GIAO PHAN NHA TRANG


Giáo lý Chung Hội thánh Công giáo

GIÁO LÝ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

 

MỤC LỤC

Thư gởi Đức tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình                

Lời giới thiệu của Giáo quyền Giáo Phận                    

Viết tắt                                                                          

Tông hiến kho tàng đức tin                                         

Lời mở đầu                                                                   

PHẦN THỨ NHẤT:

TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN

ĐOẠN THỨ NHẤT : "TÔI TIN" - "CHÚNG TÔI TIN" 

Chương một : Con người "Có khả năng" đón nhận Thiên Chúa

Chương hai : Thiên Chúa đến gặp con người

Mục 1 : Mặc khải của Thiên Chúa                               

Mục 2 : Lưu truyền Mặc khải của Thiên Chúa                        

Mục 3 : Thánh kinh                                                      

Chương ba : Con người đáp lời Thiên Chúa               

Mục 1 : Tôi tin                                                               

Mục 2 : Chúng tôi tin                                                    

ÐOẠN THỨ HAI :

TUYÊN XƯNG ÐỨC TIN KI-TÔ GIÁO

NHỮNG BẢN TUYÊN XƯNG ÐỨC TIN

Chương một : Tôi tin kính Thiên Chúa là Cha             

Mục 1 :" Tôi tin kính Ðức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng, dựng nên trời đất "              

Tiết 1 : Tôi tin kính Ðức Chúa Trời  

Tiết 2 : Chúa Cha 

Tiết 3 : Ðấng Toàn Năng

Tiết 4 : Ðấng Sáng tạo

Tiết 5 : Trời và đất

Tiết 6 : Con người

Tiết 7 : Sự sa ngã

Chương hai : Tôi tin kính Ðức Giê-su Ki-tô, Con một Thiên Chúa

Mục 2 :"Tôi tin kính Ðức Giê-su Ki-tô, là Con Một Ðức Chúa Cha, cùng là Chúa chúng tôi" 

Mục 3 : Bởi phép Ðức Chúa Thánh Thần, mà Người xuống thai sinh bởi bà Ma-ri-a đồng trinh 

Tiết 1 : Con Thiên Chúa làm Người

Tiết 2 : "...Bởi phép Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai, sinh bởi Bà Ma-ri-a đồng trinh"

Tiết 3 : Các mầu nhiệm cuộc đời Ðức Ki-tô 

Mục 4: "Ðức Giê-su Ki-tô đã chịu nạn đời Phông- xi-ô Phi-la-tô, chịu đóng đinh trên cây thánh giá,

chết và táng xác".

Tiết 1 : Ðức Giê-su và It-ra-en

Tiết 2 : Ðức Giê-su chịu chết trên thánh giá 

Tiết 3 : Ðức Giê-su Ki-tô được mai táng

Mục 5 :" Ðức Giê-su Ki-tô xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại "

Tiết 1 : Ðức Ki-tô xuống ngục tổ tông

Tiết 2 : Ngày thứ ba Người từ trong kẻ chết mà sống lại

Mục 6 : Ðức Giê-su lên trời ngự bên hữu Ðức Chúa Cha phép tắc vô cùng

Mục 7 : "Ngày sau bởi trời, (Người) lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết"

Chương ba : Tôi tin kính Ðức Chúa Thánh Thần

Mục 8 : " Tôi tin kính Ðức Chúa Thánh Thần " 

Mục 9: " Tôi tin có Hội Thánh Công Giáo "

Tiết 1 : Hội Thánh trong ý định của Thiên Chúa

Tiết 2 : Dân Thiên Chúa, Thân Thể Ðức Ki-tô, Ðền Thờ Chúa Thánh Thần

Tiết 3 : Hội Thánh Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền

Tiết 4 : Các Ki-tô hữu - cơ cấu phẩm trật, giáo dân, đời sống thánh hiến

Tiết 5 : Mầu nhiệm các Thánh hiệp thông

Tiết 6 : Ðức Ma-ri-a Mẹ Ðức Ki-tô, Mẹ Hội Thánh

Mục 10 : " Tôi tin phép tha tội "

Mục 11 : "Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại "

Mục 12 : " Tôi tin có sự sống đời đời "

PHẦN THỨ HAI : CÁC BÍ TÍCH

ÐOẠN THỨ NHẤT :

