là
mát. Bây giờ cũng vậy, hễ cứ nhắc tới cụ là nó lại dị ứng.
- Sao vậy?
- Người ta kể, bố nó là một tên bợm nhậu, sáng say chiều sỉn. Đi ra khỏi nhà thì
thôi, hễ đã về đến nhà là lại lôi vợ con ra, bắt quì gối tra khảo có khi suốt
ngày, thường là suốt buổi sáng, không làm ăn được gì, nên đã nghèo lại càng
nghèo thêm. Nhà nó chỉ có hai anh em, thấy bố nó tàn ác quá, mẹ nó đành gửi em
nó về ngoại, nhà ngoại ở đâu cho đến nay nó cũng không biết. Lúc đầu ông chú nó
cũng ở bên cạnh nhà nó, nhưng vì bố nó sỉn, chửi bới ông quá, nên gia đình ông
đã phải bồng bế nhau đi đâu cũng chẳng ai biết. Mẹ nó bỏ đi được một tuần thì bố
nó thắt cổ chết. Nó bơ vơ. Cha Nghiễm nhận về nuôi. Tám tuổi mới được cắp sách
tới trường. Ngài thương nó hơn tớ nhiều vậy mà chẳng hiểu sao, lúc nào nó cũng
ghét Ngài.
Nghĩa vẫn nhìn đăm đăm vào khoảng không tối đen trước mặt, nói: “thật tội
nghiệp, đời nó quá nhiều nghiệt ngã. Nó có gia đình chưa?
-Có rồi, được một thằng cu kháu ra phết. Vợ nó cũng dễ thương, lịch sự, hiếu
nghĩa và đảm đang lắm. Nhưng hai đứa đã bỏ nhau 6, 7 năm nay rồi.
- Sao thế?
- Cũng tại nó, lúc nào cũng bất mãn, chửi hết người này đến người khác, chửi vợ
đã vậy, chửi luôn cả bố mẹ vợ lại còn đào cả tổ tiên nhà vợ lên mà chửi, nên bị
bố vợ tống cổ đi.
- Nó bệnh hoạn thế, ai cho nó vào chủng viện?
- Cha già tưởng vào chủng viện nó sẽ khá ra.
- Khá thế nào được mà khá! Chủng viện chứ có phải là bệnh viện đâu! Trầm ngâm
một lúc Nghĩa tiếp: gia đình quả là vô cùng quan trọng trong việc hình thành con
người, Tịnh ạ! Nghĩa với ly nước, đứng dậy, bước ra phía hành lang nghe ngóng
như sợ có ai đang nghe lóm. Rồi bước về chỗ kể: thằng Tiến cũng thế đấy! Tớ nhớ,
có lần khi còn ở Phước Hòa, vừa làm lễ xong, mệt nhoài, quần áo ướt nhẹp mồ hôi.
Tớ đang trên đường về thì một bà khoảng 40 tuổi, mắt đỏ hoe, chặn tớ lại, nói:
- Thưa cha, xin cha nhín cho con ít phút, con đang có chuyện buồn.
- Chuyện gì? Mình thông cảm nói.
- Con có đứa con xì ke. Con năn nỉ nó mãi, hôm nay nó mới chịu tới gặp cha, xin
cha khuyên nó vài lời dùm con.
Tớ mời bà vào phòng khách. Bà bước vào, đứa con gái cũng vào theo, khóc bù lu bù
loa, kể về thằng con khốn khổ của bà. Tớ hỏi: “nó đâu rồi?”. Bà bảo: “ nó đang
chờ bên ngoài”. Bà lấy tay áo gạt nước mắt nói: “ để con kêu nó vào”.
Tiến bước vào. Trông nó không có vẻ gì là xì ke cả. Tớ mời Tiến ngồi. Nó ngồi.
Mắt cứ dán chặt xuống đất, thỉnh thoảng lại lơ đễnh, đảo mắt nhìn theo chiếc
quạt đang quay.
-Thưa cha. Chị Tiến im lặng suốt từ đầu, bây giờ mới lên tiếng: “ hôm qua nó ghé
thăm con, cuỗm mất chiếc điện thoại di động”. Nói tới đó, cô bật khóc.
- Con đã lo cho nó đủ mọi sự, nó muốn gì được nấy, muốn xe máy, có xe máy; muốn
tivi, đầu máy, có tivi, đầu máy, muốn vi tính, có vi tính; vậy mà nó lại dính
vào xì ke, bán sạch bách mọi thứ. Tiến căm phẫn nhìn mẹ, xỉa xói:
- Bà lo cho tôi cái gì! Tôi cần tình thương mà bà có cho tôi đâu. Mẹ con bà bỏ
tôi đi, suốt từ sáng đến khuya, khi tôi đã ngon giấc từ lâu mới về. Về tới nhà
là la lối om xòm, có hôm còn dựng đầu tôi dậy, chửi mắng, đánh đập. Nhà lúc nào
cũng lạnh tanh như nghĩa trang. Tôi cũng đi chơi với các bạn cùng lớp, nhưng chỉ
tới nhà tụi nó một lần, không dám đến lần thứ hai vì tủi nhục. Bố mẹ tụi nó lúc
nào cũng ở bên cạnh chúng, gia đình chúng lúc nào cũng nồng ấm tình người. Còn
nhà mình thì có mọi thứ nhưng lại trống huếch trống hoác, y như bãi tha ma.
Không chơi được với những đứa đàng hoàng, tôi phải bạn bè với những đứa ở đầu
đường xó chợ. Chúng nó xấu thật, nhưng chúng vẫn hơn tivi, đầu máy, hơn vi tính.
Nước mắt Tiến dàn dụa, lăn dài trên gò má, rơi xuống đất. Tiến nghẹn ngào, nức
nở… Trầm ngâm giây lát, Nghĩa tiếp: đời thật lắm nhiêu khê. Nhiều cha mẹ đang
đẩy con cái vào chỗ chết nhưng lúc nào cũng tưởng là mình vô tội”. Im lặng một
lúc, Nghĩa tiếp: “ biết Tiến không bao giờ có thể ở được với gia đình, tôi mới
đưa nó về ở với tôi, liều thật, nhưng biết sao được. Là linh mục, mình không cứu
nó, thì còn ai cứu nó được! Bây giờ hết xì ke rồi, chỉ còn mỗi tội hung hăng.
Thôi, khuya rồi, đi ngủ Tịnh ạ!
Tuần sau, đi dự lễ mãn tang cha già Nghiễm chỉ có khoảng trên dưới 20 người.
Trong đám người ấy, ngoài các soeur ra, vẫn còn lác đác một vài vành khăn trắng.
Không thấy Minh đâu, Trí hỏi Tịnh: “ Minh không tới à!”
- Có, nó đang ngồi ngoài tháp chuông.
Thấy Minh vẫn trơ trọi một mình, ngồi chồm hổm, hai tay bưng lấy khuôn mặt nặng
chịch. Trí bực bội nói: “ sao cậu cứ buồn mãi thế! Đừng đầy đọa mình như thế
chứ! Vui lên! Mình sinh ra đâu phải để ôm mặt khóc cả đời”.
- Đã tới giờ lễ, xin mời anh chị em vào nhà thờ. Nghĩa tươi cười mời mọi người.
Hôm ấy, cha Bình, dòng Phanxicô, anh em linh tông với cha già Nghiễm, mới đi du
học về, chủ tế và giảng, Tịnh, Nghĩa đồng tế. Minh vẫn dửng dưng, hờ hững, không
thưa kinh, cũng chẳng buồn giơ tay làm dấu. Suốt thánh lễ, mắt vẫn nhắm nghiền,
đầu ngả vào thành ghế phía sau. Lời của Trí vẫn oang oang trong đầu Minh “mình
sinh ra đâu phải để ôm mặt khóc cả đời”. Trí nói đúng, Minh tự nhủ. Ngày xưa
trong chủng viện, Trí thua Minh mọi mặt, nay Minh thua Trí mọi mặt. Nhưng làm
sao hết được buồn hận bây giờ! Đang suy nghĩ miên man, bỗng Minh mở choàng mắt
khi nghe cha Bình nói: “ta được sinh ra không phải để sống trong u buồn ủ dột mà
để sống hạnh phúc. Ai tự cuộn mình trong bất hạnh là xúc phạm đến mình và đến
Thiên Chúa. Nhưng để được hạnh phúc, ta phải biết tha thứ. Cứ mỗi lần nhìn lên
thập giá Chúa Giêsu, tôi lại nghe như Chúa Giêsu đang cầu xin với Chúa Cha: “xin
cha tha cho họ”.
Các bạn cứ tưởng tượng như ta đang ở trên đồi Golgotha chiều thứ Sáu ấy. Chúa
thoi thóp từng cơn, đau đớn nhục nhã. Dưới chân thánh giá, ngoài đám đông dân
chúng ra, những kẻ đến đó hầu hết là do hiếu kỳ, đám luật sĩ và biệt phái bắt
đầu reo hò đắc thắng, vì đã tiễu trừ được một mối nguy hại cho quyền lợi họ. Có
kẻ hứng chí nói: này, hỡi Giêsu, kẻ tự xưng là Con Thiên Chúa, có ngon xuống
khỏi thập giá đi. Kẻ khác lại nhạo báng: hỡi thầy thuốc, hãy tự cứu lấy mình đi,
hãy xuống khỏi thập giá đi để chúng ta tin! Không một tên nào trong đám gian ác
ấy tỏ dấu ăn năn, thế mà Chúa vẫn tha thứ cho họ. Chính khi tha thứ như thế,
Chúa đã công bố cho tôi, cho các bạn và cho mọi người một Tin Mừng này là: dẫu
ta có giết chết, có đóng đinh Ngài vào thập giá, có chà đạp Ngài xuống tận bùn
đen, thì Ngài vẫn hết mực yêu thương ta. Ta vẫn là của Ngài và Ngài vẫn là của
ta.
Ngừng lại một chút, ngài tiếp: chỉ khi nào ta mặc lấy sự tha thứ này của Chúa
Giêsu mà đối xử với nhau, ta mới có được bình an, hạnh phúc. Các bạn có biết cha
Henri Nouwen không? Ngài đang là giáo sư Đại học, được bổ nhiệm về ở với các em
bị bệnh bại não. Bao nhiêu vốn liếng học thức đều vứt đi hết. Có lần đi làm lễ
sáng, sương mù dầy đặc, không thấy đường, ngài bị tai nạn, bất tỉnh nhân sự mấy
ngày. Khi ngài tỉnh dậy, người ta hỏi: “cha đã nếm được cái chết, vậy cái gì làm
cha khổ tâm nhất khi chết”. Ngài bảo: “cái làm cho tôi nặng lòng, khổ tâm nhất
là những gì tôi đã chưa tha thứ”.
Minh chau mày tự hỏi: phải chăng mình đã chưa tha thứ? Khuôn mặt bặm trợn, râu
ria lởm chởm, người lúc nào cũng chua lòm của bố, khiến Minh phải lợm giọng,
hiện dần lên trong đầu Minh. Minh nghiến răng ken két, chửi rủa xối xả: mi là
tên khốn nạn, mi đã giết hại ta, đã phá tan hoang gia đình ta.
Giọng hùng hồn của cha Bình lại kéo Minh trở về lại với hiện tại: muốn vứt đi
những thứ đang đè nặng tâm can, muốn mặc lấy sự tha thứ của Chúa Giêsu, ta phải
có cái nhìn, tôi không biết phải gọi là cái nhìn gì, thôi ta cứ tạm gọi là cái
nhìn của cha già Nghiễm vậy.Tôi còn nhớ, có lần khi hai anh em đi Đàlạt chơi,
chụp hết một cuộn phim. Ngài kỹ lắm, chỉ những cảnh nào đáng chụp mới chụp thôi.
Về tới nhà, thấy ngài để máy chụp trên bàn. Tôi táy máy, mở toang nắp, làm cháy
hết cả cuộn phim, tôi ngẩn ngơ tiếc nuối, buột miệng: chết cha, cháy mẹ nó hết
cả cuộn phim rồi! Nghe thế ngài bình thản nói: đỡ quá, khỏi tốn tiền rửa, tôi
đang lo không biết moi đâu ra tiền.
Kỳ hè, tôi thường hay về ở với ngài, giúp ngài chuyện này chuyện nọ. Tôi nhớ,
năm ấy tôi chuẩn bị cho khoảng 200 em xưng tội rước lễ lần đầu. Tôi nói với
ngài: chỉ có khoảng 200 em thôi, sáng mai cha chịu khó giải tội cho 120 đứa,
chiều 80 đứa nữa là xong. Ngài mỉm cười, nói: tốt đấy, mai tôi sẽ làm theo lời
chú! Sáng hôm sau, mới giải tội được khoảng một tiếng đồng hồ, ngài ngoắc tôi
lại bảo: chú chuẩn bị xe, chở tôi sang Phước An.
-Làm gì bên ấy?
Ngài ôn tồn bảo: làm lễ cưới hay đám tang gì đó, cha sở mới cho người sang nhờ
sáng nay.
Tôi bực bội nói: còn giải tội ở nhà ai lo! Ngài vẫn làm thinh, tôi đành phải lấy
xe chở ngài đi. Đường xấu, toàn ổ voi, ổ gà. Đến nơi trễ mất 15 phút, đã thấy có
cha khác làm lễ rồi. Tôi bực quá chửi đổng: ông cha này kỳ cục, đã nhờ cha già
sang làm lễ, thì phải chờ ngài chứ, sao lại nhờ cha khác thế này! Nghe thế, ngài
cười khoan khoái bảo:
- Bình ơi! Mình tới làm lễ mà đã có người khác làm dùm cho rồi, đỡ quá,về thôi!
Ở xứ ngài, có ông trùm Tam, lo kẻ liệt, rất sốt sắng nhưng lại hay nghe cò ra
quạ. Có hôm hai anh em đang ăn cơm, ông hớt ha hớt hải chạy vào, nói không ra
hơi: thưa cha, ông trùm Bột hấp hối, cha đến mau kẻo không kịp.
- Trời đánh tránh bữa ăn! Tôi nói.
Ngài lẳng lặng đứng lên, tôi cũng đành phải đứng lên theo. Ra đường tôi còn trẻ
nên đi nhanh hơn. Tới nhà ông Bột, cửa vẫn im ỉm, tôi gõ cửa, ông Bột ra mở cửa.
Tôi hỏi: ông có phải là ông Bột không?
- Dạ phải!
- Có phải ông cần xức dầu không?
- Dạ phải, nhưng tôi xin cha đến chiều cơ!
Tôi tức quá. Vừa lúc ấy, ông Tam cũng tới, tôi chỉ ông Bột nói: như thế này mà
hấp hối à! Cả hai ông nhìn tôi bối rối, chưa biết phải ăn nói ra sao, thì cụ
Nghiễm tới, mỉm cười bảo: “về Bình ơi! Đi xức dầu là cầu cho người ta khỏi bệnh,
đây mình chưa kịp cầu, thì người ta đã khỏi rồi, tạ ơn Chúa!”
Minh gật gù. Hình ảnh cha già Nghiễm càng lúc càng hiện dần lên trong đầu Minh.
Có lần lúc Minh mới 10 tuổi, lúc ấy ngài chưa già lắm. Thấy Minh cứ u uẩn mãi,
ngài nắm tay Minh dẫn đi dạo quanh nhà thờ. Thình lình, ngài dừng lại trước một
bụi hồng nhung, cả chục bông đang hé nở. Ngài kéo Minh ngồi phệt xuống, rồi vạch
gốc ra, ngài bảo: “bụi hoa đẹp thế này, vậy mà có người chẳng thấy hoa, chỉ thấy
phân bón dưới gốc, mà nào có dễ thấy, phải vạch ra mới thấy, lại còn la toáng
lên: đời sao hôi thối thế!” Ngài âu yếm nhìn Minh hỏi: con có thấy thối không?
Không đợi cho Minh trả lời, ngài tiếp: hãy giữ lấy cái hay, cái đẹp của cuộc
đời, cho hạnh phúc nở hoa!
Giọng cha Bình càng về cuối càng hùng hồn: còn một kỷ niệm nữa tôi không bao giờ
quên được với cha già: khi ngài chịu chức, tôi đã phải chắt bóp mãi mới mua cho
ngài được một bình trà. Ngài chẳng thích gì khác ngoài trà. Ngài thích bình ấy
lắm, nâng niu từng ngày. Hôm ấy, tôi đã làm linh mục khá lâu, nhân một chuyến
công tác, tạt ngang thăm ngài. Ngài gọi anh giúp lễ: Thanh ơi, lấy nước!
Cử toạ bắt đầu xôn xao. Pha nước xong thay vì để bình vào đĩa, Thanh lại bê tay
không. Gần tới nơi, nóng quá, chịu hết nổi, Thanh thả bình xuống, bể choang. Tôi
trợn trừng mắt, nói:
- Thôi thế là xong! Bình trà này là kỷ niệm ngày cha chịu chức đó, anh đập nát
40 năm kỷ niệm của cha rồi, làm ăn vô ý vô tứ !
Nghe tôi trách mắng Thanh, cụ vội vàng can thiệp:
- Bình này cũ lắm rồi chú ạ! Cũ quá pha trà uống không tốt! Tôi tính thay lâu
lắm rồi mà chưa có dịp, may quá, mai ta có bình mới.
Cha Bình vừa kể xong, một anh đứng bật dậy, chỉ người bên cạnh nói: “thưa cha,
chính hắn đây!”
Chờ cho mọi người ổn định, cha Bình kết luận: hễ đã là người, ta phải hạnh phúc,
không hạnh phúc là xúc phạm đến Thiên Chúa và đến chính bản thân ta, không hạnh
phúc là hạ mình xuống thấp hơn cả loài vật, chúng không biết đau khổ. Nhưng muốn
hạnh phúc, ta phải biết tha thứ, cái đè nặng tâm hồn bao giờ cũng là những cái
ta chưa thể tha thứ. Để dễ dàng tha thứ, ta cần một cái nhìn tích cực về mọi
người, mọi vật. Đời đầy ắp hoa, hãy giữ lấy hoa mà quên đi gai góc hoặc phân bón
dưới gốc.
Đôi mắt Minh cay xè. Minh nhớ lại có lần khi không say sỉn, bố đã ôm lấy Minh âu
yếm. Minh nũng nịu giơ tay xoa mặt ông hỏi: “bố có thương con không?”. Ong không
nói, bế thốc Minh lên, giơ cao quá đầu ông một lúc, rồi thả Minh ngồi lên đầu
mình. Vừa giơ vừa nói: này thì thương với lại không thương! Khi có con, chiều
nào, Minh cũng bồng Thái theo kiểu ấy. Hình ảnh Thái lại hiện về, 6 năm nay
thỉnh thoảng Minh mới được thấy con, không biết bây giờ nó ra sao rồi.
- Minh, sao còn ngồi đực ra thế! Lễ xong rồi, đi nhậu chứ! Trí nói.
Minh ngồi bật dậy, trả lời như máy: không, tớ không nhậu được, tớ phải về Phước
Nguyên gấp.
Minh phóng như bay. Vừa đi vừa khẽ gọi: ba ơi, tha thứ cho con. Thái ơi, tha thứ
cho ba!
Tìm mãi trong đám tiệc, không thấy Minh đâu, Tịnh hỏi Trí: “Minh đâu rồi?”
- Nó bảo, nó có chuyện phải về Phước Nguyên gấp. Trí đáp.
Tịnh vội vàng lấy xe chạy theo. Minh phóng như bay tới cuối nghĩa trang. Hơn 30
năm nay, đây là lần đầu tiên Minh ra thăm mộ bố. Minh quì trước mộ, rồi gục mặt
xuống đất. Trời bắt đầu chuyển mưa. Mây đen giăng kín cả bầu trời. Gió ào ào làm
nghiêng ngả mấy cây dương cao vút. Minh vẫn nằm im. Trong thanh vắng, Minh nghe
như có tiếng người đang nói: “ Thái ơi! Mau mau thắp nhang cho nội rồi về con,
mưa tới rồi!” Loan ném bó cỏ bò xuống đất. Ngạc nhiên thấy có ai đang nằm bên
mộ. Thái nhanh hơn, chạy vội lại, ôm lấy bờ vai Minh lắc mạnh: “ba, ba!”. Minh
ngồi dậy, nhẹ nhàng ôm lấy Thái vào lòng hồi lâu, rồi nghẹn ngào: “ con hãy tha
thứ cho ba!” rồi buông Thái ra, quay lại nói với Loan: “em hãy tha thứ cho
anh!”. Hai người ngậm ngùi nhìn nhau,
Tịnh đứng lặng nhìn, cố dằn cơn xúc động, nói: “ Thôi thắp nhang cho cụ mau rồi
về, mưa sắp tới rồi”.
Gió lặng dần. Mặt trời ló dạng, phả ra một luồng sáng chói chang, huyền nhiệm.
Cành hồng bên mộ, vẫn rung rinh trước gió.
Mặt trời đã lên cao. Ong Tám vẫn còn ngồi đăm chiêu bên chiếc bàn ọp ẹp. Thỉnh
thoảng lại nheo mày nhìn ra cây phượng trước nhà đang phơi mình trong nắng mai.
Đó là một cây cổ thụ, tán xum xuê, che kín cả sân nhà. Gốc mốc meo, xần xùi phải
hai người ôm mới hết. Trên cành chỉ còn lác đác vài ba bông trái mùa, đang cố
vươn lên để khỏi bị nhận chìm trong biển lá biếc xanh. Trên cao chót vót vẫn lơ
thơ một vài trái khẳng khiu, quắt quéo, một vài quả đã nứt, nhe hàng hạt xếp đều
hai bên mép, trông hệt như bàn phím của chiếc harmonica. Gió lay nhẹ. Lá nhấp
nhô như sóng lăn tăn rì rào. Sương đêm rơi lộp độp.
Khánh Trang, người con gái thứ hai của ông Tám, tuổi đã quá 30, rạng rỡ trong bộ
bà ba đen, từ phòng trong bước ra ngả nón chào: “ chào ba con đi”. Ong Tám mặt
vẫn lạnh như tiền, quay phắt đi chỗ khác, bực bội. Trang vừa ra tới gốc phượng
thì một chiếc Suzuki vội vàng chờ tới, Trang ôm lấy eo anh tài xế, nhảy vội lên
xe. Con ngựa sắt rên lên ư ử, ì ạch lết, phả lại sau lưng một luồng khói làm tối
hẳn một góc sân.
Gió thoảng. Phượng lại nhấp nhô như vẫy tay chào. Bốn mươi năm nay phượng vẫn
thế, vẫn đưa đón, khóc cười với mọi người trong nhà. Ong Tám ngoảnh mặt nhìn,
Trang đã mất hút, chỉ còn lại làn khói xe đang tan dần trong nắng, lung linh u
buồn như nhang khói hôm đưa tiễn người con trai duy nhất của ông về bên kia thế
giới. Mắt ông cay xè. Cây phượng trước nhà nhạt nhòa chỉ còn lại một mầu xanh
huyền hoặc. Hình ảnh Đức An, lại hiện về. Ngực bị xe chở đất cán dẹp lép. Máu từ
miệng, mũi, mắt, tai nhuộm đỏ khuôn mặt bầu bĩnh, nhuộm ướt luôn cả chiếc áo học
trò còn thơm mùi vải mới. Miệng đắng nghét. Ong đứng dậy, đến trước bàn thờ Đức
An, với tay rút ba cây nhang, đốt, cắm lên chiếc lư đồng còn lởm chởm chân
nhang. Môi run run, ông giơ tay làm dấu thánh giá, rồi lại trở về bàn, lơ đễnh,
nhìn làn khói lơ thơ đang chập chờn trong nắng. Hình ảnh sáu người con gái còn
lại, lần lượt hiện lên trước mắt: Anh, Hằng, Tuyết, Mai, Trang đang học trên
thành phố. Lệ Thu cũng đang tu trong tu viện Bác Ai Vinh Sơn trên ấy. Ngoài Lệ
Thu, Khánh Trang là người thùy mị, đảm đang, đoan trang, được ông tín cẩn nhất.
“Sao ba lại dập tắt tình yêu của tụi con, ba không chịu kệ ba, con cứ lấy”. Lời
Khánh Trang nói với ông tối qua như đang phá vỡ mọi lâu đài ông chắt chiu vun
xới từ lâu. Ông buồn, trong lòng như có một cái gì đang chết.
-Sao ông còn ngồi thừ ra như thế, chưa đi rẫy à! Bà Tám từ trong nhà bước ra,
nói.
ông Tám vẫn im lặng. Thấy vậy, bà ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh, nhẹ nhàng nói:
-Thôi ông ạ! Lo nghĩ làm chi cho mệt xác. Nó lớn rồi, nó ưng thì cho nó lấy.
-Thiếu gì thằng sao nó không ưng, lại đi ưng thằng ấy.
-Nó lấy chồng cho nó chứ có lấy chồng cho ông đâu. Thôi kệ nó ông ơi. Ong không
gả thì tôi gả.
Ong Tám đứng phắt dậy, sừng sộ: “bà có ngon thì cứ gả. Đúng là đồ nối giáo cho
giặc”. Nói xong, ông cúi xuống nhặt chiếc nón, đi ra.
Ra tới đầu đường, Minh hỏi: “ba có đồng ý không?
-Không, em đã nói hết lời mà ba vẫn không chịu. Ba bảo, anh phải theo đạo, ba
mới chịu.
-Em biết đó, nhà má chỉ có mình anh là con trai. Anh theo đạo lấy ai nhang khói
cho bà.
Hai người lại im lặng. Minh ngẫm nghĩ: mẹ kiếp, cái đạo Công giáo này kỳ cục.
Xuất giá tòng phu. Mình không bắt nó theo đạo mình thì thôi, đây nó lại bắt mình
theo đạo nó. Vô lý! Minh mím chặt môi, rồi nhổ toẹt xuống đất, bực bội. Chợt nhớ
ra điều gì, Minh hỏi: “ ý của chị Thu sao?”
-Chị Thu thì không có vấn đề, ai cũng được, miễn là hai đứa yêu nhau chân thành.
