|
c
Cafe Artist Phuong 31 Cua Dong Is Pleased to
Present
Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương

Ecole Superieure des
Beaux-Arts de L'Indochine
Sự thành lập trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương tại
Hà Nội vào năm 1925 có những ảnh hưởng lớn vào trong đời sống văn hóa Việt Nam
v́ một số lư do sau. Trước hết trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương là ngôi
trường mỹ thuật đầu tiên; nó trở thành nơi mà tài năng có thể được khám phá, đào
tạo và nung đúc. Kế tiếp nhà trường này mang lại một cung cách mới dể diễn đạt
trong mỹ thuật, nhất là ở một quốc gia mà hội hoạ trước đó không phải là một
ngành nghệ thuật phát triển. Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương thành lập ra
một truyền thống mới trong mỹ thuật, đó là một nền thẩm mỹ mới. Cuối cùng, không
kém phần quan trọng, sự thành lập của trường, cùng với sự phát triển của chữ
quốc ngữ, thể hiện sự khao khát canh tân của xă hội.
Vào thập niên 1920,
người Pháp đă xây dựng khá hoàn chỉnh nền hành chính của họ trên đất Việt Nam.
Những cuộc khởi nghĩa bị thất bại, các phong trào chống thực dân lúc bấy giờ
chuyển hướng sang những hoạt động văn hoá, thí dụ như Đông Du, Đông Kinh Nghĩa
Thục. Những phong trào này đưa người Việt từ chỗ hoàn toàn chống đối và từ bỏ
phương Tây, sang một cái nh́n mới: đó là, muốn xoá bỏ sự đô hộ của người Pháp,
người Việt Nam phải hiểu nền văn minh phương Tây và phải đối phó được vơi nó.
Trong bối cảnh đó, vào thập niên 1920, người Việt Nam đón nhận các trường học
của Pháp như là một yếu tố cần thiết cho sự canh tân đất nước.


Victor Tardieu ( 1870-1937), hiệu trưởng đầu tiên của trường
Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương, đă xây dựng chương tŕnh học của trường trên khuôn
mẫu của L’Ecole des Beaux Arts tại Paris, và mang theo ảnh hưởng của chủ nghĩa
Ấn Tượng Pháp vào Việt Nam với một ḷng nhiệt thành đối với nghề nghiệp và với
sinh viên. Người đồng sáng lập với Victor Tardieu là hoạ sĩ Nam Sơn, tên thật
Nguyễn Văn Thọ (1890-1973), được gửi sang Paris để học mỹ thuật một năm trước
khi về lại Việt Nam giảng dạy tại trường. Trong thời gian ở Paris, Nam Sơn chắc
đă tận mắt cảm nhận hội hoạ Ấn Tượng Pháp. Năm 2002 có một cuộc tranh luận tại
Hà Nội trên báo chí về việc khôi phục vai tṛ của Nam Sơn trong việc h́nh thành
trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương. Điều chắc chắn là sự hợp tác chặt chẽ giữa
một người Pháp và một người bản xứ dựa trên tinh thần yêu chuộng nghệ thuật rất
cần thiết cho việc h́nh thành một ngôi trường mà mục đích xem ra chỉ có lợi cho
người bản xứ mà thôi.
Ngoài tác phẩm sơn dầu đầu tiên được lưu giữ tại
Bảo tàng Mỹ Thuật Hà Nội do hoạ sĩ Lê Văn Miến (18...-19…), sơn dầu được chính
thức giới thiệu vào Việt Nam qua trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương vào 1925.
Tô Ngọc Vân (1906-1954) được nhiều sử gia mỹ thuật xem như là bậc thầy trong
việc xử lư chất liệu mới này. "Thiếu nữ bên hoa huệ" (1943) tŕnh bày vẻ đẹp của
phụ nữ Việt Nam trong thời đại bấy giờ, một phụ nữ thành thị trong chiếc áo dài.
Cô ngồi tựa lưng vào ghế, đầu nghiêng nghiêng e lệ, vừa thướt tha, vừa gợi cảm.
Trong giai đoạn 1930-40, văn chương và mỹ thuật có mối liên hệ với nhau. Rất
nhiều hoạ sĩ đồng thời cũng là nhà văn, nhà soạn nhạc và nhà thơ. Phong trào thơ
mới cổ xuư cho chủ nghĩa Lăng Mạn trong văn chương được tầng lớp thị dân đón
tiếp nồng nhiệt đă ảnh hưởng đến mỹ thuật. Những đề tài lăng mạn được thể hiện
trong tranh rất nhiều. Nhóm Tự Lực Văn Đoàn và những tác phẩm do nhóm này xuất
bản đă có tác động rất lớn trong việc thay đổi tư tưởng và văn hoá của Việt Nam,
chẳng hạn như việc giải thoát cá nhân ra khỏi không khí ngột ngạt của những lễ
giáo và nghĩa vụ phong kiến. Chính trong bối cảnh xă hội và thẩm mỹ như thế các
họa sĩ Việt Nam đă bắt đầu bước vào cuộc chơi.

Ecole Superieure des Beaux-Arts
de L'Indochine (Indocina Fine Arts College), 1929



|