NHIỆM CỤC BÍ TÍCH

Chương một : Mầu nhiệm Vượt Qua trong thời của Hội Thánh

Mục 1 : Phụng vụ - Công trình của Thiên Chúa Ba Ngôi

Mục 2 : Mầu nhiệm Vượt Qua trong các Bí Tích của Hội thánh

Chương hai : Họp mừng Mầu nhiệm Vượt Qua

Mục 1 : Cử hành phụng vụ của Hội Thánh

Mục 2: Một mầu nhiệm nhiều hình thức cử hành

ÐOẠN THỨ HAI :

BẢY BÍ TÍCH CỦA HỘI THÁNH

Chương một : Các bí tích khai tâm Ki-tô giáo

Mục 1 : Bí tích Thánh Tẩy

Mục 2 : Bí tích Thêm Sức

Mục 3 : Bí tích Thánh Thể

Chương hai : Các bí tích chữa lành

Mục 4 : Bí tích Thống Hối và Giao Hòa

Mục 5 : Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân

Chương ba : Các Bí Tích xây dựng cộng đoàn

Mục 6 : Bí tích Truyền Chức

Mục 7 : Bí tích Hôn Phối

Chương bốn : Những cử hành phụng vụ khác

Mục 1 : Các Á Bí Tích

Mục 1 : Lễ nghi An Táng

PHẦN THỨ BA :

ÐỜI SỐNG ÐỨC TIN TRONG ÐỨC KI-TÔ

ÐOẠN THỨ NHẤT :

ƠN GỌI LÀM NGƯỜI :

SỐNG TRONG THÁNH THẦN

Chương một : Phẩm giá con người

Mục 1 : Con người là hình ảnh của Thiên Chúa

Mục 2 : Thiên Chúa gọi chúng ta đến hưởng hạnh phúc đích thực

Mục 3 : Tự do của con người

Mục 4 : Tính luân lý của các hành vi nhân linh

Mục 5 : Tính luân lý của những đam mê

Mục 6 : Lương tâm

Mục 7 : Các nhân đức

Mục 8 : Tội lỗi

Chương hai : Cộng đồng nhân loại

Mục 1 : Con người và xã hội

Mục 2 : Tham gia vào đời sống xã hội

Mục 3 : Công bằng xã hội

Chương ba : Thiên Chúa cứu độ : Lề luật và ân sủng

Mục 1 : Luật Luân lý

Mục 2 : Ân sủng và công chính hóa

Mục 3 : Hội Thánh là Mẹ và Thầy

ÐOẠN THỨ HAI :

MƯỜI ÐIỀU RĂN

Chương một : " Ngươi phải yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi".

Mục 1 : Ðiều Răn Thứ Nhất

Mục 2: Ðiều Răn Thứ Hai

Mục 3 : Ðiều Răn Thứ Ba

Chương hai : "Ngươi phải yêu thương người thân cận như chính mình"

Mục 4 : Ðiều Răn Thứ Tư

Mục 5 : Ðiều Răn Thứ Năm

Mục 6 : Ðiều Răn Thứ Sáu

Mục 7 : Ðiều Răn Thứ Bảy

Mục 8 : Ðiều Răn Thứ Tám 

Mục 9 : Ðiều Răn Thứ Chín

Mục 10 : Ðiều Răn Thứ Mười 

PHẦN THỨ TƯ :  2558-

KINH NGUYỆN KI-TÔ GIÁO

ÐOẠN THỨ NHẤT :

KINH NGUYỆN TRONG ÐỜI SỐNG KI-TÔ HỮU  2566-

Chương một : Mặc khải về cầu nguyện - Mọi người được mời gọi cầu nguyện                          

Mục 1 : Trong Cựu Ước

Mục 2 : Khi thời gian đến kỳ viên mãn

Mục 3 : Trong thời của Hội Thánh

Chương hai : Truyền thống cầu nguyện

Mục 1 : Những nguồn mạch của kinh nguyện

Mục 2 : Con đường cầu nguyện

Mục 3 : Dẫn đến kinh nguyện

Chương ba : Ðời sống cầu nguyện

Mục 1 : Những hình thức cầu nguyện                         

Mục 2 : Cầu nguyện là một cuộc chiến đấu

ÐOẠN THỨ HAI :

LỜI KINH CHÚA DẠY : KINH LẠY CHA

Mục 1 : "Bản tóm lược toàn bộ Tin Mừng"

Mục 2 : "Lạy Cha chúng con ở trên trời"

Mục 3 : Bảy lời nguyện xin

VINH TỤNG CA KẾT THÚC

TRÍCH DẪN

CÁC ÐỀ TÀI

 

Thư gởi ĐTGM Phaolô Nguyễn Văn Bình

 

Kính gởi

Ðức Cha PHAOLÔ NGUYỄN VĂN BÌNH
Tổng Giám Mục Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh

 

Kính thưa Ðức Cha,

Ban Giáo Lý chúng con hôm nay xin gởi đến Ðức Cha bản dịch của Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo.