-Chị Thu chịu, sao ba không chịu? Ong già thật khó chịu!
Trang nhẹ nhàng giải thích: “ba nói, ba chỉ muốn hai đứa hạnh phúc thôi. Thành
vợ thành chồng là hai người thành một: một thân xác, một gia đình. Hai người có
chung với nhau mọi sự: chung tiền bạc, của cải, chung sự nghiệp, tương lai,
chung niềm vui, nỗi buồn mà lại không có chung một niềm tin tôn giáo, e rằng sẽ
có những bất đồng trong quan điểm làm ăn, trong giáo dục con cái, lúc đó sẽ khổ
cả hai, thế thôi”.
-Vậy em tính sao, cưới hay không? Minh dằn giọng. Trang im lặng, không trả lời.
Ra tới rẫy, ông Tám đi ngay vào lều, chán chường, nằm vật xuống chiếc chõng tre.
Gió thoảng. Cành chôm chôm xoã trên mái xáo xác. Hai mươi năm về trước, cũng
trên chiếc chõng tre này, Trang nằm bên cạnh, ông Tám hỏi: “ lớn lên con làm gì
nào?”
-Con sẽ đi tu như chị Thu.
- Không được, chị Thu đã đi tu rồi, con phải ở nhà chăm sóc cha mẹ. Con phải lấy
chồng cho ba có cháu ngoại bồng chứ.
“Vậy mà bây giờ nó lấy chồng, mình lại không chịu”, ông Tám tự nhủ. Ong uể oải
ngồi dậy, nhìn ra bên ngoài, gió thổi mạnh làm rạp cả một mảng lúa chĩu bông.
Hương lúa ngào ngạt. Ong biết rõ Trang, không lo cho nó, nó sẽ tự lo lấy. “Không
đi đám cưới nó thì tàn nhẫn quá, nhưng đi thì có khác gì khuyến khích các em nó
theo nó. Và như thế, chẳng mấy chốc, cả nhà sẽ thành ngoại đạo hết”. Ông đứng
bật dậy, giơ tay đấm thẳng lên trời, la lớn: “không, nhất định, không”.
-Không, nhất định không, cái gì đó ông Tám?
-Chào ông Chín, ông qua đây hồi nào?
-Tôi tìm ông hoài, không thấy, tưởng ông không đi làm.
-Vào hút thuốc đã!
Hai người bước vào chòi. Gió thổi bụi mía trước mặt lao xao.
-Không nhất định không, cái gì thế ông Tám? Ông Chín vừa cười, vừa hỏi. Thoáng
thấy mặt ông Tám hằn lên những nét căng thẳng, không vui, ông tiếp: hình như ông
có chuyện không vui thì phải. Rồi ông cầm lấy tay ông Tám cảm thông. Ông Chín là
người có rẫy sát bên, ngày nào hai ông cũng qua chòi nhau chơi, có hôm vui
chuyện quên cả làm việc. Ong Tám nhìn bụi mía trước mặt, buồn rười rượi:
-Con Trang nhà tôi lấy chồng.
-Vậy thì phải vui chớ, sao ông lại buồn. Chợt nhớ lại, có lần hai ông cao hứng
hứa sẽ thành sui gia, nhưng con ông Chín đã thất học, lại còn lúc nào cũng be
bét, không xứng với con ông Tám vừa học giỏi, vừa đảm đang, thùy mị, đạo đức.
Ong Chín an ủi: “mỗi đứa có một số phận ông ạ!”
-Đồng ý, nhưng đám nó ưng, tôi không chịu.
-Đám nào?
-Thằng Minh con bà Sáu trôi nước. Nó không xấu, gia đình nó cũng không xấu, chỉ
mỗi tội nó không có đạo. Con Trang nhà tôi lại không đạo đức, sợ lấy nó về mất
đạo luôn.
-Bắt nó theo đạo!
-Tôi chỉ khuyên nó thôi, ép nó quá cũng không được. Biết bao đứa đồng ý theo đạo
lấy vợ. Lấy được vợ rồi, trả thù cấm không cho vợ giữ đạo. Đời thật lắm trái
ngang!
-Hai đứa thương nhau lâu chưa?
-Lâu lắm rồi, cả chục năm nay, từ khi nó học trên thành phố.
-Vậy thì phải lo cho nó thôi, ông ơi! Càng cản, nó càng làm tới.
Hai người lại im lặng, theo đuổi ý nghĩ riêng của mình. Lúa vẫn đùa vui với gió,
nghiêng ngả.
-Thôi về ăn cơm, ông Chín ơi!
Khánh Trang vẫn quì trang nghiêm trước bàn thờ Đức mẹ Hằng Cứu Giúp trong nhà
thờ Dòng Chúa Cứu Thế, nến đèn lung linh. Mắt vẫn đăm đăm nhìn lên đôi mắt dịu
hiền của mẹ, đã thành quen thuộc từ ngày Đức An qua đời. Lời ông Tám lại vang
lên nhức nhối “cá không ăn muối cá ươn”. Đây là lần đầu tiên Trang cãi lời ba.
Nhưng sao người ta lại lấy quyền cha mẹ dập tắt tình yêu, một thứ cao quí nhất
của con cái mình? Nỗi đắng cay trong lòng tràn lên khóe mắt làm hai giọt nước
mắt tràn mi, lăn xuống gò má. Hình ảnh Minh lại hiện về trong trí. Anh yêu mình
tha thiết, chỉ mỗi tội tính tình cứng cỏi, ương ngạnh, muốn gì làm nấy. Anh thủy
chung, cương quyết nhưng lại hơi độc tài, độc đoán. Anh có trách nhiệm nhưng đôi
khi bồng bột, thiếu suy nghĩ, thiếu đạo đức, chỉ biết có hôm nay mà không biết
đến ngày mai. Có nên lấy hay không? Mình có thể chịu đựng được một người như thế
suốt đời chăng? Mẹ Minh hiền, cả đời chỉ biết tần tảo nuôi con nhưng lại thiếu
sáng tạo, cả đời chỉ biết bám vào gánh trôi nước. Ba cô em chồng, Loan đanh đá,
bán trời không văn tự; Lý lại quá dị đoan, suốt ngày lúc nào cũng chiêm tinh
mộng mị; chỉ mỗi Bích Vân là quân bình, nhưng út ít bị ăn hiếp nhiều, nên lúc
nào cũng trầm tư, hờ hững. Cả nhà đều không có đạo, không biết rồi làm dâu nhà
ấy, mình có giữ được đức tin cho mình và cho con cái mình sau này chăng. Trang
bắt đầu băn khoăn. Không lấy Minh thì lấy ai bây giờ, ngoài 30 rồi chứ còn ít gì
nữa. Cô Lan hàng xóm, không chồng, không con, đã ngoài 70 rồi mà vẫn bị một đám
nhãi ranh, hễ cứ đi ngang qua nhà lại chia hai bè, la lớn: “Chúa Giêsu thương
hết người ế, trong đó có Lan”, rồi phá ra cười hỗn xược. Chửi chúng riết cũng
chán, cô đành im lặng chịu đựng. Cả đến người lớn cũng thật dã man. Hễ cô có
chuyện gì, họ lại rêu rao “ở thế, hèn chi ế là phải”. Toàn là người Công giáo
đấy! “Lấy hay không” vẫn còn là một thắc mắc chưa có lời giải đáp.
Tới giờ lễ, mọi người đã ngồi đầy các hàng ghế. Lòng Trang vẫn nặng chĩu một nỗi
băn khoăn du dự. Một linh mục trẻ măng, lạ hoắc bước ra, trang nghiêm như đang
lọt vào thiên giới. “Hay tu quách đi cho xong”, Trang tự nhủ, rồi lại tiếp tục
suy nghĩ miên man. Đã có lần mình tính đi tu, ba không chịu. Nay mình muốn lấy
chồng, ba cũng lại không chịu. Lời cha chủ tế đã kéo giật Trang về lại với thực
tế: “anh em là muối đất, là ánh sáng thế gian… Hễ đã là Kitô hữu, ta phải mang
lấy sứ mạng của Đức Kitô, nếu không, ta đang làm tê liệt bí tích Thánh Tẩy, đang
vô hiệu hóa bí tích Thêm Sức, và đang cầm tù Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa không
đòi ta phải đi tu nhưng đòi ta phải nên Tin Mừng, nên hiện thân của tình yêu,
của sự tha thứ của Đức Kitô cho mọi người. Họ càng hư hỏng, ta càng phải nên
muối cho họ. Họ càng tăm tối, ta càng phải nên ánh sáng cho họ. Chồng phải nên
Tin Mừng cho vợ. Vợ phải nên ánh sáng cho chồng…”.
Vừa ra khỏi nhà thờ, Trang đã thấy Minh vắt vẻo trên chiếc Suzuki, hút thuốc.
-Sao lâu thế? bắt người ta chờ cả tiếng.
Trang im lặng leo lên xe, tính nói: có ai bắt chờ đâu mà bảo lâu với lắc, nhưng
lại thôi.
-Bây giờ tôi chở cô vào chị Thu để xem chị đã lo giấy được chưa nha!
-Vào thì vào!
-Cô không muốn cưới nữa hay sao mà dửng dưng thế? Minh hỏi đùa. Trang vẫn im
lặng. Đường phố về chiều vẫn không bớt bụi bặm, oi bức, ngột ngạt. “Các con là
ánh sáng thế gian… vợ phải thành ánh sáng cho chồng”. Lời của cha Dòng Chúa Cứu
Thế lại vang lên trong lòng Trang khiến Trang hứng khởi nghĩ “tôi sẽ cưới anh,
sẽ thành ánh sáng cho anh. Nhưng bằng cách nào?” Câu hỏi ấy làm cho Trang cụt
hứng.
Lệ Thu vắng nhà. Chờ lâu quá, Minh hết đứng lên lại ngồi xuống, lẩm bẩm: “đúng
là số mình vô duyên, hết chờ ở Kỳ Đồng lại ra đây ngồi chờ. Bà ấy đi đâu lâu thế
không biết. Lấy được vợ, thật không dễ tí nào!”
“Có ai bắt chờ đâu mà than với thở”, Trang tính nói, thì thấy Lệ Thu về:
-Kìa, chị ấy về kia kìa!
Thu tươi cười nói: “chào hai em, chờ chị lâu chưa?”, rồi chị bắt đầu huyên
thuyên: “chị đi lo cho một anh sida. Gia đình gia giáo, cha mẹ giàu có, thế giá.
Chỉ một lần cúp học, bị bố táng cho một bạt tai, anh bỏ nhà đi bụi, dính vào
xìke, rồi nhiễm HIV”. Thu nhìn lung vào khoảng không trước mặt, lắc đầu tiếp:
“suốt 3 tháng nay nằm chèo queo ở chân cầu Chà Và, không thân nhân bạn bè, người
chỉ còn da bọc xương, ghẻ lở, hôi tanh. Chờ cho người ta tẩm liệm xong xuôi,
mang đi thiêu, chị mới về, mệt quá!” Im lặng ngậm ngùi một lát, Thu tiếp: “ à!
Chị đã xin cho tụi em phép chuẩn khác đạo rồi đó. Chờ chị đi lấy.” Minh nhìn
theo Thu, nói bâng quơ: “cái bà soeur này tức cười thật, đẹp như thế, lại hiến
cả tuổi xuân cho những kẻ bất lương”. Trang vẫn đăm chiêu. Chân trời phía Tây
đang ngả dần sang mầu tím. Có phép chuẩn, nghĩa là mình vẫn được xưng tội rước
lễ, nhưng ba má, nhất là ba không có mặt thì ăn thua gì.
-Đây giấy đây. Thu chìa cho Minh xem, nói: “để chị nộp cho cha sở”.
-Vậy thôi được rồi, cám ơn chị, tụi em về.
Thu hỏi Trang: “em đã về nhà chưa?”
-Rồi, ba vẫn kịch liệt chống đối, vẫn cương quyết không đi đám cưới, đã thế lại
còn cấm không cho ai đi. Trang bật khóc. Thu nắm tay Trang, mím chặt môi hồi
lâu, mới nhẹ nhàng an ủi: “thôi biết sao được. Chị sẽ có mặt trong đám cưới em.
Thánh Phaolô bảo chồng ngoại sẽ được thánh hoá, nhờ vợ có đạo đấy. Can đảm lên”.
Tàn tiệc cưới trưa hôm ấy, tiễn Thu ra tới cổng, Trang ôm chầm lấy Thu, gục đầu
vào vai chị nức nở thật lâu, mới nói: “cám ơn chị”.
Buông Trang ra Thu nói: “chị sẽ cầu nguyện cho em. Nhớ là từ nay nhiệm vụ của em
là nên Tin Mừng cho Minh đó. Chúc em hạnh phúc. Chào em”.
Chiều hôm ấy, khách đã ra về hết, chỉ còn lại mỗi một người lạ hoắc, Trang chưa
gặp bao giờ. Thấy Trang, anh cười nham nhở nói: “chào cô dâu”. Rồi anh đá lông
nheo, tiếp : “tôi là Đoàn, bạn cùng lớp với Minh thời tiểu học, mấy chục năm nay
mới gặp lại, hên vào đúng dịp đám cưới nó”.
-Chào anh. Trang cúi gằm xuống đất, tránh con mắt hau háu của Đoàn, tiếp: xin
lỗi tôi đang mắc việc. Nói xong Trang bước vội vào bếp.
-Tôi coi tướng rồi, hai ông bà này chỉ sống với nhau được ít năm thôi. Lý nói.
-Thôi đi bà nội! Xem tướng với xem tá cái gì. Người ta mới cưới, chưa ở với nhau
được ngày nào đó nha, đừng trù ẻo người ta nha! Loan nói.
- Bà cứ banh mắt ra mà coi!
- Câm đi! Lo rửa chén cho xong đi, bà nội!
Nghe thế, Trang đứng như trời trồng ngay tại cửa bếp. Buồn rười rượi. “Được hãy
đợi đấy!” Trang tự nhủ, rồi len lén bước ra ngoài.
Thấy Trang, Bích Vân mỉm cười thân thiện, nói: “chị đừng nghe những gì anh Đoàn
nói, anh ấy xạo lắm”.
Bữa tối hôm ấy, mọi người đã đứng lên hết, chỉ còn Đoàn với Minh.
-Dẹp cái công ty nước tinh khiết của ông đi! Lương công nhân làm sao đủ nuôi vợ
nuôi con. Đi với tôi một chuyến bằng ba năm làm. Đoàn nói. Minh vẫn im lặng,
Đoàn tiếp: “ông còn nhớ thằng Tuấn sếu không? Nó đang làm giám đốc công ty vàng
bạc đá quí quận I, giàu lắm.
-Sao tôi nghe nó chết rồi! Nó đang đánh máy vi tính, bạn nó tới, nó đứng lên
tiếp, té xuống chết ngay tại chỗ mà!
-Ông lầm với ai rồi! Tôi mới gặp nó đây mà! Thằng Thăng mới chết chứ không phải
thằng Tuấn.
-Thằng Thăng chết, tôi biết mà. Tôi đi đám tang nó mà! Tội nghiệp, mới xây nhà
xong chưa kịp ở đã chết. Nghe đâu, nó đi Sàigòn về, tới ngã ba Tam Hiệp, thấy
mệt, nó bảo bạn nó tắp vào quán nghỉ. Vừa ngồi xuống ghế, gục xuống chết luôn.
Minh lặng lẽ rút thuốc ra đốt. Mắt lờ đờ, mệt mỏi.
-Thôi đi ngủ Đoàn ơi, khuya rồi.
Ba năm sau, Trang đang ngồi miệt mài vá cho xong đống quần áo cho người nghèo,
bỗng Minh ngồi bệt xuống bên cạnh, xoa bụng Trang âu yếm hỏi: “em thích con trai
hay con gái nào?”
-Con Trai. Trang cười khoan khoái, còn anh?
-Con gái.
-Đố anh biết con trai hay con gái?
-Con gái.
-Con trai! Cá cái gì nào?
-Một chầu phở Hòa, chịu không?
-Chịu! Anh chi trước đi là vừa, chắc chắn con trai mà!
-Em đi siêu âm rồi hả?
-Chưa.
-Sao em biết?
-Em biết chớ! Đạp đau muốn chết.
-Còn mấy tuần nữa ha?
- Mười ngày nữa.
Minh ngả người xuống ghế, nhìn lên trần nhà cười sung sướng: “ không biết nó
giống ai ha? Giống anh hay giống em. Con gái mà giống em thì hay, giống anh chán
chết!”
- Có sao đâu, anh đâu đến nỗi. Thôi cứ chờ nó ra rồi biết, đoán già, đoán non
chi cho mệt!
Khánh Trang sinh được một bé khai kháu khỉnh. Hôm ấy, Minh cứ đi ra đi vào, tất
ba tất bật, cười toe toét. Có lúc lại còn bế con lên, nhẹ nhàng ấp vào ngực
mình, mắt khép hờ sung sướng.
-Anh định đặt tên cho nó là gì? Trang hỏi.
-Anh không biết nữa. Anh chỉ có mỗi một cái tên Diễm Trinh trong đầu thôi, vì
nghĩ là con gái. Còn em?
-Tên nó là Quân, Trần Hoàng Minh Quân, được không?
-Tên hay đấy, chỉ sợ có đứa nghịch ngợm thêm dấu huyền vào thì chết. Minh nhìn
Trang cười hóm hỉnh. Vậy nhất trí đặt tên khai sinh cho nó là Quân nha! Còn bình
thường gọi nó là Nô.
Trang mỉm cười tán đồng.
Loan, Lý từ đâu không biết, hớt ha hớt hải chạy tới chỗ Minh, tranh nhau xem mặt
Nô.
-Ồ, dễ thương quá Lý ơi! Giống bố như lột, mũi miệng lại giống mẹ y đúc. Loan
nói.
- Thằng này khôn lắm, nhưng yểu tướng. Lý xen vào. Mọi người sững sờ trước nhận
xét của Lý.
-Cái con mẹ này toàn nói chuyện gở không hà! Loan vừa nói, vừa giơ tay nhéo mũi
Nô.
Trời đã khuya. Đường phố đã chìm sâu vào giấc ngủ. Minh vẫn đăm chiêu, nhìn lung
vào màn đêm dầy đặc. “Làm sao để có thật nhiều tiền”, Minh tự hỏi. Nghèo là khổ.
Người nghèo chỉ là một con số người ta có thể bôi xóa bất cứ lúc nào. Hình ảnh
ông lão ăn xin, áo quần nhớp nhúa, mặt mày lem luốc, thân hình gầy guộc, đôi mắt
mù lòa Minh gặp sáng nay tại cơ quan hiện lên trong đầu. Thấy ông lão, tên bảo
vệ hống hách quát: “này lão kia, đi chỗ khác, lân la tới cơ quan người ta làm gì
hả?” Ông lão lom khom, ngửa nón về phía người bảo vệ, van nài: “xin ông, xin bà
làm phước!”
-Phước cái con khỉ gì, đi ra mau. Vừa nói, hắn vừa nhảy bổ tới, kéo ông xềnh
xệch ra cửa, lẩm bẩm “làm lem lấm cả cơ quan người ta”. Cả chục người đứng nhìn,
dửng dưng hờ hững. Số phận mình đã hẩm hiu, mình dứt khoát không để cho con cái
mình phải sống trong tình trạng ấy.
Trời đã sáng. Minh vẫn còn mê mệt ngủ. Thấy Nô thức dậy, Trang nhẹ nhàng nói:
“làm dấu, đọc kinh đi con!” Nô ngồi dậy, nghiêm trang, giơ tay vừa làm dấu, vừa
đọc: “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.
-Cha, Con, Thánh Thần cái gì. Có im ngay cho ông ngủ không, ông đạp cho một cái
văng ra ngoài bây giờ, Minh quát, rồi há miệng ngáp, xong lại nằm co quắp. Trang
lặng lẽ ôm Nô ra bàn, nói: “đọc kinh đi con!” Thấy Nô nhìn về phía Minh sợ sệt,
Trang tiếp: “ba nói gì kệ ba. Con đọc kinh đi, nhớ cầu nguyện cho ba nữa đó
nha!”
Mặt vẫn quay vào tường, mắt vẫn nhắm nghiền, Minh nói: “bà dạy nó đọc kinh gì,
đọc xong có tiền ngay ấy. Kinh ấy đọc có được gì đâu mà cứ đọc mãi!”.
Cuộc sống đã nghèo khổ, từ ngày có Nô lại càng túng cực hơn. Tính tình Minh bắt
đầu thay đổi. Trầm ngâm, ít nói, mà hễ đã nói là văng tục chửi thề. Minh cũng ít
ở nhà, đi sớm, về khuya, về đến nhà lại say khướt, có hôm còn nôn oẹ ra giường,
tiểu ướt cả quần mà không biết. Trang vẫn im lặng chịu đựng. Ngày nào cũng vừa
ru con trên ván, vừa đợi chồng về, chẳng mấy ngày mà không phải lau rửa cho
chồng, có hôm tới một, hai giờ sáng mới được đi ngủ. Sáng lại phải dậy sớm, giặt
giũ, cơm nước, vội vã cho kịp giờ lên lớp. Dạy sáng, dạy chiều mà lương vẫn như
muối bỏ biển.
Sáng hôm ấy trời mưa như trút. Nước cống đen ngòm, ùa vào ngập hết cả nền nhà,
bốc mùi tanh lờm lợm. Mẹ con Trang ngồi trông, buồn tê tái.
-Mưa à! Minh hỏi.
-Ngập hết cả nhà rồi ba ơi. Nô la lớn.
Minh nắm tay Nô, len lén nhìn Trang, rồi quay vội vào tường, nhắm chặt mắt cố
ngăn cơn xúc động: “mẹ con nó có làm gì nên tội đâu. Sao mình lại ác với nó
thế!” Minh tự nhủ. Nó đã phải dạy ngày, dạy đêm lại còn phải lo cho con, làm đủ
mọi thứ việc trong nhà. Còn mình, chỉ biết ăn, nhậu, về tới nhà còn đối xử với
nó như kẻ thù”. Gió đổi chiều. Mưa hắt cả vào chỗ Minh nằm. Minh bực bội bò dậy,
nhìn Trang nói: “Trang ơi. Tôi làm khổ bà quá, ly dị đi cho khỏe”. Trang trố mắt
nhìn: “em có than trách gì anh đâu. Sao anh lại bắt em ly dị. Em biết chỉ vì
muốn cho gia đình sung túc, vợ con được nở mặt, nở mày với người ta, mà anh ra
như thế. Em vẫn yêu anh mà!”
Hai người lại im lặng. Minh nghẹn ngào tự nhủ: “vợ mình hiểu biết hơn mình”.
-Chắc anh bỏ nghề, đi buôn, Trang ạ! Phi thương bất phú.
Mưa đã ngớt. Gió thốc vào nhà, quất phành phạch lên mái tôn, cả nhà rên lên răng
rắc.
-Em còn tiền không?
-Cả nhà chỉ còn vài chục ngàn, một cặp nhẫn cưới với sợi dây chuyền nhỏ.
-Biết vậy, anh sẽ liệu.
Ngồi trên tàu Thống Nhất, Minh nhìn qua cửa sổ, thành phố đang bị đẩy lùi về
phía sau. Trước mặt là một bến bờ vô định. Đầu óc Minh cũng ngổn ngang nhiều
thứ.
-Sao cậu buồn thế? Đoàn hỏi. Minh không trả lời.
-Đừng lo. Đất Lạng là quê tớ mà! Đoàn tiếp.
-Đi buôn như đánh bạc vậy cậu ạ! Được ăn cả, ngã về không. Không biết phen này
mình được hay ngã.
-Được chắc! Ngã thế nào được. Đoàn nói.
Bán chiếc Suzuki được 4 chỉ, số nữ trang của Trang được 2 chỉ, tiền mặt cũng
được 4 chỉ, vừa chẵn một cây. Vàng Minh đã giấu kỹ trong túi đựng quần áo. Tiền
Minh lận ở lưng quần. Tất cả vốn liếng sự nghiệp của cả gia đình sắp được đưa
lên sòng bạc. Nghĩ đến đó, Minh thấy hồi hộp cách khó chịu. “Hay quay về, không
phiêu lưu nữa?” Minh nghĩ.
-Sao tôi thấy hồi hộp quá Đoàn ơi?
-Lần đầu tiên, tớ cũng hồi hộp y như cậu lúc này, vài chuyến là quen ngay thôi.
-Cậu buôn cái gì?
-Thượng vàng hạ cám, cái gì cũng buôn, có lời là buôn. Hàng Trung Quốc ở Lạng
Sơn đầy, đưa xuống được Hà nội là một ăn một. Hồi hộp một chút, nhưng lời ham
lắm ông ơi. Kỳ này thuốc lá và vải đang hút. Hai mặt hàng ấy tớ lại có mối sẵn.
Tới nơi bốc hàng xong là về liền không phải chờ.
Tàu tới ga Hà nội lúc một giờ sáng. Xích lô, xe ôm vẫn la liệt trước cổng, mời
chào inh ỏi. “Coi chừng túi xách!” Đoàn dặn Minh “phải ra khỏi chỗ bát nháo này
mới đón xe được. Đón chỗ này vừa bị chém, vừa nguy hiểm”.
Ra khỏi ga được một quãng, Đoàn tắp vào một quán nước bên đường: “cậu ngồi đây
chờ, tớ đi kiếm xe quen”. Đoàn vừa đi khỏi, thì hai gã thanh niên, mặt mày lịch
sự, áo quần bảnh bao ngồi trên Honda, thắng két trước mặt Minh. Gã ngồi sau hỏi:
“mấy giờ rồi anh?”
Minh giơ tay lên, chưa kịp trả lời, gã đã nhanh tay, giựt mất túi xách và đồng
hồ. Minh chết lặng hồi lâu, mới la lên: “cướp, cướp!”. Phố vẫn mê mệt ngủ. Khách
bộ hành dửng dưng, hờ hững. Chủ quán há hốc miệng ngáp, uể oải bước tới chỗ
Minh, cầm tay dẫn vào nhà, căn dặn: “ở đây phải coi chừng, bọn lưu manh nhiều
như rươi. Nó hỏi gì đừng nói! Chú ở Sàigòn ra hả? Mất nhiều không?”
Minh gật đầu tiếc nuối. Mắt cay xè, ngẩn ngơ như kẻ mất hồn.
-Minh ơi! Đoàn ngồi trên xích lô gọi. Minh thẫn thờ bước tới. “Mất mẹ nó hết
tiền rồi!”
-Lúc nào?
-Cậu vừa đi được một tí là bị hai thằng ngồi trên xe Honda chồm tới hỏi giờ,
giựt mất luôn cả giỏ xách.
-Mẹ kiếp, quân đểu giả! Đoàn bực mình nói. Không sao, tớ sẽ cho cậu mượn vốn.
Thôi lên xe đi, ra bến xe đi Lạng Sơn.
Trên đường từ Lạng Sơn về, Đoàn dặn: “nếu bị bắt, cậu đừng nhận gì hết, cứ ngồi
yên trên xe, để tớ liệu.
Tới trạm kiểm soát, hàng bị tuôn xuống. Đoàn nhảy xuống theo hàng. Minh bơ vơ
như người chết đuối. “Thôi thế là mất cả chì lẫn chài. Hay ở đây luôn không về
nữa”. Minh lẩm bẩm. Hình ảnh Nô nhạt nhoà trong trí. “Ba đi lẹ rồi về nghe ba,
con nhớ ba lắm đó!” Bộ quần áo duy nhất còn lại trên mình đã thum thủm mùi cá
ươn, bắt đầu dính bết vào người Minh, ngứa ngáy. Về tới nhà, Minh lặng lẽ mở
cửa, rồi thả mình trên bộ ván, thiếp đi lúc nào không biết.
Chiều hôm ấy, trên đường về nhà, Nô hỏi: “ba về chưa má? Sao ba đi lâu thế? ba
đi đâu hả má?
-Ba đi kiếm tiền cho con ăn học đó, con có thương ba không?
Thấy cửa khép hờ, Trang làm hiệu cho Nô im lặng. Mở cửa ra thấy Minh đang mê mệt
trong bộ quần áo cáu bẩn, nhầu nát, biết có chuyện chẳng lành, Trang âm thầm lo
cơm nước. Xong xuôi, Trang đến ngồi lên bộ ván, nhẹ nhàng nắm tay Minh. Minh
giật bắn người. Trang tươi cười nói: “dậy tắm rửa, ăn cơm anh! Em đã pha nước
sẵn cho anh trong ấy”.
Minh mệt mỏi ngồi dậy, bàng hoàng như vừa qua cơn ác mộng, hổ thẹn vì đã phung
phá hết gia tài, sự nghiệp. Lòng chất ngất một cảm giác khó tả, vừa trách mình
ngu ngốc, vừa căm phẫn bọn gian manh, vừa bực bội xã hội không còn “nhất nghệ
tinh, nhất thân vinh” nữa.
-Ba đi có mệt không, ba?
Minh mỉm cười nhìn Nô, không nói
-Ba ra Bắc phải không, ba?
-Phải.
-Bắc có xa không ba?
-Xa lắm, đi hơn hai ngày mới tới.
-Thôi con ăn đi để ba ăn, ba còn nghỉ! Trang nói.
Suốt cả tuần, hôm nay Minh mới có được một bữa ăn ngon miệng, hợp khẩu vị thế
này, nhưng lại nuốt không trôi khi nhớ tới cả gia tài của vợ chồng anh dành dụm
được đã tan thành mây khói. Cơm nước xong, Minh nói: “thua hết rồi, bà ơi!”
Trang chưa kịp phản ứng gì thì Lý xuất hiện: “em đã bảo rồi, không nghe. Tháng
này là tháng xấu. Đi xa mất của, ở nhà mất con.
Trang nhìn Minh thông cảm: “không sao đâu anh, còn người thì còn của. Hơn nữa,
tiền bạc quan trọng thật, nhưng có cái còn quan trọng hơn”.
-Bị tịch thu hết à? Lý hỏi.
-Vừa ra khỏi ga Hà Nội là bị bọn ma-cô giật mất giỏ”. Chợt nhớ Lý đang quen một
anh ngoài bắc, Minh tiếp: “mày coi chừng thằng Đăng của mày, ở ngoài ấy trộm
cướp như rươi”.
-Thôi anh ạ! Trang an ủi, coi như mình đã không có số ấy. Mai 13.10, anh đưa mẹ
con em đi Fatima, Bình Triệu, tạ ơn Đức Mẹ, vì anh đã đi, về bình an.
Suốt đêm, Minh cứ trằn trọc mãi. “Sao Trang lại tự do đối với tiền bạc đến thế?
sao nó lại xin mình đưa nó đi Fatima”. Minh tự hỏi. Hình ảnh của Đức Maria, với
ánh mắt dịu hiền, tay bồng con, Minh đã gặp đâu đó, hiện lên trong trí. Bà này
hiền thật, liệu bà có làm gì cho mình được chăng.
Sáng hôm sau, vừa tới cửa nhà thờ, Minh liền đứng chống nạnh, hất hàm nói với
tượng Đức mẹ: “này bà, nghe nói bà linh lắm mà! Vợ tôi đang cần tiền, bà có linh
thì cho nó tiền đi”. Nói xong anh bỏ ra ngoài. Người ta không biết cơ man nào mà
kể, vẫn cứ ùn ùn kéo tới. Giòng sông vẫn lờ lững êm đềm.
Minh lại vẫn chứng nào tật nấy. Ngày nào về đến nhà cũng say khướt. Minh không
có việc làm, Trang phải gồng mình đỡ cho cả gia đình.
Một buổi chiều nọ, dạy xong tiết hai, Trang vừa bước vào văn phòng, thì Liễu,
bạn thân nhất của Trang nói lớn: “bà Trang ơi, mấy ngày nay trông bà nhợt nhạt
quá, bà có bệnh hoạn gì không?
-Mình vẫn bình thường mà!
-Bà phải coi lại, coi chừng chết yểu đó nghe!
Trang nhìn lại, đúng là gia đình mình đang bi đát thật. “Trở thành Tin Mừng cho
Minh khó quá, nhưng biết sao bây giờ”. Trang đang suy nghĩ miên man thì Phong
bạn thân của Nô đạp xe tới. Thấy Trang, Phong quăng chiếc xe đạp xuống sân, mếu
máo: “ cô Trang ơi, Nô đang chơi với con, ngã lăn xuống đất, bất tỉnh, cô chủ
nhiệm đưa vào nhà thương Nhi Đồng rồi”. Nói xong, Phong bật khóc nức nở.
Tới nhà thương, Trang chạy thẳng vào phòng cấp cứu. Nô đang thoi thóp từng cơn.
-Chị là mẹ của cháu hả?
-Vâng, cháu bị sao vậy, cô?
-Phải chờ hội chẩn, chị ạ!
-Xin lỗi cô, hôm nay bác sĩ Mai Lan có đi làm không ạ?
-Dạ có, cô muốn gặp bác sĩ Mai Lan hả, cô chờ chút nha!
-Chào Mai Lan.
-Minh Quân là thằng Nô hả? Mai Lan sửng sốt hỏi
-Cháu có sao không Lan?
Lan lắc đầu, bỏ nhỏ: “vô phương!”. Trang mặt mày say sẩm, nắm chặt thành giường,
bật khóc nức nở. Cô chủ nhiệm và các bạn Nô đứng chật cả phòng cấp cứu, cũng bắt
đầu thút thít. Lý gạt mọi người ra, đi thẳng đến chỗ Trang, thì thầm: “thằng này
nghiệp chướng, thầy bảo phải phóng sinh 1000 con chim, may ra mới cứu được”.
Trang vẫn im lặng nhìn Nô xót xa. Nước mắt vẫn lã chã rơi, làm ướt hết một mảng
đùi.
-Bà tính sao? Lý giục.
-Tôi không làm!
-Bà không muốn cứu con bà à? Im lặng một lúc, Lý đề nghị: “nếu vì là người Công
giáo, bà không làm, thì tôi sẽ làm hết mọi sự, bà chỉ cần ra ngã tư mở lồng chim
ra thôi, chịu không?”
-Tôi không làm, vì có phóng sinh cả triệu con, con tôi vẫn chết, còn tôi sẽ mất
đức tin, thế nghĩa là sẽ mất cả mẹ lẫn con, không nhất định không!
Lý nhìn Trang căm phẫn, nghiến chặt răng, nguyền rủa: “đồ sát nhân!” rồi hậm hực
bỏ đi.
Minh vẫn đứng như trời trồng bên cạnh giường. Mặt hằn lên nỗi đau. Mắt đỏ ngầu.
Tiếc nuối. Mười ba năm nay Minh đã quá thờ ơ với Nô, không biết nó học hành ra
sao, nó thích cái gì, không một lần đưa con tới trường, không một lần tâm sự.
Minh nhớ, năm ngoái ngày bế giảng năm học, Nô ôm về một phần thưởng kếch xù, cao
hơn cả đầu, đang bi bô kể chuyện trường, chuyện lớp, đã bị Minh tàn nhẫn gạt
phăng: “ thôi im đi cho bà nghỉ một chút nào!” nhớ đến đó, Minh bật khóc, lẩm
bẩm : “tha cho ba, Nô ơi, con hãy sống, con đừng chết. Con hãy cho ba một cơ hội
để ba chuộc lại lầm lỗi”. Minh vừa nói dứt câu, thì Nô nấc nhẹ một cái, rồi im
bặt. Trang gào lên nhức nhối.
Nô ra đi để lại trong lòng Trang một nỗi trống vắng không gì có thể khoả lấp,
Trang lang thang như kẻ mất hồn, bỏ bê trường lớp, nhà cửa. Có ngày ngồi suốt cả
buổi trong nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế. Anh mắt Mẹ Hằng Cứu Giúp vẫn dịu hiền nhìn
Trang. “Anh em là ánh sáng thế gian, là muối cho đời. Vợ phải nên ánh sáng cho
chồng, chồng phải nên Tin Mừng cho vợ”, những lời ấy cùng với hình ảnh của vị
linh mục Dòng Chúa Cứu Thế năm xưa lại hiện về. “Ước gì hôm nay mình gặp được
cha ấy” Trang tự nhủ.
Mệt mỏi, chán chường, Trang thiếp đi, chìm sâu vào giấc ngủ. Tới giờ lễ, mọi
người đã đứng lên ngồi xuống mấy lần, Trang vẫn ngả đầu lên thành ghế ngủ, miệng
há hốc. “Này cô ơi, đang lễ rồi”. Trang mở choàng mắt ra, thấy vị linh mục Trang
ao ước gặp, đang oang oang trên bục giảng, cứ nghĩ mình đang mơ. “Chúa đã phục
sinh, nên chết không phải là hết mà chỉ là bước cuối cùng của cuộc hành trình đi
vào trong Thiên Chúa của ta. Đó là niềm tin và niềm hy vọng của ta…”
“Như vậy là Nô không chết”, Trang sung sướng la lớn lên ngay trong nhà thờ. Mọi
người kinh ngạc nhìn Trang. Lễ tan, vừa ra khỏi nhà thờ, thấy Thu đang đứng
trong bãi gửi xe, Trang chạy vội lại:
- Chị Thu!
-Trang! Em đi lễ ở đây hả?
-Vâng, hôm nay đầy tháng Nô, em đi lễ cầu nguyện cho cháu.
-Vậy hả, đã đầy tháng rồi hả, chị quên phéng đi mất. Thời gian đi nhanh thế đấy.
Minh có khỏe không?
-Anh ấy vẫn thế, hình như càng ngày da càng vàng ra hay sao ấy. Anh ấy không
trách gì em cả, vợ chồng vẫn vui vẻ, chỉ mỗi tội anh ấy hay sỉn thôi.
-Trang ơi, em tiều tụy lắm rồi, về nhà ba nghỉ ít tháng cho khoẻ.
Trang im lặng. Mười sáu năm nay Trang chưa về nhà. Cây phượng trước nhà bây giờ
đang mùa rụng lá. Ba má chắc hom hem lắm rồi. Thấy Trang vẫn im lặng, Thu tiếp :
“ba mong em lắm. Hôm Nô qua đời ba đau, không đi được, nghe đâu ba nằm khóc suốt
buổi chiều, không khóc Nô đâu, mà khóc cho đời em quá long đong, lận đận. Về đi
Trang!” Trang rưng rưng nước mắt. Bao kỷ niệm thời niên thiếu lại hiện về. Trang
thích nhất những buổi chiều mưa. Đường trơn trượt, sợ Trang té, ba thường cõng
Trang trên mình. Rồi những buổi trăng rằm, cha con thường kê giường dưới gốc
phượng ngắm trăng. Mới có 16 năm thôi mà đã xa xôi như muôn thưở vọng về.
- Nếu về, chị sẽ bảo Tuyết chở em về!
-Trời ơi, bà Trang ơi là bà Trang, tôi đi tìm bà suốt từ sáng tới giờ. Loan bực
bội nói: anh Minh bị cấp cứu trong nhà thương Bình Dân.
-Minh bị sao mà phải cấp cứu? Thu hỏi.
-Không biết! Thấy người ta báo về tôi vội vàng đi tìm bà Trang ngay.
-Có ai vào bệnh viện với anh ấy chưa? Trang vừa đi vừa hỏi.
-Có mình con Vân thôi.
Thu nhìn Trang nói: “không sao đâu, chị quen bác sĩ Nghĩa, để chị cùng đi với
em. Nhà còn tiền không?
-Hết sạch từ ngày đám tang Nô, nhưng không sao, em còn một số quần áo mới, nếu
cần thì bán nhà.
Minh vẫn nằm mê man trong phòng cấp cứu. Vân vẫn đứng ngoài cửa sổ nhìn vào, lo
lắng. Thấy Trang, Vân nói: “người ta không cho vào chị ơi!”
-Anh ấy bị sao?
-Sáng lúc em vào thì bị ói ra máu mấy lần. Bây giờ hết ói rồi mà vẫn chưa tỉnh.
-Bác sĩ có nói gì không?
-Y tá, bác sĩ ở đây như người máy ấy mà, họ có biết trả lời đâu. Em theo anh ấy
vào phòng, thì bị người ta đuổi như đuổi tà vậy.
Thu mặt trắng bệch, mắt u buồn, vẻ hốt hoảng.
-Nhà em bị sao, chị? Trang hỏi.
-Bác sĩ bảo bị xuất huyết bao tử, sơ gan giai đoạn chót, khó lòng qua khỏi.
Trang chết lặng, hai tay bám chặt lấy song cửa sổ, đầu gục xuống, mắt khép hờ.
Một lúc lâu mới hỏi: “người ta có đòi tiền không, Vân?”.
-Chưa thấy!
-Em ở đây nha! Chị về lo tiền.
Vân móc ra một nắm tiền đưa cho Trang: “chị cầm lấy lo cho anh”.
-Cám ơn em, chị có rồi, cất đi!
Minh đã tỉnh, đã được đưa lên trại. Bụng ngày càng lớn. Da vàng, bủng. Trang vẫn
túc trực bên cạnh, chăm lo chu đáo. Minh muốn gì được nấy, cả những thứ Minh
chưa hề dám mơ ước. Một chiều nọ, khi Trang đang lột nho, Minh hỏi: “ này em!
mười mấy năm trời sống với em, tôi chỉ biết làm khổ, hành hạ em, giờ này, tôi
chỉ đáng nằm chèo queo một mình chờ chết. Em có quyền bỏ tôi, đi theo người
khác. Sao em vẫn ở với tôi lại còn đối xử tốt với tôi như thế?” Trang mỉm cười:
-Sao anh lại nói thế? Em là vợ của anh mà! Chồng không có quyền được hưởng sự
chăm sóc của vợ như thế sao?
Minh nghẹn ngào hồi lâu, tiếp: “em biết đó, tôi sắp chết rồi. Tôi muốn biết sự
thật. Cái gì đã khiến em đối xử tốt với tôi như thế? Tôi tiêu tán hết cả gia
tài, sự nghiệp, em vẫn không trách tôi một lời. Tôi say sỉn, ói, tiểu cả ra
giường, em vẫn âm thầm lau rửa, không kêu la một tiếng. Tôi chửi bới em, em cắn
răng chịu đựng. Tôi đối xử với em tệ hơn người ta đối xử với chó, đáng lẽ bây
giờ tôi phải chết như một con chó mới phải, sao em lại tốt với tôi thế này?”
Minh bật khóc. Trang ôm lấy đầu Minh ấp vào mình: “thôi anh đừng nói nữa mà, nói
nhiều mất sức, đêm lại không ngủ được”. Minh gỡ tay Trang ra, nước mắt dầm dề:
“tôi muốn biết sự thật. Em phải nói cho tôi biết vì sao em lại tốt vối tôi như
thế?”
-Thôi anh nghỉ đi, đừng nói nữa, người ta đang nhìn anh kìa.
-Ai nhìn kệ họ. Minh lại mếu máo: “nho này tôi rất thích, nhưng ngay cả trong
mơ, tôi cũng không dám nghĩ tới. Em lấy đâu ra tiền để mua những thứ đắt giá này
cho một con chó chết? Cả tuần nay em chỉ mặc có mỗi bộ quần áo cũ này, vậy là em
đã bán hết cả quần áo của em để lo cho một người suốt đời chỉ biết hành hạ em.
Để tôi được chết an lành, tôi van xin em hãy nói cho tôi biết vì sao em đã đối
xứ tốt với tôi như thế?” Minh nắm lấy cánh tay Trang, nhìn chằm chặp vào mắt
Trang, năn nỉ.
Trang mỉm cười: “đó là vì đức tin của em, vì đạo Đức Kitô. Em đã nói cho anh
biết rồi đó nha, anh không được hỏi thêm gì nữa nghen”.
Minh nhắm chặt mắt, tự nhủ: “đạo Đức Kitô là đạo tôn trọng con người hơn tiền
bạc, nên vợ tôi đã bán hết cả áo quần để lo cho tôi. Đạo Đức Kitô dạy người ta
tôn trọng mọi người, cả những người đồi bại nhất, hèn chi chị Thu đã bỏ hết cả
tuổi xuân, nhan sắc, săn sóc cho các tên xìke, đã từng phá làng, phá xóm, bị xã
hội và gia đình loại bỏ”. Minh mở choàng mắt, gọi: “Trang ơi!”
-Dạ, em đây, anh cần gì ạ!
-Anh có thể theo đạo của em được không?
-Được, nếu anh tin.
-Em đi tìm chị Thu cho anh đi!
-Khuya lắm rồi anh ạ! Anh ngủ đi, mai chị Thu sẽ tới.
Minh nằm suy nghĩ miên man. Bụng lại quặn đau. Minh ôm bụng nhăn nhó, rồi thiếp
đi lúc nào không rõ.
Sáng hôm sau, Minh đang ăn sáng thì Thu đến. Thấy Thu, Minh nói ngay: “chị Thu
ơi, em muốn theo đạo”.
-Em có biết đạo là gì đâu mà theo.
-Em biết! Chị hiến cả cuộc đời, yêu thương săn sóc cho những kẻ bị xã hội bỏ
rơi. Vợ em bán hết cả quần áo lo cho người chồng vô tích sự. Chúa Kitô chắc chắn
phải hơn chị nhiều. Em muốn làm tín đồ của Ngài.
-Em có muốn thật không?
-Thật mà. Chị không tin em sao?
Thu nắm tay Minh, mỉm cười: “chị đùa tí thôi mà. Chị tin em mà! Em nói đúng,
Chúa Kitô hơn chị nhiều. Vì thương ta, Ngài đã làm người, để mọi sự có liên quan
tới con người đều có liên quan tới Ngài. Rồi suốt cuộc đời làm người, Ngài đã
đứng hẳn về phía những người nghèo khổ, đã đi tìm những người tội lỗi, những kẻ
bị xã hội bỏ rơi, cả những cô gái điếm. Những kẻ tự cho mình là công chính ghen
tức, đã âm mưu đóng đinh Ngài vào thập giá. Trước khi chết Ngài đã tha cho họ.
Rồi sau khi chết, Ngài đã sống lại, để từ nay ai tin vào Ngài thì khi chết sẽ
được ở với Ngài như Ngài đã nói: “Lòng anh em đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên
Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở. Nếu không, thầy đã nói
với anh em, Thầy đi để dọn chỗ cho anh em, và nếu thầy đi dọn chỗ cho anh em,
thầy sẽ đến để đưa anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu anh em cũng sẽ được ở đó
với Thầy” (Ga 14, 1-6). Đối với những người tin vào Đức Kitô, thì chết là về với
Chúa, là ở trong Chúa. “Thầy không bỏ anh em mồ côi đâu, thầy sẽ đến với anh em.
Chẳng còn bao lâu nữa, thế gian sẽ không thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ thấy
Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ sống. Ngày ấy, anh em sẽ biết rằng Thầy ở
trong Chúa Cha, anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em” (Ga 14, 18-20). Thế
là từ ngày ấy, nơi ta có Thiên Chúa và nơi Thiên Chúa có ta. Em có tin không?
-Thưa chị, em tin. Em còn phải làm gì nữa?
-Còn một chuyện nữa. Mỗi người Công giáo đều có thói quen chọn cho mình một vị
thánh bổn mạng, vừa để các Ngài cầu nguyện cho, vừa để noi gương các Ngài. Có
hai vị: thánh Augustinô, khi còn nhỏ, mẹ có đạo, Ngài thì không. Ngài trăn trở
tìm kiếm, có lúc lại còn dính vào đàn bà con gái, sinh được một người con trai.
Sau Ngài trở lại đạo, làm giám mục và là thánh. Thánh Phaolô độc đáo hơn. Là tín
đồ Do Thái giáo trung thành, khi nghe nói có một nhóm người quê mùa dốt nát đã
thờ một ông Giêsu nào đó như Đức Chúa vậy, Phaolô đã nổi tam bành lên, mang gươm
đi tiêu diệt hết tất cả những người ấy. Trên đường đi Mamas, Phaolô đã bị Chúa
Giêsu quật ngã. Và từ ngày ấy, Phaolô đã lên đường rao giảng Đức Kitô, ông bảo:
“Chúa Giêsu Kitô đã đến thế gian để cứu những người tội lỗi và người thứ nhất là
tôi (1Tm 14). Nên bây giờ tôi coi tất cả mọi sự là thua lỗ, bất lợi, chỉ có một
mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô, Chúa của tôi, vì Ngài tôi đành mất hết,
và coi tất cả là rác rến để được Đức Kitô và được ở trong Ngài” (Pl 3, 8-9). Vậy
em chọn ai?”
-Em muốn chọn cả hai. Em thấy em giống thánh Augustinô, vì vợ có đạo, em thì
không. Em cũng giống cả thánh Phaolô nữa, em đã hành hạ vợ em cho đến khi gục
ngã, mới gặp được Đức Kitô. Nhưng em thích thánh Phaolô hơn.
-Vậy em chọn thánh Phaolô hả?
-Vâng. Em có phải vào nhà thờ nữa không?
-Có, ngày mai chị sẽ đưa em tới nhà thờ chỗ chị ở.
-Này bà soeur, bà muốn đưa anh ấy đi đâu? Bác sĩ Nghĩa hỏi. Bà không biết rằng
cái bụng này chỉ cần xe sóc mạnh là có thể oãng ra à?
Thu đang bối rối, chưa biết phải trả lời sao, thì Minh nói : “oãng ra cũng đi,
tôi phải theo đạo để được thuộc về Đức Kitô.
-Muốn đi thì cứ việc đi, tôi không chịu trách nhiệm.
Minh nhìn Thu nói: “chị cứ yên tâm, cứ đi, chết em chịu!”
-Vậy thôi, em chuẩn bị tâm hồn, chị về lo cho ngày mai.
Suốt ngày hôm ấy, Minh tươi tỉnh hẳn lên, nôn nóng chờ cho ngày mai mau đến. Bữa
cơm chiều hôm ấy, Minh giơ tay làm dấu: nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
Nghiêm trang như một tập sinh mới. Trang mỉm cười sung sướng. Minh hỏi: “ngày
xưa, anh nhớ em hay dạy Nô đọc: “lạy Cha chúng con ở trên trời”, rồi đến gì nữa
ha?”
-Anh không cần phải đọc kinh ấy cũng được. Anh đã tin vào Chúa Giêsu rồi, Ngài
đang ở đây với anh, anh có thể nói tất cả mọi sự với Ngài như nói chuyện với em
vậy.
-Nhưng nói gì bây giờ?
-Anh có thể nói : lạy Chúa Giêsu xin đến với con!
Minh lặp lại với tất cả lòng thành tín: lạy Chúa Giêsu xin đến với con! lạy Chúa
Giêsu xin đến với con. Ngưng lại một lát, Minh nói : giá anh theo đạo sớm một
chút, thì có lẽ em đã bớt phải khổ vì anh. Minh lại ngậm ngùi. Nỗi ân hận tràn
lên khóe mắt.
-Anh cứ nhắc lại chuyện cũ làm gì! Hôm nay anh theo đạo là em mãn nguyện lắm
rồi. Có khổ hơn thế em cũng cam lòng. Thôi, ngủ đi anh, mai còn phải dạy sớm!
Minh giơ tay làm dấu thánh giá, rồi lâm râm nguyện cầu: lạy Chúa Giêsu xin đến
với con!
Sáng hôm sau, khi xe đưa Minh tới, thì mọi người trong gia đình Trang đã có mặt
đông đủ: bà Tám và tất cả các em Trang. Đỡ Minh xuống xe, Trang chạy vội lại ôm
chầm lấy mẹ: “ba không đi à má?”
-Ba tính đi, nhưng ba ho quá, má bảo ba ở nhà! Rồi bà móc túi đưa cho Trang một
phong thư nhỏ: “ba gửi cho con nè!” Trang nhét phong thư vào túi.
-Đã đến giờ, xin mời mọi người ổn định, Thu nói.
Trang ngạc nhiên thấy linh mục chủ tế chính là cha Dòng Chúa Cứu Thế, Trang vẫn
gọi là “ông cha muối ướp”. Lòng rộn lên một niềm vui khó tả.