Vâng lệnh Ðức Cha, chúng con đã bắt tay vào việc ngay từ cuối năm 1992.

Trước hết, chúng con nhờ 4 nhà dòng ở Thành Phố Hồ Chí Minh (Dòng Ðức Bà [CMD], Hội dòng Phan-Sinh Thừa Sai Ðức Mẹ[FMM], Dòng Thánh Phao-lô thành Chartres (SPC) và Dòng Chúa Quan Phòng [CQP]) dịch 4 phần Sách Giáo Lý. Kế đến, chúng con chia nhau từng đoạn, mỗi người đọc một bản dịch, đề nghị sửa đổi, để chuẩn bị cho những ngày làm việc chung. Cuối cùng, chúng con gặp nhau và duyệt lại từng câu, từng chữ.

Khi duyệt lại bản dịch, chúng con dựa trên 3 nguyên tắc:

1. Dựa trên bản tiếng Pháp, Anh, Ý và Ðức, chúng con sửa lại những gì chưa đúng với nội dung.

2. Khi nắm vững ý của từng đoạn, chúng con xét đến cách hành văn tiếng Việt, cố gắng để bản văn dễ đọc, càng dễ hiểu càng tốt.

3. Chúng con cũng thống nhất các thuật ngữ dùng trong toàn bộ bản dịch .

 

Về các trích dẫn

1- Thánh Kinh : Chúng con theo bản dịch của nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ.

2- Phụng vụ : Chúng con theo bản dịch của Ủy ban Phụng Vụ cũ và Ủy ban Phụng Tự hiện nay.

3- Công đồng: Chúng con theo bản dịch của Giáo Hoàng Học Viện Thánh Pi-ô X Ðà lạt.

Tuy nhiên, khi trích dẫn, đôi lúc chúng con thay đổi một chút cách hành văn để phù hợp với mạch văn.

Mặc dầu đã hết sức cố gắng, chúng con biết rằng bản dịch của chúng con vẫn còn nhiều thiếu sót. Chúng con mong nhận được ý kiến đóng góp của Ðức Cha cũng như của quý Ðức Cha, quý Cha và cộng đồng Dân Chúa để bản dịch được hoàn chỉnh hơn.

Kính xin Ðức Cha chúc lành cho chúng con.

 

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 19-7-1993

Thay mặt ban Giáo Lý

Lm. Augustino Nguyễn văn Trinh

Lời giới thiệu của Giáo Quyền

 

LỜI GIỚI THIỆU

của Giáo Quyền Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh

*****

Chúng tôi vui mừng giới thiệu với toàn thể cộng đồng Dân Chuá Giáo phận bản dịch sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo. Ðức Cố Tổng Giám Mục Phao-lô Nguyễn văn Bình đã trao công việc này cho ban Giáo Lý Giáo Phận gồm một số linh mục, nữ tu và giaó dân tha thiết với công cuộc huấn giáo. Sau nhiều năm cố gắng, bản dịch đã được hoàn thành, và được điều chỉnh theo tài liệu "Corrigenda Concernant le Contenu du Texte (en Francais)" của Toà Thánh năm 1997; nay được chính quyền cho phép xuất bản, chúng tôi cám ơn nhóm phiên dịch đã đáp ứng nguyện vọng tha thiết của ngài.

Xin Chúa chúc lành cho những ai đã góp công góp sức hoàn thành bản dịch, cũng như những ai sẽ sử dụng bản dịch này để đào sâu Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo.

Tp HCM ngày 26 tháng 07 năm 1997

Aloisio Phạm văn Nẫm Giám Mục Phụ Tá

Chữ viết tắt

 

CHỮ VIẾT TẮT

 

I. KINH THÁNH

 

Ac

Ai-ca

Kg

Khác-gai

Am

A-mốt

Kh

Khải huyền

Br

Ba-rúc

Kn

Khôn ngoan

Cl

Cô-lô-xê

Lc

Lu-ca

Cn

Châm ngôn

Lv

Lê-vi

1Cr

1Cô-rin-tô

Mc

Mác-cô

2Cr

2Cô-rin-tô

1Mcb

Ma-ca-bê quyển I

Cv

Công vụ tông đồ

2Mcb

Ma-ca-bê quyển II

Dc

Diễm ca

Mk

Mi-kha

Dcr

Da-ca-ri-a

Ml

Ma-la-khi

Ds

Dân số

Mt

Mát-thêu

Dt

Do-thái

Nk

Na-khum

Ðn

Ða-ni-en

Nkm

Nơ-khe-mi-a

Ðnl

Ðệ- nhị-luật

Ôv

Ô-va-đi-a (Abđi-a)