Làm dấu thánh giá xong, vị chủ tế nói: “anh chị em thân mến, hôm nay chúng ta
hân hoan đón nhận anh Phaolô Trần Hoàng Minh vào trong gia đình Thiên Chúa. Vậy
ta hãy xin Thiên Chúa cho anh được nên một với Ngài, được thừa hưởng gia tài
Ngài đã sắm sẵn cho anh”.
-Còn anh Phaolô Trần Hoàng Minh thân mến. Anh sắp được lãnh nhận phép Dìm để
được nên một với Thiên Chúa, anh đã học giáo lý và đã cầu nguyện chưa?
-Thưa con đã cầu nguyện rồi.
Lát nữa đây, anh sẽ được dìm vào trong Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, để
được đời đời ở trong Thiên Chúa, vậy anh có muốn được ở trong Thiên Chúa không?
-Thưa, con muốn.
-Anh sẽ được lãnh nhận mình thánh Đức Kitô là bánh đem lại sự sống đời đời, để
mãi mãi nơi anh có Chúa và nơi Chúa có anh, vậy anh có muốn lãnh nhận mình thánh
Chúa không?
Thưa, con muốn.
-Xin Thiên Chúa hoàn tất điều tốt lành Ngài đã khởi sự nơi anh.
Im lặng một lát, vị chủ tế hỏi:
Anh có tin kính Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất muôn vật
trong đó có anh không?
-Thưa con tin.
Vị chủ tế vừa dìm anh vào trong chậu nước, vừa nói: tôi dìm anh vào trong Chúa
Cha.
-Anh có tin kính Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng đã chết và sống lại để muôn
người trong đó có anh được đi vào trong Thiên Chúa không?
-Thưa con tin.
-Tôi dìm anh vào trong Chúa Giêsu.
-Anh có tin kính đức Chúa Thánh Thần, Đấng vẫn hoạt động để muôn người trong đó
có anh được nên con Thiên Chúa không?
-Thưa con tin.
-Tôi dìm anh vào trong Chúa Thánh Thần.
Linh mục trao cho Minh chiếc áo trắng mới: “anh đã được dìm vào trong Thiên
Chúa, vậy anh hãy mặc lấy Đức Kitô để từ nay đến muôn đời, anh được ở trong
Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong anh”.
Kết thúc nghi thức Thánh Tẩy, chủ tế bước tới ôm lấy Minh nói: “anh Minh, tôi
đón nhận anh là người anh em và là chính bản thân tôi”. Mọi người có mặt cùng
tới đón nhận Minh. Minh ôm lấy Trang thật lâu. Cả hai cùng khóc sướt mướt. Kết
thúc thánh lễ hôm ấy, ca đoàn hát đi hát lại lời thánh Phaolô đã được linh mục
Nguyễn Hữu Phú phổ nhạc: “tôi coi tất cả là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời
là được biết Đức Kitô, vì Ngài tôi đành mất hết và coi tất cả là rác rến để được
biết Đức Kitô và được ở trong Ngài”.
Lễ xong, Minh mệt nhoài, phải đưa về bệnh viện ngay. Minh nằm mê mệt. Bác sĩ
Nghĩa mỉm cười nói: “vẫn còn về được à! Tôi tưởng chết dọc đường”. Ong nghe
ngóng hồi lâu, tuyên bố: “chưa đi ngay đâu, ít cũng được vài, ba bữa nữa!”
Trang lấy trong túi ra một phong thư nhỏ, tay run run, mãi mới xé ra được. Bên
trong là hai chiếc nhẫn cưới, với mảnh giấy, chữ nguệch ngoạc: “Mừng con gái yêu
quí của ba”.
Trang xúc động. Hình ảnh ông Tám hiện lên nhạt nhoà. “Mai mình sẽ xỏ chiếc nhẫn
này vào tay anh”, Trang tự nhủ. Thành phố đã yên giấc từ lâu.
Minh vừa thức giấc, Trang liền chìa cho Minh xem chiếc nhẫn cưới rồi âu yếm nói:
“quà cưới ba gửi cho anh nè!”
-Của ba hả?
-Vâng, hôm qua ba đau không đi được, ba gửi má mang lên cho anh đó.
Minh nghẹn ngào: ba nói đúng, ba tìm cho anh một con đường hạnh phúc mà anh
không biết.
-Nhưng bây giờ vẫn chưa muộn. Trang xen vào. Em xỏ nhẫn cho anh nha! Đây là nhẫn
cưới của anh với Đức Kitô chứ không phải với em đâu. Anh hãy nhận lấy, để từ nay
mãi mãi nơi anh có Chúa và nơi Chúa có anh. Trang nhìn ngón tay Minh, nhâm nhi
niềm hạnh phúc trào dâng.
-Bây giờ anh ăn gì nào?
-Anh không ăn gì hết. Im lặng một lát Minh tiếp: năm mươi mấy năm nay, hôm nay
anh mới thấy cuộc đời anh có ý nghĩa. Trước đây, anh chỉ biết sống cho cái bụng
của anh, còn nay anh biết anh ở đâu và đang đi về đâu. Chỉ cần biết thế thôi,
anh đã thấy no lắm rồi.
Mặt Minh rạng rỡ. Minh nắm lấy tay Trang, sung sướng hát: “tôi coi tất cả là
thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô”. Giọng Minh yếu dần.
“Vì Ngài tôi đành mất hết và coi tất cả là rác rến để được biết Đức Kitô “. Minh
buông tay Trang ra, rồi im bặt. Trang, mắt lim dim vẫn say sưa hát “và được ở
trong Ngài”. Mở mắt ra, thấy miệng Minh vẫn đang cười mỉm, nhưng mắt đã đứng
tròng, Trang hốt hoảng la lên : “anh Minh!”
An táng Minh xong, Trang quyết định về quê nghỉ ít tháng. Trong bộ bà ba đen,
Trang vẫn rạng rỡ như 16 năm về trước. Tới gốc phượng, Trang như thấy Minh đang
ngồi trên chiếc Suzuki chờ. Thấy Trang từ xa, ông Tám hớt hải chạy tới, ôm chầm
lấy Trang. Môi ông rung lên, không nói được lên lời.
Gió thổi. Một vài bông phượng trái mùa đỏ chót, nhấp nhô giữa biển lá biếc xanh.
Một ngày cuối tháng 7. 2003, tôi có dịp ghé thăm
họ đạo Cái Rắn, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Đúng là Cái Nước thật, chỗ nào cũng
đầy sông nước, sông lớn, kênh nhỏ chằng chịt như chỉ tay. Ơ đây, người ta ở dưới
nước nhiều hơn trên cạn, di chuyển trên nước, họp chợ trên nước, vào mùa lũ dự
lễ trên nước, sống bằng con tôm dưới nước.
Tôi được phân công vào nhóm đi thăm những người khuyết tật. Cha Hậu cho biết, ở
vùng này có khoảng hơn 600 người khuyết tật do đủ mọi thứ nguyên nhân, do chất
độc mầu da cam, do sốt bại liệt, đau lòng hơn cả là do thiếu hiểu biết. Ngài xót
xa kể: một con bé 8 tuổi, nghịch dao đứt tay, bà mẹ xức dầu xanh, rồi lấy thun
cột chặt ngón tay nó lại. Cón bé nhức nhối, khóc lên khóc xuống, phát nóng lạnh.
Mẹ nó đưa ra trạm xá, tưởng nó bị sốt rét, y tá lấy thuốc ra chích. Về nhà nó
càng sốt bạo hơn, đưa ra Cà Mau, bác sĩ phát hiện ngón tay đã bị hoại tử, quyết
định tháo khớp, thành khuyết tật.
Im lặng một lát như để nuốt lấy nỗi khốn cùng của người dân vùng sông nước, cha
lại tươi cười kể: “tôi cũng thuộc loại khuyết tật vì ngu dốt đấy ông ạ! Tai
điếc. Mắt lòa. Mình thấy mắt mình càng lúc càng yếu đi, cứ để thế, không chịu đi
khám, đến lúc quá ra, vào nhà thương Saint Paul, bác sĩ xem xong, tuyên bố: “hết
thuốc, sao để đến giờ này mới đi khám! Đành chịu thành khuyết tật. Thôi ông đi
đi cho biết!”
Tôi bước xuống 1 chiếc vỏ nhỏ, sáu người ngồi vừa khít, bắt đầu lênh đênh trên
giòng nước đục ngầu phù sa. Đi được một quãng, vỏ tắp vào bờ. Dì sáu trưởng đoàn
nói: “mình vào nhà anh Hà! Anh này bị bại liệt”.
Ơ đây, nhà nào cũng giống nhà nào, chỉ khác ở chỗ, người khá thì nhà lớn, người
nghèo, nhà nhỏ. Trên lợp lá dừa nước, hai bên cũng lá dừa nước. Nền đất nhấp
nhô, lồi lõm. Giữa nhà kê một bộ ván mốc meo, cũ xì, bên cạnh là một cái giường,
thỉnh thoảng mới có nhà có được bộ bàn ghế loại xoàng. Vách ngăn giữa nhà trong
với nhà ngoài là 2 tủ kính, vẽ vời đủ thứ trái cây, hình ảnh, màu sắc lòe loẹt
như hàng mã. Một tủ đựng quần áo, một tủ đựng chén bát. Chén bát chỉ để phô
trương ít ai lấy ra dùng. Phía trước trống huếch, trống hoác, không cửa, không
rèm.
Thấy vỏ tắp vào, một bà cụ ngoài 60 tuổi, bước ra sân: “chào dì Sáu”. Năm sáu
đứa trẻ, đứa thì có quần lại không mặc áo, đứa thì có áo lại không có quần, cũng
theo ra, theo vào, dán mắt nhìn, rồi leo lên ván, châu đầu hóng chuyện.
-Hà có nhà không, bà? Dì Sáu hỏi.
-Nó mới ra vuông. Tội nghiệp. Què vậy chớ ngày nào cũng phải ra vuông đó dì Sáu
ơi.
Chủ nhà là một ông lão xấp xỉ 70, mình mặc mỗi chiếc quần đùi nhầu nát, để lộ cả
thân mình mốc meo.
-Cụ được mấy người con, tôi hỏi.
-Được 4 đứa, có gia đình hết rồi, còn mỗi thằng út, bị tật, tội nghiệp ghê hà!
-Cụ được bao nhiêu tuổi rồi?
-Tôi sinh hồi kháng chiến, rày không biết bao nhiêu nữa.
Một em bé 3, 4 tuổi, mắt còn ngái ngủ, nhìn tôi bẽn lẽn, giơ tay ôm lấy, rồi áp
sát mặt vào đùi ông lão. Đôi mắt ông vẫn lơ đễnh nhìn ra bên ngoài, như mong,
như ngóng chuyện gì. Mọi người lục tục kéo nhau đi, tôi cũng đứng dậy, đi theo.
Mặt trời đã lên cao, nắng đốt rát mặt người. Nước vẫn trơ trơ đục ngầu.
Người thứ hai là một thanh niên bị bại một chân, đã 25 tuổi, râu ria lún phún mà
dáng chỉ bằng một đứa trẻ 12, cao chưa đầy 1 mét. Nhà này đầy vòng hoa người
chết. Hỏi ra mới biết má anh mới qua đời. Dì Sáu nhìn tôi nói: “ anh này đã bắt
đầu đi học.” Vỗ về anh xong, đang quay ra vỏ, bỗng dì ngoái lại hỏi: “bà cụ nhà
bên cạnh còn sống không, ông Chín?”
-Dạ còn, dì Sáu.
Cả đoàn lại rẽ bước sang ngang. Một con chó ướt như chuột lột, đang ở ngoài sân,
chạy vội vào trong ngưỡng cửa, ngước đầu lên, nhắm mắt, tru tréo. Tiếp chúng tôi
là một cô gái, tuổi trạc hai mươi, trắng trẻo, xinh xắn.
-Ngoại còn sống không con?
-Dạ còn.
-Cho dì Sáu thăm ngoại.
Cô gái vén chiếc màn gió cũ nát, nói: “dì Sáu chờ chút, đang làm vệ sinh cho
ngoại”. Vài phút sau, cô vén màn gió, nhét vào khe cửa, nói: “ xong rồi dì Sáu
ơi!”
Giọng cô ngọt như mía lùi. Nhìn cô, tôi bỗng nhớ tới những cô gái bị phỉnh gạt
bán sang Trung Quốc, Đài Loan, hoặc vào các quán bia ôm, nhà thổ. Làm sao bây
giờ để giúp cô thoát khỏi móng vuốt của những tên buôn người. Miệng tôi đắng
nghét, mắt cay xè, khi thấy mình hoàn toàn bất lực.
Bà cụ ngồi chổm hổm, hai tay bám chặt lấy thành giường, người nhỏ thó trông rất
tội nghiệp. Dì Sáu nắm lấy cánh tay khẳng khiu chỉ còn da bọc xương nhăn nhúm,
ghé sát tai bà nói: “bà Năm, con là dì Sáu nè! Con đến thăm bà nè!”
-Bả không nghe đâu! Người cháu nói.
-Bà ấy bao nhiêu tuổi rồi, tôi hỏi.
-Dạ, 94,
-Sao biết bà đói mà cho ăn? Thuật, một người cùng đoàn hỏi.
-Cứ tới nắm tay bả là bả há miệng ra à! Có khi bả phải nhịn đói cả ngày, nhà có
gì ăn đâu.
Từ giã bà cụ ra đi, lòng tôi nặng chĩu những ưu tư trăn trở. Vỏ vẫn nhẹ lướt
trên sông nước. Người thứ tư là một thanh niên ngoài 20 tuổi, có gia đình được 2
con. Một cánh tay tê bại, khô đét, thế mà vẫn phải đi đào đất mướn, để mỗi ngày
kiếm lấy 10.000 đồng nuôi 4 miệng ăn. Ngày nào không có người mướn, ngày ấy cả
nhà lại phải sống bằng những của trời cho. Cách nhà này 4 căn là nhà của Nui.
Vào nhà, tôi không thấy ai, chỉ thấy 2 con heo con mũm mĩm, đang chũi đất dưới
chân giường. Nui là 1 thanh niên chưa đầy 18 tuổi, da mốc meo, xám xịt. Đôi mắt
mù lòa.
-Hồi nhỏ nó đẹp trai lắm, bị ban, mắt có mủ không có tiền chữa, hư luôn cặp mắt.
Dì Sáu nói nhỏ với tôi. Mẹ Nui khoe: “ hát hay lắm nha, dì Sáu!
-Nui, hát bài nghe coi. Dì Sáu nói.
-Ừ đúng rồi, hát đi Nui! Mọi người đồng thanh nói. Rồi im lặng đợi chờ.
-Hát bài gì bây giờ? Nui hướng về phía mọi người. Đôi mắt vẫn khép hờ muôn thưở.
-Tôi tính vay nợ mua cho nó dàn âm ly, để nó đi hát. Tội nghiệp! Tiền dì Sáu cho
có dám ăn đâu, để dành mua âm ly đó.
-Không được à nghen! Phải bồi dưỡng để lấy sức chớ!
-Nghe Nui hát nha! Mẹ Nui nói.
Nui cất giọng cao vút, hát một bài vọng cổ thời chiến. Được nửa bài, anh im bặt,
nở nụ cười thơ ngây thay lời cáo lỗi: “quên rồi”. Mọi người vỗ tay tán thưởng.
Tạm biệt Nui, chúng tôi xuống vỏ. Nắng bắt đầu gay gắt mà vẫn không thể xuyên
thủng giòng nước phù sa. Chúng tôi bắt đầu rẽ vào một con kênh nhỏ, rộng chừng 2
mét. Hai bên bờ lác đác một vài nếp nhà ọp ẹp, nằm ngay dưới tán những cây dừa
cao ngất, xác xơ, xiêu vẹo. Gần đến một khúc quanh vuông vắn, một thân dừa kếch
xù, khoảng hơn một người ôm, bắt ngang giòng kênh làm cầu qua lại, hì hục mãi mà
vẫn không làm gì khác được, cả đoàn phải bước xuống, đưa vỏ lên bờ.
-Chào dì Sáu, một cô gái trẻ măng vui vẻ nói.
Dì sáu nói gì tôi nghe không rõ, chỉ nghe cô chủ nhà nói: “nó theo ba má con đi
mua dừa rồi. Tội nghiệp! Nó bị tật vậy chớ cũng xách được vài trái đỡ cho ông
bả. Mời dì Sáu vô nhà chơi.
Nhà này chỉ đủ kê 1 chiếc giường cỡ 1m60, và mắc một chiếc võng nhỏ, có điều lá
vẫn còn tươi.
-Hôm nay không đi làm à? dì Sáu hỏi. Cô chủ chỉ 1 đứa nhỏ, kháu khỉnh nhưng xanh
xao vì suy dinh dưỡng, đang ngủ say nói: “mắc nó có đi đâu được đâu. Mùa năm nay
thất bát quá. Ba nó đi làm mướn cả tuần nay chưa thấy về”. Vừa nói cô vừa lấy 2
chiếc ly nhựa sờn mép, múc nước từ chum ra mời khách.
Tạm biệt cô chủ nhỏ, chúng tôi đưa vỏ xuống kênh. Đi được chừng 50 mét, kênh lại
bị nghẽn. Vùng này mới trải qua một cơn bão, mưa dầm dề cả tuần lễ, các cây chàm
mọc hai bên bờ thi nhau ngả, nằm ngổn ngang trên giòng kênh. Tôi ngồi ngay đàng
mũi, nên phải dọn đường, hất khúc cây này, đẩy khúc cây khác, có lúc còn phải
đánh đu lên cây, đạp mũi vỏ xuống để có thể luồn qua chướng ngại vật. Có lúc mọi
người phải nằm bẹp xuống vỏ, chẳng khác gì du kích hành quân thưở trước. Hết
đoạn đường gian khổ này là 1 giòng sông nhỏ. Hai bên toàn dừa nước, có chỗ thừa
thắng xông lên, lấn chiếm hết một nửa giòng sông. Thỉnh thoảng có cây còn thò cả
buồng ra ngoài, trông hệt như những trái bóng tròn trịa, nâu đỏ. Không khí mát
lạnh như Đàlạt vào thu.
Chúng tôi rẽ vào một con kênh khác, rồi bước vào 1 ngôi nhà tô cũ kỹ, không quét
vôi, bên hông nhà là 3 ngôi mộ, mới quét vôi trắng. Cả sân lẫn nền nhà đều bằng
đất, nhão nhoẹt, nhầy nhụa. Người khuyết tật trong nhà này là một cô gái 26
tuổi, chủ nhà là cựu chủ tịch xã, giấy khen treo kín cả tường, lớp lang, thứ tự.
Đón chúng tôi vào xong, ông ngồi xuống ghế rót nước uống một mình, không mời ai,
rồi bắt đầu huyên thuyên: “từ khi bả chết, nhà chỉ có mình ên với hắn. Mỗi ngày
hai lần cõng hắn ra sông tắm. Tôi xin xã cho hắn một cây nước (giếng nước), xã
không xét, bảo không xét cho nhà xây. Tôi xin cho hắn chớ có xin cho tôi đâu”.
Cô bé vẫn ngồi lơ đễnh nhìn mọi người, mặc cho rãi tràn ra hai bên mép, rơi
thành đường xuống cổ.
An tượng nhất hôm ấy có lẽ là cuộc viếng thăm nhà Huệ Nhân. Bước lên bờ, dì Sáu
hỏi tôi: “đã mệt chưa?” tôi lắc đầu, mắt vẫn dán chặt vào một căn nhà mục nát
trước mặt, nền lồi lõm, ướt nhẹp còn tệ hơn cả bờ kênh.
-Huệ Nhân được 3 tuổi, bị câm điếc, đã bắt đầu đi học, dì Sáu vừa nói, vừa bước
vào nhà. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi là 1 thanh niên chạc 30 tuổi, mình
mặc mỗi chiếc quần đùi, gầy ốm xanh xao, nằm dài trên chiếc nệm cáu bẩn. Mái nhà
trống huếch trống hoác, người ta phải căng một tấm nylon cũ mèm, vừa vặn khung
giường để che nắng, che mưa. Người vợ trẻ quần áo ướt nhẹp, thấy người lạ mặt, e
ấp, rụt rè.
-Ua, ba Huệ Nhân bị sao vậy? Dì Sáu hỏi.
-Lúc đầu tưởng ảnh bị trúng gió, đưa ra Cà Mau mới biết bị tai biến. Người ta
đòi 3 triệu, con mượn mãi mới được 200.000, ông cố sở cho 100.000. Người ta
không chữa, con phải đưa ảnh về.
Anh chồng gượng mãi mới ngồi dậy được, nói: “cánh tay này bị liệt rồi, mất cảm
giác, chân thì còn biết đau.
-Trời ơi, ảnh nặng quá, con bồng đâu nổi, cố rê ảnh ra góc nhà cũng không nổi,
đành tắm cho ảnh ở giữa nhà, ướt tèm lem.
Nắng từ ngoài hắt vào, từ trên hắt xuống, khiến mọi người đang vây kín giường
anh có cảm giác là họ đang đứng ở ngoài sân. Ai cũng đăm chiêu, ngậm ngùi, hết
nhìn anh rồi lại đến vợ anh. Vài ba đứa trẻ thập thò ngoài cửa cũng bị nhận chìm
trong vòng im lặng nghiệt ngã. Ra khỏi nhà, tôi móc túi, đưa cho 1 bà trong đoàn
100. 000 chia sẻ với gia đình tội ngiệp ấy. Nhận tiền xong, chị chạy ra cám ơn
ríu rít.
-Anh này siêng lắm. Dì Sáu nói, mà tại siêng quá, tối ngày lặn lội dưới kênh, bị
nhiễm cảm lạnh, sinh tai biến. Im lặng hồi lâu, dì Sáu nói trong tiếc nuối: giá
nó đừng phí sức.
Bước xuống vỏ, tôi cảm thấy lòng quặn đau cho những mảnh đời vụn vỡ. Từng đám
mây đen đang lướt nhanh làm tối cả mặt trời, rồi tụ lại làm xám ngoét cả bầu
trời phía tây. “Chồng nằm đấy, con 2 đứa, một đứa vừa câm vừa điếc, một đứa còn
bế ngửa trên tay, còn mỗi mình chị lo cho cả 3 người lấy gì mà sống”. Tôi nhắm
chặt mắt. Tài công bắt đầu rú ga. Trời xám xịt. Mưa lất phất. Vỏ như đang lao
vút vào trong cõi tăm tối mịt mù.
Mưa bắt đầu nặng hạt, thấm vào nón mọi người rơi lã chã. Trời đang khóc hay lòng
người đang khóc. Thiếu tiền, thiếu hiểu biết đã làm cho bao cuộc đời thành vụn
vỡ. Tôi nhắm chặt mắt mặc cho mưa rơi, cố nhớ lại khuôn mặt của những người tôi
gặp sáng nay. Chỉ có hai nhà là có bàn ghế. Một là nhà của ông cựu chủ tịch xã,
nhà còn lại tôi không nhớ tên. Bước vào nhà, thấy hình của một cô gái trẻ măng
trên bàn thờ tôi hỏi: “hình của ai đây?”
-Dạ, của người chị vợ. Bả chết hồi chiến tranh. Mới lấy chồng được 3 tháng, chèo
ghe ra sông mua gạo, bị máy bay bắn chết.
-Chồng bà còn sống không? tôi hỏi.
-Chết rồi, mới chết cách nay ít tháng. Ong là ông bầu đoàn cải lương Vũng Tàu 2
giàu có lắm. Có đêm ăn chơi, nhậu nhẹt hết cả hơn 5 triệu, cuối cùng chết vì
sida.
Có tiền, phung phá quá, cũng làm cho cuộc đời thành vụn vỡ. Bé Tư, phung phá của
nhân dân tỉnh Cà Mau cả trăm tỷ, hiện đang tù tội. Cuộc đời cũng đang vụn vỡ.
Không biết đến bao giờ người giàu biết làm chủ tiền bạc của mình, để đời khỏi
vụn vỡ? Không biết đến bao giờ người nghèo mới có đủ tiền, đủ hiểu biết, để hàn
gắn lại những mảnh đời vụn vỡ?
Vỏ tắp vào bờ. Từ giã tôi dì Sáu nói: “dân ở đây cần tiền, nhưng họ cần sự trân
trọng yêu thương của ta hơn. Chỉ khi nào con người có tấm lòng của con người,
thì khi ấy cuộc đời con người mới không còn rách nát”.
Mưa tạnh hẳn. Trời bừng sáng. Nắng hồi sinh. Nước vẫn trôi lờ lững.
Sàigòn cuối thu, nắng gay gắt, khí ngột ngạt, xe
cộ như nêm. Tiếng xe ba gác phành phạch cao vút cùng với các loại xe hơi, xe
tải, và xe hai bánh khác tạo nên một thứ âm thanh hỗn độn, nhức nhối. Tuyết Lan,
một cô gái đã ngoài ba mươi, mặt bơ phờ, tóc rối bù, áo quần lếch thếch, đang
mất hút trong giòng xe cộ dài như vô tận trên đường từ An Sương về thành phố.
Lan phóng như người mất hồn. Đầu óc vẫn đang quay cuồng với trăm nghìn trăn trở
về Tứ Lai, một bệnh nhân sida đang thoi thóp dưới gầm cầu vượt ngã tư An Sương.
Gần 10 năm nay, lang thang hết công viên này tới gầm cầu khác, chăm sóc cho
không biết bao nhiêu người mắc chứng bệnh thế kỷ, chưa một người nào để lại
trong Lan một nỗi buồn da diết như chuyện của Tứ Lai. Lan nhắm chặt mắt như cố
cảm thông với nỗi căm thù xã hội của Tứ Lai. “Rầm”, Lan mất thăng bằng , đầu
chúi về phía trước, môi đập vào ghi đông, đau điếng, may mà không té.
-Này, cô có muốn chết không đấy! Đèn đỏ mà cô không thấy à! Một người đàn ông,
tuổi đã xế bóng, nhìn Lan thông cảm, nói đùa.
Lan thấy môi sưng vù, máu tràn vào miệng vừa tanh vừa mặn. Người đàn ông vội
vàng dựng xe, chạy tới, đỡ lấy hai vai Lan: “Cô có thấy sao không? Máu ra khá
nhiều đấy! Tắp vào lề nghỉ đã!”
Người qua đường, kẻ nhìn Lan hờ hững, kẻ thì bảo: “nhà giàu đứt tay ấy mà!”, kẻ
khác bảo: “phóng chi cho cố, đáng kiếp!”, người khác lại chế diễu: “môi anh đây
không hôn, hôn ghi đông xe chi cho khổ!”. Lan lén nhìn người đàn ông, cố mỉm
cười, tỏ lòng biết ơn nói: “Chắc không sao đâu. Cầm máu rồi thì phải!”. Người
đàn ông rút khăn mouchoir chậm nhẹ lên những giọt máu vương vãi trên cằm Lan.
Hơi đàn ông thoang thoảng làm Lan ngượng ngùng.
-Thôi chết. Lan khẽ gạt tay ông ra, nói: “ Đèn xe chú bị bể rồi kìa!”
Người ấy giơ hai tay, bưng lấy mặt Lan âu yếm nói: “bể lâu rồi, không phải lỗi
của em đâu. Em đi đâu mà vội vã thế?” Ông buông tay ra, nhìn thẳng vào mắt Lan,
nói : “hình như em đang có chuyện buồn thì phải”.
Lan khẽ gật đầu. Ong rút tấm danh thiếp, nhét vào tay Lan, nói: “giữ lấy, lúc
nào cần anh, thì cứ đến”. Nói xong ông lên xe, đạp máy, ngoảnh nhìn Lan, mỉm
cười rồi phóng mất.
- Ê Lan! Sao cậu lại sớ rớ ở đây? Ông ấy là ai đấy? Môi cậu bị sao vậy?
Lan bừng tỉnh. Phượng Linh vẫn ngồi trên chiếc Citi màu huyết dụ, nhìn Lan ái
ngại. Lan nuốt ngụm máu còn trong miệng, nói : “không sao. Hôn đít người ta mà
không sao, chỉ bị téc môi một chút thôi. Tớ đi tìm người giải tội cho Tứ Lai. Nó
sắp chết rồi.”
-Cậu tính tìm ai?
-Tìm mấy ông cha quen Dòng Chúa Cứu Thế.
“Tin, tin… này có đi không thì bảo. Không đi thì lên lề mà nói chuyện cho người
ta đi chứ!”
-Thôi cậu đi đi! Tớ cũng phải đi kẻo trễ. Lan nhét vội tấm danh thiếp vào túi,
leo lên xe, và chìm dần vào trong giòng xe xuôi ngược.
Lan lại phóng như bay, sợ hết giờ gặp khách. Tới nơi, đã quá 11 giờ, may mà
phòng khách còn mở cửa. Bấm chuông tới tấp mà vẫn chẳng thấy cha Thịnh đâu. Lan
đi ra ngoài, nhìn quanh, thất vọng. Mấy cây dầu cao vút trước cửa, trông thật
ngạo nghễ, vẫn cúi đầu, ủ rũ, cam chịu mặt trời tước mất vẻ tươi tắn cố hữu.
-Ai bấm chuông cha Thịnh đấy?
Nghe có người hỏi, Lan mừng húm, chạy vội vào: “dạ, tôi ạ!”.
-Chị tìm cha Thịnh có chuyện gì không?
-Có chuyện quan trọng lắm, mà ngài có nhà không?
-Đáng lẽ giờ này ngài phải có ở nhà rồi. Mà sao vẫn chưa thấy ngài đâu. Chị có
cần gặp ngài gấp không?
-Gấp lắm. Tôi xin ngài đi giải tội cho một người ở An Sương.
- Ơ An Sương thì tìm cha An Sương chứ, sao lại tìm cha Thịnh?
Lan im lặng bước ra phòng ngoài, mệt mỏi, ngồi phịch xuống ghế, đợi chờ.
-Ai vậy Minh? Bình hỏi.
-Một bà xin cha Thịnh đi giải tội ở tận An Sương lận.
Bình nhìn qua khe cửa thấy Lan vẫn lơ đễnh nhìn lung vào cỏ, cây đang gục đầu
trong nắng.
-Chị này trông quen lắm, Minh ạ! Để tớ nhớ lại xem đã gặp chị ở đâu. Bình lại
nhìn qua khe cửa, rồi kéo tay Minh, nói nhỏ: “ chị Tuyết Lan, cựu tu sĩ Dòng
Đaminh, quê ở Bình Giã, gần nhà mình.
-Cậu quen chị ta à?
-Chỉ biết thôi chứ không quen. Hồi còn là tu sĩ, chị làm việc tại hội chữ thập
đỏ xã Ngãi Giao. Một buổi sáng nọ, đi làm sớm, thấy ai bỏ một bó khăn lông trước
cửa, kiến bu đầy, mở ra thấy một bé trai mới sinh, bị kiến đốt sưng vù, chị cứu
sống, nhận làm con nuôi, đặt tên là cu Lượm. Khi còn nhỏ, cộng đoàn ai cũng quí
mến cu Lượm. Nhưng lớn lên cu cậu phá chưa từng thấy.
Ngưng lại một lát, Bình tiếp: “ cộng đoàn nuôi dê lấy sữa, vừa để bồi dưỡng, vừa
để kiếm sống, thỉnh thoảng cũng trồng bông bán. Một dịp tết nọ, cả một vườn vạn
thọ mơn mởn, ngút ngàn, toàn nụ là nụ, sắp tới ngày thu hoạch. Hàng rào kiên cố.
Thấy không ai coi, cu Lượm lén mở cửa, lùa dê vào, rồi đứng ngoài cổng la hét,
khoái chí. Khi các soeur chạy tới, thì vườn bông đã bị phá tanh banh, chỉ còn lơ
thơ vài cây siêu vẹo, rụt rè trong nắng. Cu Lượm bị một trận nên thân, xưng vù
cả chân tay. Đi làm về, thấy mắt cu Lượm sưng húp, xót con, chị Lan lôi cu Lượm
đến chị bề trên, cự xối xả.
-Lúc đó nó bao nhiêu tuổi mà phá dữ thế?
-Không biết, mình chỉ nghe kể vậy thôi. Trời bắt đầu kéo mấy đen, xám xịt. Gió
lạnh quất phành phạch vào chiếc phên trước hành lang, thổi bay hết mọi thứ giấy
tờ trên bàn.
-Trời lại chuyển mưa nữa. Năm nay sao mưa dai thế không biết! Bình nói.
-Đây chắc là cơn mưa cuối mùa, Bình ạ! Im lặng một lúc, Minh hỏi: “cu Lượm bây
giờ ở đâu?”
-Nó còn ở lại cộng đoàn một thời gian nữa. Người ta kể, có lần nhân bổn mạng dì
nhất. Cỗ bàn đã chuẩn bị tươm tất. Các soeur đang đọc kinh trưa trong nhà
nguyện, thì lại nghe cu Lượm la hét. Các chị ùa ra, chạy vội vào phòng cơm, thì
ôi thôi, dê đầy cả phòng. Có con còn leo cả lên bàn. Thịt, cá, rau, quả, đất,
cát, cùng với phân dê vung vãi khắp cả phòng. Chị phó bề trên bực bội, mím chặt
môi, mặt đỏ bừng, nắm tay cu Lượm lôi xềnh xệch vào phòng khách, rút cây chổi
lông gà, quất túi bụi lên đầu, lên cổ Lượm. Tuyết Lan từ xa lao tới, giựt lấy
cây chổi, chống nạnh, nhìn chị phó, nói: “bà lấy quyền gì mà hành hung con người
ta như thế. Tôi cấm bà từ nay không được đụng vào nó!” Cu Lượm nép sát vào mình
Lan, hai tay ôm lấy đùi Lan, bật khóc nức nở. Chị bề trên đứng như trời trồng
trước cửa. Từ ngày ấy, chị em trong cộng đoàn bắt đầu xào xáo, chia rẽ. Tuyết
Lan không dám để cu Lượm ở nhà nữa, đi đâu cũng dắt theo. Bổn đạo bắt đầu đàm
tiếu. Có lần khi đi ngang qua đám thanh niên, Lan nghe rõ có người nói: “soeur
ơi soeur, soeur đẹp quá, soeur cho em làm cu Lượm của soeur đi!” Người khác thì
bảo: “soeur có muốn cu Lượm thứ hai không, em xin biếu không!” Trong cộng đoàn
cũng không thiếu những lời cay độc. Có người bảo: cu Lượm là ác quỉ hiện hình,
đêm đêm hay đi lại, đánh đu trên mái nhà. Người khác lại bảo, đêm nào cũng thấy
nó lang thang ngoài nghĩa trang. Người khác nữa còn độc mồm độc miệng hơn, bảo
đêm nào cũng thấy nó vào phòng Lan. Ơ ngoài nó là đứa con nít, vào tới phòng, nò
là một thanh niên vạm vỡ. Hai người làm gì trong ấy, chỉ có trời biết! Bề trên
chịu hết nổi những lời ấy, kêu Tuyết Lan tới, nói: “chị nghe quá nhiều chuyện về
cu Lượm, chị không còn chịu nổi nữa rồi. Em có nghe người ta nói gì không?
-Có, nhưng cây ngay sợ gì chết đứng, thưa chị! Vả lại, thời buổi này mà không
ngồi xổm trên dư luận, sống sao nổi!”
-Dư luận chị không sợ, chị chỉ sợ cu Lượm làm em lo ra, lơ là trong đời tu thôi.
Bây giờ em phải quyết định hoặc gửi cu Lượm vào trại cô nhi hoặc cho một người
khác nuôi, còn nếu em muốn sống với cu Lượm, em phải ra khỏi cộng đoàn.
-Nhưng gửi nó đi đâu bây giờ? Mình đã rửa tội cho nó, mình phải có trách nhiệm
giáo dục đức tin cho nó chứ!
-Tu viện là nơi để người ta tu, chứ không phải là cô nhi viện. Hơn nữa, một bà
soeur lúc nào cũng kè kè một đứa con nít, ai mà coi cho được. Em suy nghĩ kỹ đi,
rồi báo cho chị biết.
Suốt đêm ấy Tuyết Lan trằn trọc mãi, không sao ngủ được. Vì sao người ta lại độc
ác đến thế. Sinh con ra, đem vứt ngoài đường, người khác lượm về lại cấm không
cho nuôi. Đi tu là để yêu thương như Đức Kitô, yêu cho đến sẵn sàng chết cho cả
những kẻ đóng đinh Ngài, để họ được sống và sống dồi dào. Thế mà sao có những
con người, bên trong chiếc áo nhà tu, vẫn còn là lòng lang, dạ thú… ta sẽ kiên
quyết giữ vững lập trường. Nhưng bây giờ không tu nữa, mình sẽ ở đâu? Đưa nó về
với mẹ, liệu mẹ có chịu nổi không?
Sáng hôm sau, Lan nói với chị bề trên: “thưa chị, em muốn chu toàn trách nhiệm
của người đã cứu sống cu Lượm. Em xin ra khỏi cộng đoàn”.
-Sao chị ấy dại thế? Minh hỏi. Đời tu phải hơn thằng con nít chứ. Vả lại, mình
có bỏ nó đâu, mình gửi nó cho người khác nuôi mà!”.
-Đời không đơn giản như mình nghĩ, Minh ạ! Bình tiếp : “nghe tin chị xuất tu,
các chị trong cộng đoàn bắt đầu xôn xao, có chị nói: tôi nói có sai đâu, chỉ có
ác quỉ mới hớp hồn được con Lan thôi, chứ mười cu Lượm đối với nó có ăn thua
gì!” Nghe vậy, chị bề trên cắt ngang: “chị đừng xét đoán vô căn cứ như thế chứ!
Hãy cứ để mặc Lan với lương tâm chị trước mặt Chúa, việc của ta không phải là
xét đoán mà là cầu nguyện cho chị ấy được bình an”.
Dẫn Lượm về tới nhà, cách nhà dòng không bao xa, Lan dặn dò: “về đây ở, con
không được phá. Con mà phá, bà ngoại đuổi đi, không còn chỗ nào mà ở đâu, nghe
chưa?”. Lượm gật đầu, nhưng vẫn chứng nào tật nấy. Bà cụ nuôi mãi mới được bầy
gà. Nhân lúc bà đi chợ, Lượm lấy bút lông của chị Lan sơn hết con này đến con
khác, con thì màu đỏ, con màu vàng, màu xanh, trắng… có bao nhiêu gà sơn hết bấy
nhiêu. Gà mẹ không nhận ra con mình nữa, cứ thấy con là mổ. Gà con chết sạch. Bà
cụ tiếc ngẩn ngơ. Lan giận tím cả người, nhưng vẫn cứ thương con.
Khi đến tuổi đi học, tên khai sinh của nó là Trần Thiên An, nhưng chẳng ai gọi
nó là An cả. Bạn bè vẫn cứ gọi nó là cu Lượm, khi tức giận lại còn tru tréo “đồ
con rơi, đồ không cha, không mẹ”. Thế là đánh nhau. Ngày nào đi học về, áo quần
cũng đỏ lòm, nhầu nát, có hôm lại còn téc đầu, sứt trán. Bà cụ cứ bị người ta
mắng vốn, buồn, bắt đầu bàn với người con trai duy nhất của bà: “thằng này làm
khổ mẹ quá, con đưa nó vào trại mồ côi đi. Nhớ, đừng để con Lan biết.
Một buổi chiều nọ, đi làm về, không thấy Lượm đâu, Lan hỏi: “hôm nay Lượm có đi
học không mẹ?”
-Có, nó đi từ sáng. Mọi ngày khi nào nó cũng về trước kinh truyền tin, sao hôm
nay chẳng thấy nó về gì cả, mẹ cứ ngỡ nó ra chỗ con làm.
- Không, có đâu. Vậy nó đi đâu? Chả lẽ nó lại vào nhà dòng?
Nói xong, Lan bỏ đi, đi đâu không biết mãi tới thật khuya mới về. Lan ở nhà được
ít bữa, rồi cũng đi luôn, từ đó không thấy về nữa. Dân làng ai cũng tưởng cô đã
chết.
Gió lại thổi ào ào, vặn vẹo, uốn éo hàng cây trước mặt. Bình, Minh cùng im lặng.
Mưa bắt đầu lốp đốp trên mái, nhưng chỉ được vài hạt lại thôi. Thấy cha Thịnh
vừa đi, vừa đọc sách, Minh chạy vội lại, nói: “thưa cha, có chị Lan nào đó chờ
cha ngoài phòng khách”.
-Vậy hả? Có chuyện gì không?
-Chị ấy xin cha đi giải tội hay xức dầu cho ai ở An Sương ấy mà!
-Thôi, lại mấy đứa sida rồi, cám ơn cậu!
Lan vẫn suy nghĩ miên man, rất nhiều cha mẹ đang đẩy con cái vào chỗ chết mà
không biết. Cha Thịnh bước ra phòng khách: “chào Lan, có chuyện gì thế?”. Lan
đứng choàng dậy : “trời ơi! Cha đi đâu mà lâu thế! con chờ cha cả tiếng rồi đấy.
Thằng Tứ Lai muốn xưng tội lần đầu.
-Vậy hả? Bây giờ nó ở đâu?
-Ở gầm cầu vượt An Sương. Ơ đó đỡ hơn công viên Văn Lang nhiều.
-Môi chị bị sao đấy?
-Đèn đỏ con thắng không kịp, đâm vào xe người ta, môi đập vào ghi đông.
Nói tới đây, Lan cố hình dung ra khuôn mặt người đã đưa cho mình tấm danh thiếp,
nhưng vẫn không sao nhớ được. Lan móc tấm danh thiếp ra, đưa cho cha Thịnh hỏi:
“cha có biết ông này không?”
-Ông nào? Vừa nói, cha vừa cầm tấm danh thiếp đọc: “Hoàng Ngọc Bảo, giáo sư Anh
Văn… không biết có phải ông Bảo đã có ba đời vợ, hiện vẫn cô đơn không? Đưa tôi
xem lại xem ông ấy ở đâu nào!
-115 Nguyễn Phi Khanh.
- Chắc đúng rồi đó. Ông này quảng đại lắm, cần quan tài cứ tới. Nhưng hình như
ông vẫn có một nỗi u uẩn nào đó thì phải.
-Vậy khi nào cha đi được?
-Trời mưa, nắng thất thường thế này, đi xa quá, không biết có sao không. Mà
thôi, Lan cứ về đi, tôi đi ngay.
Trời bắt đầu đen nghịt. Sấm chớp liên hồi. Gió lạnh quất phần phật, làm run bắn
cả người. Mưa bắt đầu lác đác.
-Cậu có áo mưa không?
-Có, cha có cần mặc áo mưa không?
-Cần chứ! dừng lại mặc áo đã, kẻo ướt.
Qua cầu Tham Lương một chút là trời bắt đầu mưa như trút. Mưa quất vào mặt, vào
trán đau như bị đánh. Gió thổi mạnh, có lúc làm Bình không còn vững lái. Gầm cầu
An sương chật cứng người trú mưa.
-Tới rồi cha ạ.
-Tới rồi, mà không biết nó nằm đâu cơ chứ. Cha Thịnh len lỏi vào tận trong góc
thấp, Lan vẫn đang quì bên Tứ Lai, ghé sát tai, như đang nghe ngóng chuyện gì.
Tứ lai chỉ còn da bọc xương. Trán nhô cao, mắt sâu hoăm hoắm, da đen xạm, xần
xùi hệt như da cóc. Mình mặc mỗi bộ quần áo cũ xì, cáu bẩn, tay chân khẳng khiu,
khô đét, đang nằm trên tấm nylon co quắp, quay mặt ra phía ngoài. Tấm nylon bắt
bụi mưa, bị đạp lên, nhớp nhúa. Một mùi khó chịu hệt như mùi cóc chết theo gió
thốc vào mũi cha Thịnh làm ngài ho sặc sụa.
-Con đã chuẩn bị xong rồi. Lan nói.
Cha Thịnh quì xuống, rồi ngồi lên hai gót chân, ghé sát tai vào mặt Tứ Lai. Tứ
Lai thều thào, phả vào cha một mùi khó chịu. Bên ngoài mưa vẫn như trút, nước
lênh láng, ngập hết cả đường. Cha Thịnh nắm lấy bàn tay Tứ Lai, nhẹ nhàng nói: “
Anh Lai mến, Chúa Giêsu yêu thương hết mọi người trong đó có anh. Chúa còn
thương cả những người chỉ vì ghen tức đã đóng đinh Ngài vào thập giá. Thánh Luca
kể: khi Chúa Giêsu chịu đóng đinh, có hai người khác cũng cùng chịu đóng đinh
với Ngài. Họ là kẻ tội lỗi, Ngài thì không. Một người bị đóng đinh nhục mạ Ngài:
“ông không phải là Đức Kitô sao? Hãy cứu mình và cứu cả chúng tôi với! Nhưng
người kia mắng nó: mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa mày
cũng không sợ. Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm,
chứ ông này đâu có làm gì trái. Rồi anh ta thưa với Chúa Giêsu: ông Giêsu ơi,
khi nào ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi. Và Chúa Giêsu đáp: tôi bảo thật
anh, ngay hôm nay, anh sẽ được ở trên thiên đàng với tôi” (Lc 23, 39- 43). Anh
có tin Chúa thương anh không?” Tứ Lai gật đầu. Cha Thịnh tiếp: “ Chúa Giêsu còn
thương cả những kẻ đóng đinh Ngài nữa. Khi đóng đinh Chúa Giêsu xong, binh lính,
thượng tế, luật sĩ hí hửng. Có người hứng chí nhạo cười Ngài: này Giêsu, có ngon
thì xuống khỏi thập giá đi! Kẻ khác lại bảo: hỡi thầy lang, hãy cứu lấy mình đi,
hãy xuống khỏi thập giá để chúng ta tin nào! Không một tên nào trong bọn sát
nhân ấy tỏ dấu ăn năn. Vậy mà Chúa Giêsu vẫn xin với Chúa Cha: lạy cha, xin tha
cho họ… khi tha thứ chọ họ như thế, Chúa Giêsu đã công bố cho loài người chúng
ta một Tin Mừng. Đó là dẫu ta có ghét bỏ ngài, có đóng đinh Ngài, hay chà đạp
Ngài xuống bùn đen, Ngài vẫn hết mực yêu thương ta, Ngài vẫn là của ta và ta vẫn
là của Ngài. Anh có tin như thế không? Lai lại khẽ gật đầu. Mắt dán chặt vào cây
thánh giá trong tay cha Thịnh.
-Vậy anh hãy thưa với Ngài: lạy Chúa Giêsu khi vào nước Ngài, xin nhớ đến con.
Tứ Lai mấp máy đôi môi. Cha Thịnh tiếp: bây giờ tôi cho anh rước lễ nha. Chúa
Giêsu đã nói: Tôi là bánh Hằng Sống từ trời xuống, ai đến với Tôi sẽ không hề
đói. Ai tin vào Tôi sẽ không khát bao giờ. Ngài lại còn bảo: ai ăn Tôi thì ở
trong Tôi và Tôi ở trong kẻ ấy. Và để cụ thể hoá những gì Ngài nói, vào lúc cuối
đời, Chúa Giêsu đã cầm lấy bánh và nói: anh em hãy cầm lấy mà ăn, này là mình
Thầy, hy sinh vì anh em. Cha Thịnh giơ Mình Thánh lên, nói tiếp: anh Lai mến,
đây là Chúa Giêsu, Đấng đã chết và đã sống lại cho anh. Khi anh đón nhận Ngài,
anh sẽ được ở trong Ngài, anh sẽ chết, nhưng chắc chắn anh cũng sẽ sống lại với
Ngài. Anh có muốn đón nhận Ngài để được sống mãi với Ngài không?
Lai lại gật đầu. Rước lễ xong, Lai cố gượng dậy nhưng không còn sức. Anh thì
thào: “cám ơn cha, xin cha cầu nguyện cho con”. Một vài người trông thấy Mình
Thánh, liền giơ tay làm dấu thánh giá, nhưng vẫn đứng xa xa, không dám đến gần,
vì mọi người đều biết, vì sao người ta phải nằm trong xó tối ấy.
Mưa vẫn rất nặng hạt. Mọi thứ, nếu không bị ướt, thì cũng thấm hơi nước. Lan nắm
tay cha Thịnh: “mưa thế này cha về thế nào được!”
-Chiều nay cũng chẳng có gì phải làm gấp cả, thôi chờ tạnh mưa rồi về cũng được.
-Hay đấy, con cũng đang muốn nói chuyện với cha.
-Ừ! Cứ nói đi!
-Con trằn trọc mãi về chuyện Tứ Lai cha ạ! Nó mới kể cho con hôm qua, sau khi đã
đồng ý xưng tội, nhưng con phải nói cho cha chuyện này trước đã: nó có một người
bạn tên Lượm, không biết đó có phải là Lượm nhà con không.
-Thằng Lượm nhà bà không chơi với những người như thế đâu! Bà cứ yên tâm.
-Cha lúc nào cũng bảo con an tâm, hơn chục năm nay, không biết nó ra sao thì an
thế nào được mà an không biết. Lan im lặng, nhìn bầu trời xám xịt, cùng màn mưa
dầy đặc đang trút xuống như thể không bao giờ dứt, tiếp: bây giờ con đã biết vì
sao Tứ Lai căm thù sự tàn ác, phi nhân của đàn ông và sự vụng dại, ngu ngốc của
đàn bà rồi. Mẹ nó là cấp dưỡng của một trường trung học ngoài Bàrịa, không có
học nhưng dễ coi. Trong trường có một ông thầy dạy Văn, đang say đắm một cô giáo
cùng trường. Hai người đang chuẩn bị đám cưới thì bồ cô ta đang du học Pháp được
về quê nghỉ phép. Cô bỏ ông, thế là ông ôm mối hận tình, vừa quê mặt với bạn bè,
vừa thấy mình thua kém người ta. Ông như người mất hồn, rượu chè be bét, đến giờ
lên lớp rồi mà vẫn còn nghiêng ngả. Mẹ nó thấy tội nghiệp, an ủi rồi dính luôn.
Quen nhau chẳng được bao lâu thì cưới. Hai người khá hạnh phúc, chỉ mỗi tội
nghèo. Họ có được hai đứa con gái. Hai vợ chồng, hai đứa con sống trong ngôi nhà
lá lụp xụp, tồi tàn, gần một nghĩa trang, xa cách mọi người. Ông muốn thoát cảnh
nghèo, nên đề nghị: “có lẽ em phải hy sinh một thời gian, anh lên thành phố học,
lấy cử nhân Anh Văn, may ra mới thoát được cảnh đời đen tối này”.
-Em sẵn sàng thôi, nhưng lấy tiền đâu ra mà học chứ?
Ông im lặng, thấy một cái gì đó đắng cay, tê tái đè nặng trên ngực. Ong buông
tiếng thở dài, rồi lăn kềnh ra ghế, nằm vắt tay lên trán, tư lự. Bà đến bên ông
vỗ về: “thôi, anh cứ yên tâm, em đã có cách”. Ông ngồi bật dậy, nhìn bà âu yếm
hỏi: “cách gì vậy, nói anh nghe coi nào!” Bà giơ tay ôm lấy ông: “anh đừng hỏi,
miễn là có tiền cho anh ăn học là được rồi. Mấy ông dạy Anh Văn trong trường,
tiền vào như nước, thấy mà ham”. Nói xong, bà ngồi xuống bên cạnh chồng, sung
sướng nhìn ngọn đèn dầu leo lét đang tí tách, bập bùng, vẫn không đủ in bóng hai
người lên vách lá. Bên ngoài, trời tối đen như mực. Gió rì rào. Một vài con đom
đóm lập loè trước ngõ. Con cú ăn đêm thỉnh thoảng lại buông những tiếng u uất,
não nuột.
-Anh tính bao giờ mới đi?
-Tuần tới, lãnh lương xong, anh sẽ đi, anh đăng ký rồi.
Ong khăn khói lên đường để lại cho bà một nách hai con dại. Tháng nào bà cũng
chu cấp cho ông đầy đủ, có khi lại còn dư giả nữa là khác. Ong vẫn không biết
tiền ở đâu ra, cho đến một hôm, ông về, thấy bụng bà khang khác. Ong cay đắng,
tủi nhục, nhìn bà căm phẫn hỏi: “bà lang chạ với thằng nào?”. Bà không nói, chỉ
dấm dứt khóc. Ong túm lấy tóc bà, kéo xuống bếp, lấy con dao phay, kề lên cổ bà
hỏi: “bà ăn nằm với thằng nào, nói mau, không tôi cho một dao bây giờ!”.
-Chỉ vì ông, tôi đã dại dột bán thân, nên bây giờ mới ra nông nỗi này. Ông có
giết thì giết.
Ông ném con dao xuống đất, buông bà ra, bước vào nhà, vò đầu, vò cổ: “trời ơi là
trời, sao vợ tôi lại ngu ngốc đến thế! Sao nó lại bán đi cái thuộc quyền của
tôi, để lấy tiền nuôi tôi đi học cơ chứ!”
Bà ngồi phịch xuống đất, ôm chặt lấy cột bếp, mắt nhắm nghiền, tủi nhục, chỉ
mong ông cho một dao, cho rảnh nợ đời. Bên ngoài, trời vẫn tối đen. Gió vẫn rì
rào. Tiếng côn trùng ai oán. Sáng hôm sau, thức dậy, bà không thấy ông đâu, chỉ
thấy mỗi mảnh giấy nhỏ, chữ nguệch ngoạc dưới chân đèn. “Cám ơn bà đã hy sinh
cho tôi. Tôi không còn xứng với sự hy sinh của bà nữa. Tạm biệt”. Bà cầm lấy
mảnh giấy, châm vào đèn. Nước mắt ráo hoảnh. Bà buông lời cay đắng: “ mẹ kiếp,
quân đểu cáng, đồ phản bội”.
Cha Thịnh lắc đầu, nhăn mặt, tiếc cho một quyết định cuồng dại. Cha nuốt cay
đắng hỏi: “bà ấy tên là gì?”
-Con không hỏi, hình như tên ông ấy là Bảnh hay Bảy gì đó. Mưa bắt đầu nhẹ hạt.
Người ta từ trong hầm cầu ùn ùn kéo ra, đông như ong vỡ tổ. Tiếng động cơ các
loại, tiếng nước bì bõm, tiếng gọi nhau ơi ới, như đang làm sống dậy một góc
trời. Ao mưa đủ màu lượn lờ trên nước. Lan nhìn cha Thịnh tiếp: bà sinh được một
bé trai kháu khỉnh, đứa thứ tư gọi theo kiểu miền Nam, trông lại giống như lai,
nên bà gọi nó là Tư Lai. Hàng xóm nghe không rõ, gọi nó là Tứ Lai. Tứ Lai sinh
được một tuần, thì chị Ba nó té giếng chết. Chôn cất bé Ba xong, mẹ con bồng bế
nhau lên thành phố. Bà ngoại cho một căn nhà nhỏ, ở tạm.
Tứ Lai được đi học đàng hoàng, chỉ mỗi tội nhà lúc nào cũng lạnh tanh như nghĩa
trang. Mẹ nó đi mãi tới khuya thật khuya, khi nó đã đi ngủ từ lâu, mới về. Sáng
nó thức dậy, thì bà còn đang ngủ, nhưng bao giờ cũng để sẵn tiền cho nó trên
bàn. Ngày nào cũng thế, tan học, nó tắp vào quán cơm trước mặt, ăn xong mới về,
tối lại ra quán cơm trước ngõ. Lang thang riết cũng chán. Bạn bè cùng lớp thấy
tội nghiệp, rủ nó về nhà chơi, nhưng nó chỉ dám tới một lần, không bao giờ dám
tới nữa, vì tủi phận. Bạn bè lúc nào cũng có cha mẹ bên cạnh, còn nó, cha là ai,
nó không biết. Mẹ thì có cũng như không.
Khi Tứ Lai học gần hết tiểu học, thì cũng là lúc mẹ nó bắt đầu đau yếu. Có hôm,
bà ho suốt đêm. Có hôm, bà trùm mền cả ngày, hỏi bà cũng chẳng thèm nói. Bà luôn
nhìn nó bằng ánh mắt xa lạ, hờ hững. Rồi một hôm, nó đang chơi, thì thấy mẹ và
chị hai nó về. Nó theo vào nhà, thấy chị hai mang chiếc quần Jean ra ướm thử. Nó
đến bên mẹ, nắm tay bà nhõng nhẽo: “ mẹ ơi, mua cho con một cái giống như của
chị hai đi mẹ!” Bà gạt phăng nó ra, nhìn trừng trừng vào mắt nó: “mua cái con
khỉ. Đi chỗ khác! Vì mày mà bây giờ tao mới phải khổ thế này”.
Nó thui thủi bỏ ra ngoài, lang thang vô định, đến trạm xe búyt, chợt nhớ tới bà
ngoại, nó leo lên xe. Tới nhà ngoại, nó không dám vào, ngồi bó gối trước cửa, đã
khoá từ lâu. Nó nghe rõ ngoại nói với cậu Tám: “con mẹ thằng Tư Lai lại bắt đầu
giở quẻ. Tao chưa hề thấy con mụ đàn bà nào ngu như nó. Có ai lại đi làm đĩ nuôi
chồng bao giờ. Mà nếu có thì thấy mình có thai là phải phá ngay chứ, để lòi ra
cái thằng Lai này làm gì, để bây giờ nó khổ, mình cũng khổ lây. Chiều nay nó mới
tới xin cho thằng Lai ở đỡ ít tháng, để nó bán nhà kiếm chỗ khác.
-Thế má nói sao với chị ấy?
-Tao bảo không. Chứa chấp cái thằng không có bố ấy mang tiếng, tao không chứa.
-Dẫu sao nó cũng là máu mủ nhà mình, má làm thế là bất nhân.
-Bất gì thì bất, tao chịu, nhưng không đời nào tao để cho cái thằng không có bố
ấy sống trong nhà tao.
Tứ Lai nghe lùng bùng lỗ tai. Nó đứng bật dậy, ôm mặt vừa chạy, vừa khóc. Vậy là
mẹ nó làm đĩ, đẻ ra nó. Trời đã khuya, nó vẫn cứ cắm đầu, cắm cổ đi như người
mất hồn. Đến trạm xe buýt, mệt quá, nó nằm vật xuống đất, thiếp đi. Đời nó bắt
đầu sang trang từ đó, lây lất đầu đường xó chợ, cho tới ngày rơi vào tay mấy anh
đồng tính luyến ái. Nó được o bế, nuông chiều, được nghe những lời ngọt bùi,
suốt đời nó chưa hề được nghe, cho đến khi mấy người kia chết, nó mới bị ném vào
công viên Văn Lang và bây giờ thoi thóp ở đây. Ngưng lại một lát, Lan tiếp: “Tứ
Lai là một người tốt, chưa hề biết ăn cắp của ai, không xì ke. Chỉ vì bị gia
đình ruồng rẫy, mới rơi vào tay những người đồng tính luyến ái, nên mới ra nông
nỗi này. Sao người lại có thể đối xử với người như thế được nhỉ! Nếu hôm nay
Chúa Giêsu còn sống, con tin chắc rằng Ngài sẽ lặn lội đó đây, tìm cho ra những
con người như cu Lượm, Tứ Lai để trả lại cho chúng quyền được làm một người đàng
hoàng trong xã hội. Hết mưa rồi, cha về đi, con đi lo quan tài, hẹn gặp cha
sau”.
Bình vẫn đứng xa xa, thỉnh thoảng lại nhìn Tứ Lai, cau mày suy nghĩ.
-Về Bình ơi!
Trời đã hết mưa từ lâu, nhưng đường phố có chỗ vẫn bị ngập nước. Xe cộ ách tắc.
Bánh xe cuốn nước, bắn tung tóe vào đầu vào cổ mọi người. “Chị ấy có phải là chị
Lan, không cha?”
-Phải! Tuyết Lan.
-Sao cha biết chị ấy?
-Tôi dạy nó khi nó còn là tập sinh Dòng Đaminh. Sau nó về Bình Giã, nhặt được
một em bé, muốn giữ lại nuôi, cộng đoàn không chịu, nó nghỉ tu, về ở với mẹ, mẹ
nó gửi con nó vào trại mồ côi. Nó bỏ nhà đi tìm con, tìm hoài chẳng thấy, chỉ
thấy những anh chị sida, thấy họ tội quá, ra tay nghĩa hiệp, thành chuyên viên.
-Cu Lượm, phải không cha?
-Phải, sao cậu biết?
-Nhà con ở gần nhà chị ấy.
Cha Thịnh vừa về đến nhà thì Minh đã hớt ha, hớt hải chạy tới, tay cầm điện
thoại: “cha có điện thoại của chị Lan”.
- Alô, cha Thịnh nghe đây.
- Thưa cha, nguy to rồi. Có mỗi chiếc quan tài mà hai đứa chết, tính sao bây
giờ?
- Đứa nào nữa?
- Con Hkit, người dân tộc, cha mới xức dầu hôm qua đó.
-Liên lạc với Phượng Linh thử xem.
-Rồi, vô phương.
-Chỉ còn một chỗ thôi.
-Chỗ nào?
- 115 Nguyễn Phi Khanh.
-Ông Bảo hả?
-Ừ! Chắc chắn có.
Chôn cất Tứ Lai xong, Tuyết Lan trở lại cám ơn ông Bảo. Bảo nhìn Tuyết Lan, mỉm
cười hỏi: “ môi em sao rồi?”.
-Cám ơn chú, đỡ rồi.
-Gọi chú chi cho xa lạ, gọi anh cho gần gũi. Này anh hỏi thật, em có gia đình
chưa?
-Chưa. Nhưng em chưa nghĩ tới. Em có đứa con nuôi thất lạc, em phải tìm cho ra
nó đã, rồi tính gì thì tính.
-Đi lạc ở đâu?
-Người ta vứt nó bên đường, em mang về nuôi. Nó phá quá, mẹ em gửi nó vào cô
nhi, không cho em biết. Em tìm hết các cô nhi, bốn năm sau mới biết nó ở cô nhi
Xóm Gà, nhưng tới nơi nó đã bỏ đi rồi, giờ không biết nó ở đâu.
Bảo tư lự nhìn Lan thông cảm hỏi: “nhà em ở đâu?”
-Ở Bình Giã.
-Làng mấy?
-Làng một, sao anh rành thế?
-Anh dạy học ở Bàrịa một thời gian, rồi mới chuyển về Sàigòn.
Chuyện Tứ Lai hiện về trong trí Lan. Cô đau buồn kể: “em bé sida chết hôm qua,
anh cho quan tài chôn đó, cũng ở Bàrịa”. Lan lắc đầu, đau buồn, tiếc nuối tiếp:
“chuyện thương tâm lắm anh ạ. Nhà nghèo, mẹ em phải bán thân nuôi chồng đi học
mà chồng không biết, không ngờ có thai. Khi biết vợ bán thân nuôi mình, ông
chồng đã hậm hực bỏ đi. Mẹ nó sinh ra nó, nuôi nó đến năm 12 tuổi, đã chỉ mặt nó
bảo: vì mày mà bây giờ tao mới khổ thế này. Thế là nó bỏ nhà đi, rơi vào tay mấy
người đồng tính, chết khi tuổi vừa mới hai mươi. Công nhận đàn ông nhiều tên đểu
thật. Em mà gặp được anh chàng đó, em sẽ vặn cổ cho chết”.
Cả người Bảo nóng bừng như đang ngồi trên lửa, bàng hoàng hỏi: “mẹ nó tên là
gì?”
-Em không biết, chỉ biết chồng bà tên là Bảnh hay Bảy gì đó.
Bảo chết lặng. Thôi đúng là Anh Hồng rồi. Ông vò đầu, vò cổ, tự nhủ: hai mươi
năm rồi, lúc nào lương tâm ông cũng cắn xé ông. Ông đểu thật. Nếu vợ ông không
hy sinh, dù đó là một sự hy sinh dại dột, ngu xuẩn, thì bây giờ làm gì ông được
thế này. Thế mà… Bảo cố lấy lại bình tĩnh, hỏi: “nhà nó có mấy người?”
-Có ba chị em, nhưng chị Ba nó té giếng chết rồi.
Bảo không còn bình tĩnh nổi nữa, đứng bật dậy, la lớn: “hả! Một đứa té giếng
chết à!”
-Phải, nó té giếng chết, mẹ con mới bỏ nhà, kéo nhau lên thành phố.
-Bây giờ bà ấy ở đâu?
-Em không biết, chỉ biết là Tứ Lai căm thù sự gian ác của đàn ông và sự ngu xuẩn
của đàn bà suốt đời cho tới trước khi chết.
Bảo không còn chịu đựng được nữa. Ông như một tên tội phạm đang bị điệu ra trước
vành móng ngựa của chính lương tâm ông. Ong gục mặt xuống bàn, khóc hồi lâu, mới
ngẩng mặt lên, cuồng dại nhìn Lan: “em hãy đi ra khỏi đây, mau. Hãy tránh xa
tôi. Tôi chính là tên đểu cáng đó”. Nói xong, ông đập đầu thật mạnh xuống bàn.
Tuyết Lan đứng bật dậy, ù chạy, như cố tránh một thứ kinh tởm nhất trên đời. Đầu
óc quay cuồng.
-Alô, alô, tôi là Phượng Linh, xin cho tôi được nói chuyện với cha Thịnh ạ!
- Xin chờ một lát.
Cha Thịnh vẫn đang ngồi đọc báo. Minh nhẹ nhàng nói: “cha có điện thoại của chị
Phượng Linh, chị có bộ hốt hoảng lắm!” Cha Thịnh đứng bật dậy, vội vã đi tới
phòng điện thoại, hồi hộp, đợi chờ : “cha Thịnh đây!”
-Cha, Tuyết Lan chết rồi!”
-Hả? Cái gì? Không có tiếng trả lời, cha Thịnh chỉ nghe tiếng nức nở, ai oán ở
đầu dây bên kia. Chờ cho Phương Linh khóc xong, cha hỏi: “sao nó chết?”
-Nó bị xe tông ngay trước cửa nhà ông Bảo.
Trong lễ đám tang Tuyết Lan, Cha Thịnh nói: hôm nay ta họp nhau nơi đây để chia
sẻ một sự bình an với chị Tuyết Lan, một người suốt đời chăm lo cho sự sống,
nhất là sự sống nơi những con người bị xã hội ruồng bỏ. Bao nhiêu anh chị em
sida đã an giấc trong vòng tay yêu thương của chị. Chỉ tiếc có một điều thôi,
chị ra đi khi ước nguyện chưa thành. Chị có một người con nuôi, tên là Trần
Thiên An, dân làng vẫn gọi là cu Lượm. Khi còn nhỏ, Thiên An rất nghịch phá, nên
bà ngoại đã gửi vào cô nhi Xóm Gà mà không cho chị biết. Chị bỏ tu, bỏ nghề, lao
đao vất vả tìm con, giờ vẫn chưa thấy. Chị bảo, bao giờ tìm được con, thì muốn
tính gì mới tính được… hôm nay, khi những trăn trở không còn nữa, hy vọng và cầu
xin chị sẽ tìm được những gì đã mất.
“Thưa cha, con là Thiên An đây!”. Từ hàng ghế giữa nhà thờ, một thanh niên mạnh
khỏe, nước mắt dầm dề, chạy vội tới, quì sụp xuống trước linh cữu chị Lan hồi
lâu. Cả nhà thờ sụt sùi, dấm dứt. Thiên An đứng lên, nói lớn: “Mẹ”, rồi lại
nghẹn ngào: “con tưởng mẹ đã quên con, không ngờ… ngày nào con cũng đi lễ ở đây,
sao hôm nay con mới gặp được mẹ”. An lại nghẹn ngào. “Mẹ, tất cả những gì mẹ
đang làm, con xin hứa sẽ làm. Xin mẹ hãy an lòng”.
Đắp mộ xong, Thiên An thắp nhang cho mẹ, mọi người đã về hết, vẫn chưa chịu về.
Trời bắt đầu đổ mưa, cơn mưa cuối mùa năm ấy.
Trời đã vào Đông, mới 5 giờ chiều mà đã nhá nhem tối. Thiên An vẫn nhìn những
người qua đường, dáo dác. Thỉnh thỏang lại nhìn đồng hồ, đăm chiêu tư lự: “Hôm
qua mình hẹn Tiến đúng 5 giờ có mặt tại đây, trước cổng Tao Đàn, phía đường
Trương Định mà sao giờ này chưa thấy nó đến, hay là nó lại bị làm sao rồi!” Chờ
hoài chẳng thấy, An mệt mỏi, bước tới chiếc ghế gần bên cổng, ngồi phịch xuống.
Trời tối dần. Xa xa sâu tít trong công viên, thấp thoáng một vài cô gái, lượn lờ
quanh các gốc cây đã ngả mầu đen nghịt.
An nhắm chặt mắt. Hơi lạnh từ ghế đá tóat ra làm An thấy gây người. Hai mươi năm
về trước, An cũng có cảm giác này khi ngồi tại đây, trên chiếc ghế này. Dĩ vãng
tưởng chừng như đã chìm sâu trong quên lãng, bỗng giật mình thức dậy trong lòng
An.
Vào cô nhi lúc vừa tròn tám tuổi. An đã lập tức trở thành một lãnh tụ tí hon,
cầm đầu bọn trẻ quậy phá tưng bừng hoa lá.
Trước sân trường, có một hàng cây cảnh, đủ lọai, đủ cỡ: mai vàng, mai tứ thời,
mai chiếu thủy, sứ Thái Lan… An lấy nắp bia, đập dẹp, mài sắc, rồi phát cho mỗi
đứa một cái. Vào giờ chơi, An rủ bọn trẻ, thi nhau gọt sạch lớp vỏ bên ngòai,
hết cây này đến cây khác, gọt từ gốc lên., cây nào cũng trơ lõi trắng hếu, trông
thật tang thương. Có lần An đang thơ thẩn ngòai sân, thấy cửa nhà kho mở, bước
vào, thầy Long, giám thị đang xếp chuối vào thùng, bẹ này chồng lên bẹ khác. Rồi
ông kéo một hộp sắt to đùng, nắp đậy kín, từ trong gầm bàn, mở nắp, lấy ra một
cục to hơn nắm tay, trông như một cục đá xanh, bên ngoài phủ một lớp trắng như
vôi, đặt vào thùng chuối.
-Cục ấy là cục gì đó, thầy?
-Khí đá chứ cục gì! Rồi như chợt nhớ ra chuyện gì, ông nghiêm mặt nhìn An nói:
“Mày vào đây làm gì, thằng ranh con kia? Tao chưa từng thấy thằng nào guậy hơn
mày. Cây của người ta mày gọt sạch hết cả vỏ, làm sao sống nổi. Đi chỗ khác chơi
mau!
An chắp tay sau lưng, lững thững bỏ đi. Đến giữa sân, thấy các cây sứ héo quắt,
nhăn nheo, An ngồi bệt xuống, giơ tay nhẹ nhàng ấp lấy thân cây, rồi áp má lên
tay, mắt lim dim, xa vắng. Bỗng An đứng bật dậy, mắt trợn tròn, cười khóai trá,
tự nhủ: “Khí đá! Đúng rồi. Phải lấy một cục thả vào chậu cá!”.
Trưa hôm sau, khi đang thiu thiu ngủ, nghe la lối om xòm trên phòng ngủ, Long
bực bội, bật dậy, cầm theo cái roi mây mới.
-Nước sôi, tụi bay ơi!
-Ơ! Cá nhảy ra ngòai kìa! Lâm reo lên.
-Cá bơi bằng bụng kìa!
Bước vào, Long thấy Tuyến đang đứng trên ghế, thọc tay vào thùng cá. Khí đá tan,
nước đục như nước vôi. Cá ba đuôi nuôi cả chục năm mới to được bằng nắm tay. Con
thì đang ngam ngáp, con thì đã bơi bằng bụng. Một vài con nằm dính bẹp xuống
đất. Nền nhà nước tung tóe, ướt nhẹp. Toản vẫn lom khom nghịch cá. Thiện đang
cầm cá trong tay, hí hửng, thấy Long ném vội xuống đất, bôi hai tay vào quần.
Tuyến tụt vội xuống, làm đổ cả ghế. Long vẫn đứng như trời trồng, một lúc sau
mới nói: “Ai cho phép tụi bay. Quì gối hết!” Long quát.
Xa xa, An vẫn nằm im trên giường, mền đắp tới cổ. Mắt nhắm nghiền như đã ngủ từ
lâu. Long đi vội tới, vừa đi, vừa lẩm bẩm: mẹ kiếp, lại cái thằng khốn kiếp kia,
chứ không ai khác!” Long giật mền, ném xuống đất, rồi nắm lấy tay An, kéo bật
dậy, đánh cho một trận nên thân. An chỉ nhăn nhó. Từ hôm ấy, trong trại hễ có
chuyện gì xảy ra, là An lại bị đánh.
Có lần bé Loan làm bể bình bông. Chẳng cần biết ai là thủ phạm, Long cũng lôi An
ra trước lớp, thẳng tay quất, quất xong mới nghiến răng nói: “Sao mày phá thế!”
-Em có phá gì đâu?
-Mày đập vỡ bình bông!
-Không phải em!
-Thế thì ai?
-Em không biết.
-Mày không biết hả? Long đang định quất thêm cho An mấy cái nữa, thì Tuyến nói:
“Thưa thầy, trò Loan làm vỡ ạ!” Nghe thế, Loan nhìn Long lấm lét, rươm rướm nước
mắt. Long không đánh An nữa, nhưng dí đầu roi vào trán An, nói cộc lốc: “Về
chỗ!” rồi bỏ ra ngòai.
An uất ức, bật khóc nức nở. Chờ cho An khóc xong, Tuyến mới nói” An ơi, mày bị
oan quá. Tên Long cứt chó này cà chớn thật. Mình phải cho nó biết tay”.
Tỏan, Thiện, lặng lẽ vây quanh An, thông cảm. An cầm lấy tay Tuyến, mím chặt
môi. Nước mắt nhạt nhòa trên gò má. An nói chắc như đinh đóng cột: “ Tao có cách
rồi!”
-Cách gì? Tuyến hỏi.
Ngày mai ở đây có đám cưới, tụi mình nhớ lượm thật nhiều pháo.
-Ngày mai có đám cưới hả? Tỏan hỏi.
-Ừ! Nhớ lượm thật nhiều pháo nha!
Lượm được bốn viên pháo đùng to bằng cổ tay. An lấy thun bó lại, rồi bện chặt cả
bốn ngòi lại. Xong xuôi, chờ cho mọi người nghỉ trưa, An lẻn vào bếp, đặt bốn
viên pháo vào lò, lấy trấu vùi lên. Chiều tới giờ nấu cơm, Ngọc Anh, vợ thầy
Long, vừa nhen lửa, thì pháo nổ, tro trấu bay mịt mù, bay cả vào mắt Anh. An lại
bị một trận đòn nên thân.
An bắt đầu chán nản, trầm tư, ít nói. Cứ mỗi lần thấy An, mắt Long lại long lên
sòng sọc. Lần nào cũng chửi thầm: “mẹ kiếp! Cái lũ không cha, không mẹ”. An càng
lúc càng lầm lì, cho đến một hôm, An nói với Tuyến: “Đi thôi, ở đây không sống
nổi đâu”.
-Đi đâu bây giờ? Làm gì mà sống?
-Đi đánh giày, bán vé số, làm gì cũng được miễn là được tự do.
-Bao giờ đi?
-Chưa biết, phải trả thù lão Long đã rồi mới đi được.
Tuyến do dự hồi lâu, tiếp: “Hay về ở với ngọai tao!”
-Ngọai mày ở đâu?
-Tao không biết. Hôm nào ngoại tao lên thăm, tao sẽ xin ngọai tao cho về ở với
bả.
-Sao ngọai mày lại gửi mày vào đây?
Tuyến trầm ngâm, không nói. Tuyến lúc nào cũng có linh cảm rằng bố nó còn sống,
mẹ nó cũng còn. Có lần nó nghe được ngọai nó nói với Long: “Ong ráng nuôi dậy nó
dùm tôi, khi nào sắp xếp xong chuyện gia đình, tôi sẽ đưa nó về”.
-Bao giờ mới xong?
-Chờ cho mẹ nó lấy chồng xong đã!
-Vậy bố nó đâu?
-Nó có bố đâu. Nói tới đó nước mắt ngọai nó trào ra. Bà nghẹn ngào tiếp: “Bố nó
là thằng ma cô, cả làng ai cũng sợ. Tối mồng hai tết, tôi biểu má nó mang đồ ra
cúng ông bà. Trời tối, má nó bị thằng ma cô hãm hại, nên đẻ ra nó. Vì sợ má nó
không lấy được chồng, tôi đã phải gởi má nó ra Huế, sinh nó xong mới về. Nay má
nó có người yêu thương, sắp làm đám cưới, cầu Trời Phật độ, cho mọi chuyện an
lành”.
Nhớ tới đó, Tuyến cắn chặt răng, rủa xả: “mẹ kiếp! Đồ đểu giả!” Tưởng Tuyến đang
chửi Long, An tiếp: “Rồi nó sẽ biết tay tao!”
Để trả thù, An lượm đá nhét vào bao cát, lấy dây thun xe đạp, buộc vào một đầu
ghế băng, rồi dựng đứng băng ghế lên, gác một đầu vào cánh cửa khép hờ. Khuya
hôm ấy, tới giờ ngủ, An xúi bạn bè, la hét, chửi rủa ầm ĩ, y như là có lọan vậy.
Căm phẫn, Long chạy vội lên, kéo mạnh cánh cửa, ghế ngả xuống, đập mạnh vào đầu.
Long hét lên một tiếng, té nhào xuống đất, máu phun lai láng. Mọi người túa đến,
đưa Long đi cấp cứu. An sợ, chui vội xuống gầm giường. Ong Thanh, anh ruột Long,
lôi An ra, táng cho hai cái, rồi lấy dây trói An vào thành giường.
Chờ cho mọi người đi hết, Tuyến tới bên An, lấy dao cắt dây trói cho An nói:
“Mày phải đi ngay, không thì nó sẽ giết chết mày!”
Leo ra khỏi cổng, An cắm đầu, cắm cổ chạy như bay, thỉnh thỏang lại nghe như có
tiếng hùynh hụych sau lưng, không dám ngóai lại, cứ cắm đầu chạy, vừa chạy, vừa
khóc. Thành phố đã chìm sâu vào giấc ngủ, thỉnh thỏang mới có vài chiếc xe ì ạch
như đang ngái ngủ. An mệt rã rời. Ngỏanh mặt nhìn, đường phố đã vắng tanh. Gió
thổi mạnh, cây lao xao. Mưa bắt đầu lất phất. Đến công viên Tao Đàn, An chui vào
gầm ghế đá, nằm co ro. Nước tràn vào, ướt áo, nó run lên cầm cập.
Lây lất bằng tiền bố thí của những người qua đường được ít ngày, An được nhận
vào đòan người bán mì gõ, với giá thỏa thuận là ngòai cơm hai bữa, mỗi tô được
hưởng 200 đồng. An bắt đầu quen dần với với những tiếng “cóc, sựt” vang lên khắp
những con đường ngoằn ngòeo, hôi thối, hai bờ kênh Nhiêu Lộc. Đêm về thì ngủ ở
trạm xe búyt. Làm được cả tháng, bán được cả trăm tô, mà vẫn chưa được trả đồng
nào.
Một hôm đang đi trong con hẻm 20 Kỳ Đồng, An bị một tên, mặt bặm trợn, hai tay
xăm đầy hình rồng rắn, chặn lại, nói: “Ê! Nhóc, trả tiền tao!”
- Tôi đâu có mắc nợ gì anh!
-Vào hẻm này là phải đóng hụi chết cho ông, mỗi ngày 1000 đồng.
-Tôi không có tiền.
-Mày ngang hả! Vừa nói, nó vừa táng cho An cái “bốp”. An mất thăng bằng, chúi
đầu về phía trước, lao vào một ông lão đi đường. Ong ôm chầm lấy An, nhìn tên
kia nói: “Cái gì vậy Tèo!”. Bực bội, Tèo lầm lũi, bỏ đi. Ông nhìn An, hỏi: “Con
có sao không?” An không trả lời, lấy tay sờ vào miệng, rồi giơ tay lên xem.
-Con bị chảy máu rồi. Ong già nói. Vào nhà, ông xem thử coi có sao không nào!
Ong cầm tay, dắt An vào nhà. “Há miệng ra ông xem nào!” Vừa xem, ông vừa nói:
“Không sao đâu, chỉ bị sơ sơ thôi.
-Cám ơn ông. An lí nhí.
Ong nhìn An ái ngại, dặn: “Vào hẻm này, con phải coi chừng mấy tên xăm tay, xăm
chân đó nha. Nó đòi con cái gì?”
-Nó bảo vào hẻm này là phải đóng hụi chết cho nó, mỗi ngày 1000 đồng, con có
tiền đâu mà đóng! Thôi cám ơn ông, con đi đây!” An chưa kịp ra khỏi nhà thì trời
bắt đầu mưa, mưa như trút. Mưa ngập cả đường phố. Nước kênh dâng cao, tràn vào
nhà, sực mùi tanh lờm lợm
-Mưa rồi, có ai ăn nữa đâu mà đi! Nhà con ở đâu?
-Con không có nhà!
-Ba má con đâu?
-Con không biết! Con chỉ có mỗi một bà mẹ nuôi thôi, ở Bình Giã lận.
-Sao con không ở dưới đó với mẹ con.
-Bà ngọai con không cho ở.
-Con làm được bao lâu rồi?
-Dạ, được cả tháng rồi mà vẫn chưa được trả đồng nào.
-Trước đây con ở đâu?
An vẫn im lặng, không dám nói. Hình ảnh Long nằm sõng sòai trên máu lại hiện về
trong đầu An. An nghe xót xa trào lên khóe mắt. Bên ngòai trời vẫn còn mưa. Cúp
điện. Phố xá im lìm, chỉ còn lại những tiếng não nuột, rào rào trên mái. Ngọn
đèn dầu leo lét bập bùng theo từng cơn gió thỏang.
-Thôi khuya rồi, con ngủ lại đây với ông, khỏi phải về nhà. Tối con hay ngủ ở
nhà ai?
-Dạ, ở trạm xe búyt ạ!
-Ong chỉ có một mình, từ nay tối về đây ngủ với ông cho vui. Vừa nói ông vừa chỉ
chiếc giường nhỏ: “Con ngủ ở đây, hay ngủ với ông cũng được!”.
Hình ảnh cụ Đức lại hiện về trong trí An, mới đây mà đã hơn 15 năm rồi. An bỗng
giật mình, khi thấy chiếc Honda 150 phân khối thắng két trước mặt. Một thanh
niên tóc chấm ngang vai rối bù, râu ria xồm xòam, bước xuống khỏi xe, xăm xăm
tới chỗ An. An đứng lên tự vệ: “Mày tìm ai ở đây?”
-Không tìm ai cả? Tôi chỉ ngồi chơi thôi mà!
-Chơi cái con khỉ gì mà ngồi cả cả tiếng đồng hồ một mình. Đi chỗ khác cho người
ta làm ăn chứ. Vừa nói, anh ta vừa nhìn thẳng vào mặt An, rồi chau mày, như đang
cố nhớ lại chuyện gì.
-Xin lỗi, mày có phải là An không? Trần Thiên An Xóm Gà, phải không. Giọng anh
ta sôi nổi.
Hai mươi năm nay, không ai biết lai lịch của An, sao tên này lại biết mình: “Sao
anh lại biết tôi!”.
-Nhìn kỹ mặt này đi. Vừa nói hắn vừa chỉ vào mặt mình. An cố tìm mà vẫn không
thấy được một nét nào quen thuộc cả.
-Mày không nhận ra tao à! Người kia sốt ruột nói: Tao là Tuyến đây.
An lắc đầu, nói: “Mày khác quá Tuyến ơi, không còn một nét gì của ngày xưa nữa
cả.
Tuyến mỉm cười nham nhở: “Phải lột xác chứ, hì hì… À! Mày kỳ này sao? Có gia
đình chưa?
-Tao đang làm ở công ty Vina giày. Có ai thương đâu mà lấy. Còn mày thì sao?
Ngồi xuống đây tí đã!” Vừa nói, An vừa kéo Tuyến ngồi xuống ghế. “ Mày ra khỏi
trại hồi nào? Anh Long sao rồi?”
-Mày còn nhớ thằng Long à! Mày vừa đi khỏi thì nó về. Đầu sưng lên một cục. Nó
bắt tụi tao quì suốt đêm và buộc phải khai thằng nào đã cởi trói cho mày. Không
đứa nào chịu khai nhưng tao biết, nó nghi tao, nên hai hôm sau, bà ngọai tao tới
tao năn nỉ bả cho tao về ở với bả. Về với ngọai được ít bữa. Chán quá, tao bỏ
đi, lấy Tao Đàn làm đất sống. Khi nào muốn gặp tao, mày cứ ra đây, gặp mấy con
nhỏ lượn lờ ở đây, hỏi “Đại ca Nam” là chỉ 5 phút sau, tao sẽ có mặt ngay. Còn
mày thì sao?
-Đêm hôm đó tao ngủ tại gầm ghế này này. Trời mưa, ướt như chuột lột, lạnh muốn
chết. Rồi sau, có một ông lão dễ thương, ông chỉ có một mình, đời buồn nhiều hơn
vui, nhận tao về nuôi, cho đi học chữ, nhưng chỉ ít năm sau ông chết, để lại cho
tao một căn nhà nhỏ. Cho đến bây giờ tao vẫn chưa rõ ông là ai. Rồi mười năm sau
khi ra trại, tình cờ đi lễ ở nhà thờ Kỳ Đồng, tao mới biết được một tin đau đớn,
mẹ nuôi tao chết, hôm ấy là đám tang bà. Tội nghiệp! suốt 10 năm tìm con, tìm
cho đến chết vẫn không gặp được. May mà tao gặp được bà ấy. Bà ấy chuyên lo cho
các nạn nhân tệ nạn xã hội, nên tao cũng muốn tiếp nối công việc của bà.
-Đó là lý do vì sao mày có mặt ở đây chứ gì?
An cười.
-Mày đang tìm thằng Tiến phải không?
-Phải, sao mày biết? Nó rất tội nghiệp, mày biết không. Bố nó cũng là ông ngọai
nó, nên nó cảm thấy nhục, không muốn sống. Lúc nào người ta cũng phải trói tay
nó quặt lại phía sau, để nó khỏi móc họng chết. Tao thấy xót xa quá Tuyến ơi.
Tuyến nhìn lung vào màn đêm dầy đặc tăm tối trước mặt. Tháng trước, Tuyến và
Thanh hẹn nhau ở chợ Long Điền, ngồi uống cà phê tại quán Thanh Lan, chờ cho mọi
nhà đóng cửa, mới tới hiên chợ, chụp cho Tiến một mũ thuốc mê, bế thốc lên xe,
đem về Sàigòn cho đi ăn xin nuôi các hắn. Bây giờ mà để Tiến xổng mất, là mất
một món lợi lớn, nên hắn chau mày nói: “An à! Chỗ bạn bè tao nói thật, mày đừng
có dính tới chuyện thằng Tiến nữa nha! Không có lợi đâu”.
-Sao vậy?
-Nó là món mồi ngon của các tay anh chị ở đây đó. Một ngày nó kiếm được có khi
còn hơn mày làm cả tháng.
-Nó có làm gì đâu?
-Đi ăn xin chứ còn làm gì nữa! Mày nhớ rằng tụi nó phải tốn bao tiền bạc về tận
Long Đất để bắt cóc nó đó. Bây giờ nó phải làm để trả nợ chứ, có qua có lại mà!
Im lặng một lát Tuyến nói: “Thằng này nhà ở Tam An, tận chân núi Minh Đạm cơ. Bố
nó cũng là ông ngọai nó thật. Đúng là thằng già không nên nết. Có ba đứa con gái
làm thịt cả ba. Vợ lão cằn nhằn, lão bảo: “ Mình sinh ra nó, mình phải hưởng
trước chứ!”. Nghe xong, bà say sẩm, nhồi máu cơ tim đột ngột, lăn đùng ra chết
tại chỗ. Ba đứa con gái ông, tan tác mỗi đứa một nơi. Thằng Tiến bất mãn bố, bỏ
nhà đi lang thang, may mà rơi vào tay tụi tao… Thôi, mày muốn làm gì thì làm,
đừng làm xã hội nữa, có ngày sẽ không còn lành lặn đâu”. Nói xong, Tuyến leo lên
xe, đạp máy, rú ga, phóng ào vào trong vùng tối. Trên cao gió vẫn rì rào.
An ngồi chết lặng trước sự gian ác của Tuyến. Bây giờ An mới hiểu được thế nào
là “người sống trên xương máu người”. An đứng bật dậy, tự nhủ: “không lành với
lại lặn gì, bằng mọi giá ta phải cứu lấy cu Tiến” An tự nhủ.
An leo lên xe, đi như người mất hồn, mặc cho giòng xe cộ cuốn trôi. Đường phố đã
lên đèn mà vẫn chật ních người qua lại. Các quán xá đèn xanh, đỏ, chập chờn, mờ
ảo. Các tiếp viên, áo quần cũn cỡn, mỏng tanh, bó sát người như muốn phơi ra hết
những gì cần che kín, hệt như những tiếng nhạc xập xình đang muốn phá vỡ bầu khí
im lặng của màn đêm. Giọng ca sĩ Thanh Thúy lanh lảnh như đang rót vào tai An
“nếu ngày mai không có anh, ai sẽ đưa em về…” đã kéo An trở về với thực tế. “Ay
chết, hôm nay mình có hẹn với Thanh Thúy”. An giơ tay ngó đồng hồ: “Bảy giờ ba
mươi phút. Trễ mất một tiếng, không biết giờ này cô ở đâu?” An lo âu tự hỏi.
Thanh Thúy là một cô gái mặt đẹp như tượng. Tóc chấm ngang lưng, ăn mặc lúc nào
cũng đoan trang như nữ tu, chỉ mỗi tội mặt lúc nào cũng lạnh như tiền, lì lợm,
ít nói. Mắt hoang dã, ủ dột.
An đạp vội vào hẻm số 10 Kỳ Đồng, đi qua nhà nguyện Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu vào
đền thánh, tới một căn nhà lụp xụp tồi tàn, chênh vênh trên kênh Nhiêu Lộc, muôn
thưở chìm ngập trong tanh tưởi. Nhà tối om, sực mùi ẩm thấp. Bà Thái vẫn co ro
trong chiếc ghế bố đan bằng sợi nylon, tơi tả. Mùng mền cáu đất, phả ra một mùi
khó chịu. “Ai đấy!”, bà hỏi.
-Dạ, con là An đây ạ.
-Anh An hả? Con Thúy chờ anh lâu quá, vừa mới đi khỏi, không biết nó đi đâu.
An lúng túng: “tại con tới hơi trễ. Hôm nay bác có khỏe hơn không?”
-Mệt lắm anh ạ! Ngực tức lắm không thở được. Bà giơ tay như muốn nhờ An nâng bà
dậy, hất chiếc mền xuống đất. Mùi mốc meo sực vào mũi. Bà ôm ngực ho sặc sụa. Bà
nhìn An, thở dài thườn thượt, như muốn khóc. “Cứ mỗi lần nó ra khỏi nhà là tôi
lại bị nghẹt thở…” An thấy lờ mờ một cái gì đó ghê gớm đang đè nặng lương tâm
bà. Đã nhiều lần bà như muốn trút hết cho An, nhưng rồi chẳng hiểu sao, bà lại
không nói.
An ngồi xuống bên cạnh, giơ tay nắm lấy cườm tay bà bèo nhèo như đã long ra khỏi
ống xương. Bà húng hắng, nhìn lung vào ánh đèn mờ nhạt từ chiếc đèn chầu trong
nhà nguyện tỏa ra, chập chờn trên vách nhà bên cạnh, nói: “Anh An này, tôi có
chuyện muốn nói với anh. Không biết anh có muốn nghe không?”
An hí hửng “Xin bác cứ nói ạ!”
Bà xiết chặt tay Ân, rồi buông vội ra nghẹn ngào, thong thả nói: “Không biết khi
nghe rồi, anh có còn thương con Thúy nhà tôi không”. Bà ngưng lại, cố ngăn giòng
nước mắt đang trực trào tuôn, tiếp :”Anh thương nó, tôi cũng thương nó… Đã nhiều
lần tôi muốn nói hết sự thật với anh, nhưng lại sợ anh ngãng ra, nó lại bơ vơ
tội nghiệp, nên không dám nói”. Bà im lặng chờ phản ứng của An. An rơi vào trong
tình trạng khó xử, lo sợ cho hạnh phúc mong manh của anh với Thúy, nhưng lại tò
mò muốn biết sự thật, nên mạnh dạn nói: “tụi con thương nhau đã năm năm rồi,
tính khí Thúy thất thường. Nhưng con nghĩ đã thương nhau thì phải thương hết,
thương cả cái xấu lẫn cái tốt của nhau mới phải, bác ạ!”
Bà Thái lại nghẹn ngào, xúc động. Vết thương của gần 30 năm về trước lúc nào
cũng âm ỉ, rỉ máu, như đang vỡ tóac ra trong lòng bà. Lúc ấy, gia đình bà còn ở
Chu Hải, không giàu có, nhưng danh giá. Ong An thân sinh cụ là dân Sài gòn,
tướng cao to, mặt thanh tú, ăn nói trí thức khác hẳn với đám dân chài quê mùa,
ngốc nghếch. Ong chỉ có một mình bà, đặt tên cho là Diễm Trang. Ngay từ bé, lúc
nào bà cũng được đi với bố. Năm 18 tuổi, Diễm Trang là hoa khôi của trường Trung
Học Bà Rịa, lúc nào cũng kiêu sa, rực rỡ như hoa hồng trong cỏ dại, nhưng lại e
ấp, rụt rè chẳng khác gì hoa trinh nữ. Diễm Trang rất sợ ma, không bao giờ dám
ngủ một mình, lớn thế mà đêm nào cũng ngủ với mẹ. Đêm ấy, mẹ phải đi Phước Tỉnh,
đám cưới anh Lân, con bác Hải, Diễm Trang phải ngủ với bố.
Gần đến kỳ thi tốt nghiệp, Trang bắt đầu bị vật vã, xanh xao, vàng vọt, thỉnh
thỏang lại hay nôn ọe, uống thuốc nào cũng không hết. Một đêm nọ, đang ngủ Trang
lại buồn nôn, phải chạy vội vào nhà vệ sinh. Bà An ngồi dậy, âu lo, khi thấy
Trang trở về giường, bà ôm lấy, bế ngửa Trang trong lòng, y như khi Trang còn bé
vậy, lấy tay vuốt nhẹ một vài sợi tóc còn lõa xõa trên vầng trán nhỏ, âu yếm:
“Ui, con gái cưng của mẹ ui! Con thấy trong người thế nào?” Trang lúng túng
trước thái độ bất thường của mẹ, ấp úng, nũng nịu: “Chẳng biết sao, cả tuần nay,
con cứ bị buồn nôn hòai, mà không ói ra được.
-Con có quen ai không?
-Không. Quen chi sớm cho khổ, mẹ. Con phải học xong đại học đã, rồi muốn quen ai
thì quen.
Bà An đặt tay lên bụng con, bối rối: “Thằng Linh, con bà Tứ Sắc, thỉnh thỏang
hay đến nhà chở con đi học, thì sao?
-Con ghét thằng ấy lắm, học thì dốt mà lại lắm mồm.
Bà An lo lắng. Chắc chắn con gái bà có thai rồi, nhưng ai là thủ phạm, thằng nào
dám làm hại con gái bà? Trang không thích giao du, không thích bồ bịch. “Hay là
bố nó?” Bà có cảm giác như cả người bà đang nóng ran lên: “Nhưng từ xưa tới giờ,
ông ấy có bị điều tiếng gì đâu!” Bà ngập ngừng hồi lâu mới hỏi: “Hôm mẹ đi đám
cưới anh Lân, con ngủ với ai?”
Sợ mẹ chê là nhát gan, Trang không nói, chỉ khẽ gật đầu rồi lại lắc.
-Con ngủ với bố hả?
Trang chỉ khẽ gật đầu.
-Bố có làm gì con không?
Trang nhíu mày, đăm chiêu nhưng chẳng nhớ gì cả, ngòai một cảm giác mơ hồ như
chiêm bao.
-Con không nhớ. Con chỉ nhớ là khi con thức dậy, thì thấy bố đang quỳ gối dang
tay cầu nguyện. Hôm ấy, bố không đi lễ, con cũng không đi. Im lặng một lúc,
Trang tiếp: “Sáng hôm sau, con mệt lắm, người như rã ra vậy”.
Nghe tới đó, người bà An nóng ran như đang lên cơn sốt. Bà buông con ra, mím
chặt môi, cố dằn cơn giận xuống: “ Thôi, con đi ngủ đi cho khỏe, mai còn phải đi
học”.
Bà An trằn trọc suốt đêm, vừa căm phẫn, vừa tủi nhục. Nước mắt cứ trào ra sối
sả, tự nhủ: “Phải làm cho ra chuyện”. Quá căm phẫn, bà đi thẳng xuống bếp, lấy
con dao, định xin luôn cái ấy của ông. Nhưng nghĩ lại, bà bảo: làm thế chỉ khổ
con Trang thôi, còn đứa nào dám lấy”. Bà ném con dao xuống đất, ngồi phịch xuống
chiếc ghế salon, chống hai khủyu tay lên bàn, rồi gục mặt vào trong lòng bàn
tay, nước mắt dàn dụa. Chuông nhà thờ vang lên khô khốc, như những tiếng chuông
sầu đưa tiễn một linh hồn về bên kia thế giới.
Trưa hôm sau, khi đi học về, Trang nghe rõ giọng mẹ chua chát: “ Thằng khốn
kiếp, mày đã hại con gái bà, xéo ra khỏi nhà này ngay!” Bà hậm hực, nện từng
bước chắc nịch xuống cầu thang.
Tối hôm ấy, nhà chỉ còn hai mẹ con, bà An lại ôm con vào lòng, mếu máo “Con có
thai rồi!” Rồi bà bật khóc. Trang say sẩm, trời đất như quay cuồng. Chạy vội tới
tủ áo, hai tay đấm thình thịch vào cửa tủ. Vừa đấm, vừa khóc. Bình bông trên nóc
tủ, rơi xuống đất, vỡ tan tành. Từ hôm ấy, Trang căm thù đàn ông. Chờ cho Trang
hết khóc, bà An nói: “Mai, mẹ đưa con vào Suối Nghệ ở với bà ngọai”
Trang vẫn im lặng. Tương lai đang hứa hẹn bỗng tối sầm, sụp đổ. Trang vẫn sống
nhưng hệt như người từ cõi âm trở về. Sáu tháng sau, Trang sinh được một đứa con
trai. Trang không hề nhớ mặt, chỉ biết sau ót nó có một cái bớt nhỏ to bằng ngón
tay cái. Bà An cuốn cháu vào một chiếc khăn bông to tướng, rồi đội nón ra đi,
khi chuông nhà thờ sắp đổ mới về.
Ít năm sau, nhờ mai mối, Trang kết bạn với một thanh niên tên là Thái. Vai u,
thịt bắp, mặt xần xùi không thua gì Quasimodo của Victo Hugo, nhưng lại hiền
lành, chung thủy, chiều vợ, thương con. Trang sinh được một người con gái, giống
mẹ như lột. Mắt tròn xoe, đen nháy, nhưng lại đượm nét u buồn. Từ khi có con,
Thái tươi hẳn lên, cứ đi làm về là lại xán đến nôi, con đang ngủ cũng bồng lên
nựng. Dĩ vãng u buồn như đám mây mù dầy đặc lúc nào cũng quyện chặt lấy Trang.
Trang bắt đầu kinh tởm Thái, không cho phép Thái tới gần con. Chính vì thế mà
khi Thúy vừa chập chững tập đi và đang bi bô tập nói thì cũng là lúc Trang chia
tay với Thái. Thúy càng lớn, càng thêm kiều diễm. Trang theo sát Thúy từng bước.
Tiền bạc bà An để lại cứ ngày một đội nón ra đi, bán hết nhà này đến nhà khác
cho tới khi chỉ còn một túp lều nhỏ, tăm tối bán cũng chẳng ai mua, chỉ đủ kê
cho Thúy một chiếc giường nhỏ và một chiếc ghế tả tơi của Trang.Thúy căm ghét mẹ
như kẻ thù, bắt đầu buông thả, phóng túng.
An chờ đến sốt cả ruột, hết nhìn bà Thái lại mơ màng nhìn ngọn đèn lặng lẽ trên
bàn, thỉnh thỏang lại còn nghe tiếng “cóc, sựt” lạc lõng trong đêm. Bà Thái hắng
giọng, nói: “Con Thúy nhà tôi nó… không ngoan. Không biết nó có nói với anh
không,. Tôi đã phải khổ suốt đời vì nó. Ơ đầu hẻm có một ông thợ sửa xe, đã có
cháu nội, cháu ngọai, người thì như con mắm ấy, vậy mà chẳng hiểu sao nó cứ đi
chơi với ông ấy hòai. Vợ ông ta cứ vào đây mắng vốn tôi mãi… Anh có thương nó,
anh bảo nó dùm tôi”.
-Thúy đi chơi với ông ấy lâu chưa bác?
- Mới hôm qua, bà ấy còn vào đây, khóc om xòm. Con trai bà ấy thì đe dọa, nếu
con Thúy cứ tiếp tục đi mây về gió với bố nó, có chuyện gì xảy ra ráng mà chịu.
Im lặng một lát, bà tiếp: “Từ khi tôi ốm, không theo nó được nữa, nó mới đọa ra
như thế”.
Lòng An như trùng xuống. An không giận Thúy nhưng giận bà Thái. “Nuôi con mà lúc
nào cũng như cai ngục thế này, con hư là phải”. An an ủi bà: “ Bác cứ yên tâm,
cháu sẽ bảo Thúy”.
Thúy về. An đứng vội lên, xin lỗi. Mặt Thúy buồn so nói: “ Khu vực này sắp giải
tỏa, nhà em lại thuộc diện giải tỏa trắng”. An im lặng, bất lực, lòng đau nhói,
nói cho xong chuyện: “Bao giờ giải tỏa rồi tính, còn lâu mà!” Thúy buồn như muốn
khóc: “Tuần sau giải tỏa rồi. Em có thể ở tập thể, nhưng mẹ thì sao. Em mới đi
hỏi thuê mấy chỗ mà mắc quá, không chịu nổi. Hôm nay sao anh tới trễ thế?”
-Anh đi tìm thằng Tiến mà không gặp.
-Tiến nào?
-Thằng bé mà bố nó cũng là ông ngoại nó, anh đã kể cho em nghe rồi đó.
-Anh tìm nó làm gì?
-Cha Thịnh bảo tìm nó xem có giúp nó được gì chăng.
-Anh lúc nào cũng ăn cơm nhà vác ngà voi.
Hễ cứ đề cập tới chuyện trẻ em đường phố là y như rằng hai đứa lại xung khắc. An
im lặng, nhìn lung vào khu phố trước mặt, đã chìm sâu vào trong giấc ngủ, chỉ
còn tiếng vo ve của đàn muỗi đói, hòa chung với tiếng róc rách của những đường
cống nhỏ, rót thêm ô uế cho giòng kênh Nhiêu Lộc ngày đêm vẫn lềnh bềnh nhiều
thứ.
-Thôi khuya rồi, anh về đây, mai gặp lại.
Hôm sau, lễ xong gặp An, cha Thịnh hỏi: “Sao An, có chuyện gì lạ không?
-Buồn nhiều hơn vui, cha ạ!
-Buồn chuyện gì?
-Sáng Noel, con tới với tụi Đĩnh cụt, Dũng hí, Tiến lồi, Phương lõm, đang băng
bó cho tụi nó, thì bố của một ông cha đến, chỉ thẳng mặt con bảo: “Bọn này giả
nhân nghĩa để lừa đảo”. Thấy con vẫn im lặng, ông mời công an tới. Con buồn quá
nói thẳng với công an: “Những người này, đáng lẽ nhà nước phải lo, chúng tôi lo
dùm, đã chẳng được gì lại còn bị rầy ra, khó dễ. Thấy con chẳng làm gì xấu, họ
cứ để con làm”. Im lặng một lát, An tiếp: “Nghĩ mà buồn, cha ạ!”.
-Có gì mà phải buồn, ngày xưa mẹ anh còn bị tụi nó đe đánh cho nữa ấy.
-Hôm qua, đi tìm Tiến, con cũng mới bị bọn ở Tao Đàn đe dọa đấy, mà thằng ấy lại
là bạn cô nhi với con ngày xưa mới ác chứ.
-Anh có gặp thằng Tiến không?
An lắc đầu thất vọng. “Chắc không gặp được nó nữa đâu, cha ạ! Nó bị di tản đi
nơi khác rồi. Thằng Tuyến, là thằng ngày xưa giải cứu con ở cô nhi Xóm Gà, cảnh
cáo con: đừng đụng tới thằng Tiến. Nó là mồi ngon của tụi nó. Chẳng biết tụi nói
là tụi nào, nhưng nếu hôm qua không phải là con mà là đứa nào khác, thì chắc là
đã ốm đòn với tụi nó rồi.
-Phải tìm cho bằng được Tiến, An ạ.
-Sao vậy cha?
Tôi mắc nợ một ông cụ. Cụ ấy cũng rơi vào trong một hòan cảnh giống y như của bố
thằng Tiến vậy. Cụ muốn nói lời xin lỗi, mà không tìm được người cụ muốn xin
lỗi. Trước khi cụ lâm chung tôi phải hứa sẽ tìm cho bằng được người cụ muốn xin
lỗi, cụ mới an tâm ra đi đấy. Biết đâu, người ấy lại là Tiến.” Cha chép miệng
tiếp: “Đời thật lắm nhiêu khê. Còn tiền không?”
-Tiền thì còn, nhưng nếu hai đứa cùng đi một lúc thì sẽ không đủ.
-Đứa nào sắp đi nữa?
-Con nghĩ Dũng hí và Phương lõm. Phương lõm hôm qua ngấp ngóai, tưởng đã đi rồi,
chẳng hiểu sao lại hồi lại, nhưng mắt nó lờ đờ lắm rồi. À! Cha phải kể tiếp cho
con chuyện của một ông già nào đó đi chứ!
-Ong ấy tên là gì nhỉ, tên dễ nhớ lắm mà sao tôi lại quên phénh đi mất. Ơ gần
chỗ cậu ở ấy, chết chỉ có mỗi mình, tội nghiệp”. Cha Thịnh chau mày suy nghĩ.
Gió nhẹ đong đưa trên cành lá, làm An lạnh buốt, run lên cầm cập. “Ao đâu không
mặc vào?”.
-Có đâu mà mặc. Có mỗi cái cha cho hôm nào, cởi ra liệm cho thằng An sún rồi còn
đâu.
Cha Thịnh sung sướng nói: “Ừ đúng rồi, ông cụ An. Không có áo thì vào nhà cho đỡ
lạnh”.
Vừa đi, cha Thịnh vừa kể: “ông này thật tội. Đêm ngủ với con gái, chỉ một phút
yếu lòng, đã phá vỡ cuộc đời con, làm tan tác gia đình. Lần nào gặp tôi, ông
cũng khóc, bảo rằng: tội của ông còn nặng hơn cả tội phá thai. Phá thai chỉ làm
cho một người chết, mà chết có một lần, còn tội này làm cho hai người chết một
lúc mà lại chết từng ngày, từng giờ, nên ông cũng phải ăn năn từng phút từng
giờ.
-Ong ấy chết lâu chưa, cha?
-Khỏang gần 20 năm
-Thế thì không phải bố cu Tiến rồi, nó mới khỏang 8, 9 tuổi thôi à!
-Thế ra lại có thêm một cụ An nữa à. Cha Thịnh xót xa nói.
-Thưa cha còn một chuyện quan trọng nữa. Nhà nguyện Đức Mẹ dâng Chúa vào đền
thánh sắp giải tỏa. Cha có nhớ nhà bà Thái, có cô Thúy không?
-Nhà chỉ có hai mẹ con, cô con gái trông thật đẹp nhưng mặt lúc nào cũng u buồn
chứ gì?
-Dạ đúng, đẹp não nùng, buồn muôn thưở, bồ của con đấy.
-Bồ của cậu thật đấy à! Quen nhau lâu chưa?
-Dạ, mới có 5 năm thôi. Từ khi Thúy mới về đây ở.
-Nhà ấy mới ở đây được có bằng ấy thôi à!
–Vâng, hơn kém năm năm. Bây giờ nhà sắp bị giải tỏa trắng. Cô không có tiền thuê
nhà cho cả hai mẹ con. Cha có cách nào giúp không?
-Thuê nhà bây giờ không phải là chuyện đơn giản! Khó quá ha! Cậu ở một mình, sao
không cho họ ở.
-Con sẵn sàng thôi nhưng lại sợ người ta dị nghị, chưa cưới hỏi gì mà đã dẫn
nhau về.
-Vậy thì cưới đi!
-Cưới thì cũng được, nhưng Thúy không muốn con dây dưa với bọn Tiến, bọn Đĩnh.
Lấy nhau về mà tối ngày lúc nào cũng mặt nặng, mặt nhẹ với nhau vì chuyện này
thôi thì thật chán.
Bình mở cửa nhà khách, nói với cha Thịnh: “cha có điện thọai ạ!”
-Vậy cậu cứ suy nghĩ kỹ đi, rồi báo lại cho tôi nhé!
-Còn chuyện thằng Tiến, nếu cần chuộc, có chuộc không?
-Để coi xem đã!
Chiều hôm ấy, An lại lân la ở công viên Tao Đàn, không phải để tìm Tiến mà là
Tuyến, hy vọng có thể thỏa thuận được điều gì chăng. Ân vẫn ngồi trên chiếc ghế
đá cũ, mắt lim dim khép hờ, nhìn những sợi hoàng hôn đỏ nhạt đang vẫy chào cây,
lá. Lời bà Thái lại vang lên trong lòng An: Anh có thương nó thì xin anh bảo nó
giúp tôi, nó cứ đi chới với cái ông thợ sửa xe đã có nội, cháu ngọai…” Phải làm
sao cứu Thúy bây giờ? Khuôn mặt kiều diễm, đẹp lộng lẫy, đầy vẻ hoang dã của
Thúy cũng hiện lên trong đầu An. An nói một mình, nhưng như thể đang tâm sự với
Thúy: “Em đẹp thật, nhưng em cũng hoang dã thật. Có lẽ tại vì em bị úm kỹ quá,
không có tuổi thơ, không có những ngày tháng nghịch phá như anh nên em hoang dã.
Hoang dã trong lời nói, hoang dã trong nhan sắc, hoang dã trong hành động, hoang
dã trong cả cách tỏ tình. Có nên đưa mẹ con Thúy về ở chung chăng? Không đưa về
thì không biết đời họ sẽ trôi dạt về đâu. Đưa về thì lắm kẻ xấu miệng sẽ làm khổ
Thúy, làm khổ mình. An nhắm mắt nguyện cầu: “ Lạy Chúa, con phải làm gì bây
giờ?” Trong tiếng gió vi vu, rì rào, An nhớ lại từng lời trong bài giảng của cha
Mẫn Dòng Chúa Cứu thế đêm Noel vừa qua: “Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật, đã làm
người thật như ta. Như thế, nơi Chúa Giêsu, con người với Thiên Chúa là một. Nơi
Chúa Giêsu, con người ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong con người. Nơi
chúa Giêsu, dòng máu của Thiên Chúa lưu thông trong huyết quản của con người.
Như thế, hôm nay khi ta mừng lễ giáng sinh, ta không mừng một biến cố của quá
khứ mà là một biến cố đang xảy ra cho ta hôm nay. Ta đang mừng ngày ta được sinh
ra để làm con Thiên Chúa. Hôm nay sinh nhật Chúa cũng là sinh nhật của ta. Nếu
như khi nhập thể làm người. Chúa Giêsu đã cho ta sờ đụng được Thiên Chúa, thì
khi được sinh ra làm con Thiên Chúa, ta cũng phải làm cho người ta sờ đụng được
Thiên Chúa trong đời ta. Bằng cách nào? Chúa Giêsu trong Tin Mừng theo thánh
Mathêu khẳng định điều kiện để nên con Thiên Chúa, để được hưởng nước trời, để
cho người ta trông thấy Thiên Chúa, đó là: “ khi Ta đói, các ngươi, đã cho Ta
ăn, Ta khát, các ngươi đã cho ta uống, Ta mình trần các ngươi đã cho Ta mặc, Ta
là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước, Ta đau yếu, các ngươi đã đến với Ta, Ta ở
tù các ngươi đã đến thăm Ta. Vậy hãy vào hưởng nước trời đã sắm sẵn cho các
ngươi từ thửơ tạo thiên lập địa. Bấy giờ những người được chúc phúc ấy bắt đầu
thắc mắc: chúng tôi có bao giờ thấy Chúa đói đâu mà cho Chúa ăn, thấy Chúa khát
mà cho Chúa uống, thấy Chúa bơ vơ mà đưa Chúa về đâu… và Chúa đáp: tất cả những
gì các ngươi đã hoặc đã không làm cho một trong những kẻ bé mọn nhất này là các
ngươi đã hoặc đã không làm cho chính Ta. Và cha Mẫn kết luận: khi được sinh ra,
người ta cấp cho ta một tờ khai sinh. Từ tờ khai sinh này, ta mới có được giấy
chứng minh nhân dân, có được bằng tốt nghiệp… Giấy khai sinh của Kitô hữu chính
là cho những người bé mọn ăn, uống, là tiếp đón những người vô gia cư”. Mà bà
Thái với Thúy nào có phải là những người xa lạ đâu! Hơn nữa, nhà mình đang ở có
phải là nhà của mình đâu, An tự nhủ. Dù sau này Thúy có là vợ tôi hay không, tôi
cũng đón mẹ con Thúy về ở với tôi. An khoan khóai mỉm cười với quyết định của
mình.
Trời đã khuya. Phố đã vắng người qua lại. Gió bắt đầu trở lạnh. Không thấy Tuyến
mà cũng chẳng thấy Tiến, An phấn khởi đứng dậy tự nhủ: “ Dẫu sao, hôm nay, ta đã
có được một quyết định sáng suốt”.
-Anh kia ơi! Có người kiếm anh kìa!” An ngỏanh mặt nhìn, hai, ba cô gái phấn son
lòe lọet đang nhỏen cười tán tỉnh. Một cô đi vội tới chỗ An, cầm tay nói: “ Anh
ơi, đi không anh, ủng hộ em đi mà, mấy bữa nay ế ẩm quá!”.
An nghe một cảm giác rờn rợn lan khắp cả người, chưa biết phản ứng ra sao, thì
một cô khác, tiếp : “Vui vẻ đi anh, chị ấy ngon lắm đó!”.
Giọng Tuyến hôm nào vang lên trong trí An. “Tôi đang đi tìm đại ca Nam”, An nói.
-Ai? Các cô đồng thanh hốt hỏang nói: đại ca Nam hả?
-Tóc búi, râu xồm, đi chiếc 150 phân khối màu đen?
-Phải!
Các cô bắt đầu bu quanh An.
-Anh là gì của đại ca Nam? Anh không hay tin gì à?
-Không!
-Đại ca Nam bị bắt rồi. Một cô phấn son lòe lọet nhất nói: “Thôi, không có đại
ca thì có em đây!”
-Bị bắt vì tội gì? Ai bắt? Hiện đang ở đâu?
-Buôn người, buôn ma túy.
An chết lặng. “Mày phải đi ngay, nếu không nó sẽ giết chết mày!” Hình ảnh Tuyến
của hai mươi năm về trước nhạt nhòa trong trí An. Thấy An không tha thiết gì với
chuyện chơi bời, một số cô bắt đầu tản ra, mỗi cô một gốc cây.
-Cô có biết một em bé khỏang 9, 10 tuổi tên Tiến không?
-Tiến nào? Có phải bố nó cũng là ông ngọai nó không?
-Phải, đúng nó! Mắt An sáng lên niềm hy vọng.
-Hôm qua nó mới ở đây nè!
-Không phải mày! Hôm qua là thằng Tín. Tiến bị họ bẻ gẫy chân, nghe đâu để gửi
đi Bắc Mỹ Thuận làm ăn.
-Ê Hương! Coi chừng cái miệng mày!
-Em vừa bán tin cho anh, cho em xin ít tiền ăn hủ tiếu đi anh, đói bụng quá hà!
Giọng Hương ngọt như mía lùi, chắc là người đồng bằng Sống Cửu Long. An móc túi
cho cô 5000 đồng, rồi leo lên xe chìm dần vào trong giòng xe cộ ngược xuôi.
Từ khi mẹ con Thúy về ở chung, An bớt hẳn những chuyến lang thang trên hè phố.
Thúy rất đảm đang, cái gì cũng biết làm chỉ mỗi tội ương bướng, không muốn ai
xía vào bất cứ chuyện gì của cô. Có lần, Thúy mua khổ qua về, định làm món khổ
qua nhồi thịt. Vừa bầm thịt, vừa hát nghêu ngao. Bà Thái vui chuyện hỏi: “Con
định làm gì thế!” Có vậy thôi mà Thúy cũng đùng đùng nổi giận, nguây nguẩy bỏ
đi. Bà Thái tủi thân, nằm khóc một mình.
Đi làm về tới nhà, thấy mắt bà đỏ hoe, An hỏi: “Lại có chuyện gì hả bác?”
-Nó đang vui vẻ, tôi chỉ hỏi: con định làm gì thế, có vậy thôi mà nó cũng nổi
khùng lên. Anh thấy đấy, con với cái như thế, ai mà chịu nổi.
-Hình như bác với Thúy có chuyện gì đó thì phải.
Bà Thái im lặng, nghẹn ngào, do dự hồi lâu mới nói: “ Có chuyện buồn lắm, anh ạ!
Anh tốt với tôi quá, nên tôi sẽ nói hết cho anh biết. Anh đi tắm cho khỏe đã!
Từ khi về nhà An ở, Thúy cũng không còn lang thang nữa. Cô đi làm về sớm, dọn
dẹp, nấu nướng. Mặt bắt đầu rạng rỡ, bớt hẳn nét u uẩn hoang dã. Hôm ấy, bỏ đi
được một lúc, chẳng biết đi đâu, Thúy lẻn vào phòng đọc báo.
An tắm rửa xong, đến ngồi bên bà Thái. Bà nghẹn ngào kể: “Suốt ba mươi năm nay,
tôi đã phải sống trong căm thù, tủi nhục, sống một cuộc đời thê lương, vụn vỡ.
Năm tôi 18 tuổi, học giỏi, lại thuộc lọai đẹp nhất nhì trường Bà Rịa. Gần đến kỳ
thi tốt nghiệp, mẹ tôi đi đám cưới, sợ ma, tôi không dám ngủ một mình, ngủ với
ba, ba tôi đã hại tôi. Tôi có thai mà không biết. Mẹ tôi đuổi ông ấy đi, bán nhà
về Suối Nghệ ở với ngọai. Tôi sinh được một đứa con trai. Bà bắt đầu nghẹn ngào:
bây giờ cứ mỗi lần nhớ tới nó là tôi lại bị giằng xé, không biết mẹ tôi quăng nó
ở đâu, không biết nó còn sống hay là đã chết. Tôi căm thù đàn ông, lập gia đình
cách miễn cưỡng, sinh được con Thúy. Hễ cứ mỗi lần thấy bố nó xán lại gần, là
tôi lại uất ức, cũng vì thế mà vợ chồng chia tay nhau. Tôi sợ đàn ông. Tôi không
dám cho con Thúy giao du với ai, chỉ sợ nó lại thành nạn nhân khốn khổ như tôi.
Có lẽ vì thế mà nó ghét tôi. Tôi muốn nói cho nó biết sự thật, nhưng lại không
dám nói, sợ nó buồn, nó tủi. Đời tôi là thế đấy, anh ạ, vẫn còn sống, nhưng như
người đã chết từ lâu”.
Nước mắt An dàn dụa. Trong phòng Thúy nằm khóc thút thít.
Bà Thái lấy mu bàn tay quệt nước mắt, tiếp: “Tôi không biết phải ăn nói thế nào
cho Thúy hiểu tôi”. Rồi bà cầm lấy tay An, năn nỉ: “Tôi van xin anh, anh thương
nó, xin anh cứu vớt nó dùm tôi”. Thúy không còn chịu nổi nữa, vội tụt xuống khỏi
giường, chạy đến ôm chầm lấy mẹ. An tính hỏi tên ông cụ là gì nhưng lại thôi.
Sáng sớm hôm sau, An hớt hải tới gặp cha Thịnh: “Thưa cha, con đã tìm được người
cha cần tìm rồi đấy!”
-Ai? Hiện đang ở đâu?
-Bà Thái, mẹ của Thúy, nhưng con lại chưa dám hỏi. Hôm nào cha đến hỏi thử xem.
-Còn Tiến thì sao?
-Nghe đâu nó bị bẻ gẫy chân, đẩy xuống Bắc Mỹ Thuận rồi thì phải.
-Thôi được, cậu về đi, chiều tôi ra.
Nói ra được hết nỗi đau vẫn dầy xéo, bà Thái bắt đầu tươi tỉnh hơn. Trời bắt đầu
mưa. Năm nay mưa nhiều hơn năm ngóai. Mới đầu mùa, mà ngày nào mưa cũng rả rích
suốt cả buổi. Trời lúc nào cũng xám ngoét. Chiều hôm ấy, cha Thịnh tới, bà Thái
ngồi dậy tiếp. “Chào bà, tôi có chuyện muốn nói với bà. Thiên An đã kể hết cho
tôi nghe câu chuyện thương tâm của bà rồi. Có phải trước đây bà ở Chu Hải không?
-Dạ thưa phải ạ!
-Bà có phải là cô Diễm Trang con của cụ An ngày xưa không?
Càng nghe cha Thịnh nói, bà Thái càng ngạc nhiên: “Sao cha biết?” Cha Thịnh chưa
kịp trả lời, thì Thúy về. Cha Thịnh nói: “Chào Thúy”.
-Chào cha, sao cha biết con.
-Cha có thấy con vài lần. Rồi quay sang bà Thái, cha tiếp: “Cụ An, trước khi qua
đời, có xin tôi một điều, và tôi đã hứa giúp. Đó là tìm gặp bà, để nói cho bà
biết là cụ vô cùng ân hận vì đã làm tan vỡ đời bà. Cụ bị dằn vặt, sâu xé nhiều
lắm. Cụ tha thiết xin bà thứ lỗi cho cụ. Vậy bây giờ bà có tha cho cụ không?
Bà Thái im lặng. Từ lâu dù căm ghét bố, nhưng bà cũng căm ghét cả bà nữa. Nếu
đêm ấy bà không ngủ với bố, thì có lẽ mọi sự đâu đến nỗi này. Trời lại bắt đầu
mưa, thấy bà không nói cha Thịnh tiếp: “Thôi dẫu sao thì cụ cũng đã khuất rồi.Vả
lại, suốt cuộc đời còn lại, cụ đã tự dày vò, cắn xé, đã đi tìm bà khắp nơi mà
không gặp. Cụ bảo: tôi đã giết chết đứa con mà tôi cưng chiều nhất, giết nó từng
phút từng giờ, nên tôi đã phải xót xa từng phút từng giờ”. Bà Thái gục mặt vào
lòng bàn tay, nấc lên từng cơn. Bao nhiêu kỷ niệm đẹp ngày xưa đã bị kỷ niệm
buồn đêm hôm ấy chôn vùi, nay bỗng bừng sống lại. Bà nghẹn ngào thốt lên: “Ba!”,
rồi lại gục mặt khóc.
-Thôi vậy tôi về nhé! Lúc nào cần tôi, bà cứ nói với Thiên An.
Bà Thái đứng dậy, lấy tay quệt nước mắt: “Chào cha, cám ơn cha!”.
Ra tới đường cha Thịnh còn nói với lại: “Cụ có đưa cho tôi một tấm hình, bảo bao
giờ tìm thấy bà, thì đưa cho bà. Tôi để lạc đâu mất chưa tìm ra, khi nào tìm
được tôi sẽ giao cho bà”.
Gần tới đám cưới An, cha Thịnh lại ghé thăm lần nữa, mang theo tấm hình, đưa cho
bà Thái nói: “Đây, hình của cụ đây!”. Bà Thái ấp tấm hình vào ngực hồi lâu, mắt
mịt mờ xa vắng, rồi lật phía sau, đọc: “Diễm Trang, con gái cưng của ba. Từ hôm
ấy, ba chỉ muốn quì gối trước mặt con, để xin được tạ tội. Ba đã giết chết con
và cũng giết chết cả ba và mẹ con nữa. Ba không còn xứng đáng là ba của con nữa.
Nhưng ba vẫn mong rằng, khi nhận được những lời này, con sẽ sẵn sàng tha thứ cho
ba, để linh hồn ba được an nghỉ. Ký tên: người cha đau khổ”.
Mắt bỗng nhạt nhoà, bà nhắm chặt mắt cho giọt nước mắt đã đầy mi rơi xuống đất.
Nhìn kỹ hình cụ, bà ngạc nhiên hỏi: “Ua! Sao hình này giống hình của cụ Đức chủ
nhân của căn nhà này thế! Cha có lộn không?” Cha Thịnh nhìn hai tấm hình, chau
mày, nói: “Tôi còn nhớ khi cụ mới về đây, ai cũng gọi cụ là cụ Đức, đến bia mộ
cũng ghi là cụ Đức, nhưng đây là tấm hình chính tay cụ đã đưa cho tôi, trong căn
nhà này, như vậy, nhà này là nhà của cụ An”. Vừa đi làm về, nghe thế, An rất ngỡ
ngàng hỏi: “Cụ đưa cho cha tấm hình này hồi nào?”
-Tôi giải tội, xức dầu, cho cụ rước lễ xong, cụ mới móc trong túi ra, đưa cho
tôi tấm hình này, nói: xin cha cố tìm cho được Diễm Trang, và đưa tấm hình này
cho nó dùm con”. Tôi hứa, được ít phút sau, thì cụ qua đời mà!” Ngưng lại một
chút, cha tiếp: “Lúc ấy cậu ở đâu?”
-Con đi học, không có nhà. Hôm ấy con tính ở nhà, nhưng cụ bảo, cụ còn khỏe, khi
về tới nhà thì cụ không còn nữa.
Bà Thái lật phía sau ảnh xem lại lần nữa. Mực đã phai màu, nhưng chữ này đúng là
chữ của cụ, nói: “Chữ này đúng là chữ của ba con!” Mọi người lại trầm tư suy
nghĩ. Mưa bắt đầu lốp đốp trên mái, nhưng chỉ được ít hạt lại thôi. Đường phố
bốc lên một làn khói nhẹ, ngột ngạt. Diễm Trang xót xa, nhìn hình cụ An, lẩm
bẩm: cụ tiều tụy quá không thể nhận ra được, chỉ còn mỗi hai con mắt là hơi
giống ngày xưa thôi. Bà lại nghẹn ngào: sao ba tiều tụy đến thế! Con không còn
nhận ra ba được nữa.
Cha Thịnh nhìn bà Thái, hỏi: “Diễm Trang này, bà có nhớ bà sinh con ở đâu
không?”
-Dạ, ở nhà bảo sanh Ngãi Giao.
-Bà có nhớ, bà đã cho nó cho ai không?
-Con không cho, lúc ấy con buồn quá, sống mà như người đã chết. Mọi chuyện đều
là do mẹ con quyết định hết. Con chỉ nhớ, mẹ con bế cháu, đội nón ra đi, vừa về
tới nhà, thì nhà thờ đổ chuông.
-Bà có nhớ gì về cháu không?
-Con không nhớ lắm, chỉ nhớ là nó có một cái bớt đỏ to bằng ngón tay cái, ngay
dưới ót.
Cha Thịnh đăm chiêu một lúc, như cố nhớ ra xem năm ngoái, khi đi tắm biển, cha
thấy trong nhóm hoạt động xã hội của cha, có một đứa cũng có một cái bớt y như
bà Thái kể. Như chợt nhớ ra điều gì, cha ngoắc An lại, vạch lưng áo Ân ra, một
cái bớt vẫn còn đỏ chót. Diễm Trang trợn tròn mắt ngạc nhiên. Cha thịnh hỏi: “
Có giống cái bớt này không?” Bà chưa hết ngạc nhiên, cha lại tiếp: “Nó sinh ra ở
nhà thương Ngãi Giao, người ta lượm được nó ở Hội Chữ Thập Đỏ Ngãi Giao đấy!”
Diễm Trang ôm chầm lấy An, nghẹn ngào nức nở. Thúy cũng chạy tới ôm chầm lấy cả
hai người, nước mắt dàn dụa. Cha Thịnh giơ tay làm dấu thánh giá, rồi nói lớn:
“Chúa và cụ An đã cho mẹ con bà được sum họp. Xin tạ ơn Chúa!”.
Bên ngoài, gió hây hây lạnh. Trời mưa lác đác. Cơn mưa cuối mùa năm ấy.
NHỮNG TÂM HỒN BỪNG CHÁY
CHIỀU
, SAU CƠN MƯA