Ed

Ê-dê-ki-en

Pl

Phi-líp-phê

Ep

Ê-phê-xô

Plm

Phi-le-môn

Er

Ét-ra

1Pr

1Phê-rô

Et

Ét-te

2Pr

2Phê-rô

G

Gióp

R

Rút

Ga

Gio-an

Rm

Rô-ma

1Ga

1Gio-an

1Sb

Sử biên niên quyển I

2Ga

2Gio-an

2Sb

Sử biên niên quyển II

3Ga

3Gio-an

1Sm

Sách Sa-mu-en quyển I

Gc

Gia-cô-bê

2Sm

Sách Sa-mu-en quyển II

Giu-đa

St

Sáng thế

Gđt

Giu-đi-tha

Tb

Tô-bi-a

Ge

Giô-en

Tl

Thủ lãnh

Gl

Ga-la

1Tm

1 Ti-mô-thê

Gn

Giô-na

 2Tm

2 Ti-mô-thê

Gr

Giê-rê-mi-a

Tt

Ti-tô

Gs

Giô-suê

 Tv

Thánh vịnh

Gv

Giảng viên

1Tx

1 Thê-xa-lô-ni-ca

Hc

Huấn ca

2Tx

2 Thê-xa-lô-ni-ca

Hs

Hô-sê

1V

Sách các Vua quyển I

Is

I-sai-a

2V

Sách các Vua quyển II

Kb

Kha-ba-cúc

Xh

Xuất hành

Xp

Xô-phô-ni-a

 

 

 

II. CÁC TÀI LIỆU KHÁC

 

AA

Apostolicam actuositatem

Sắc lệnh về Tông đồ giáo dân của Công đồng Va-ti-ca-nô II

AG

Ad gentes

Sắc lệnh về Hoạt động Truyền Giáo của Công đồng Va-ti-ca-nô II

Ben

De Benedictionibus

Sách các phép

CA

Centesimus annus

Thông điệp Năm thứ 100 của Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II

Cat. R

Catechismus Romanus

Sách Giáo Lý Rô-ma của Công đồng Tren-tô

CCEO

Corpus Canonum Ecclesiarum Orientalium

Bộ Giáo Luật các Giáo Hội Ðông Phương

CD

Christus Dominus

Sắc lệnh về Giám mục của Cđ Va-ti-ca-nô II

CDF

Congrégation pour la doctrine de la foi

Thánh bộ Giáo Lý Ðức Tin

CID

Codex Iuris Canonici

Bộ Giáo Luật

CL

Christifideles laici

Tông huấn Kitô hữu giáo dân của Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II

COD

Conciliorum oecumenicorum decreta

Các sắc lệnh Công đồng chung

CT

Catechesi tradendae

Tông huấn giảng dạy Giáo Lý của Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II

DCG

Directorium Catecheticum Generale

Sách hướng dẫn chung về Giáo Lý

DeV

Dominum et Vivificantem

Thông điệp Người là Chúa và Ðấng Ban sự sống của Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II.

DH

Dignitatis humanae

Tuyên ngôn về Tự do Tôn giáo của Công đồng Va-ti-ca-nô II

DM

Dives in misericordia

Thông điệp Thiên Chúa Giàu lòng Thương xót của Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II

DS

Denziger-Schonmetzer, Enchiridion Symbolorum, definitionum et declarationum de rebus fidei et morum

Tuyển tập các Tín Biểu, các Ðịnh Tín và tuyên bố về đức tin và luân lý.

DV

Dei Verbum

Hiến chế về Mặc Khải của Công đồng Va-ti-ca-nô II

EN

Evangelii nuntiandi

Tông huấn Loan Báo Tin Mừng của Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II

FC

Familiaris consortio

Tông huấn về gia đình của Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II

GE

Gravissimum educationis

Tuyên ngôn về Giáo dục kitô giáo của Công đồng Va-ti-ca-nô II

GS

Gaudium et spes

Hiến chế về Mục Vụ của Công đồng Va-ti-ca-nô II

HV

Humanae Vitae

Thông điệp Sự Sống Con Người của Ðức Thánh Cha Phao-lô VI

IGLH

Introductio generalis LH

Dẫn nhập tổng quát về Các Giờ Kinh Phụng Vụ

IGMR

Institutio generalis MR

Chỉ dẫn Tổng quát về Sách lễ Rô-ma

IM

Inter Mirifica

Sắc lệnh về Truyền thông xã hội của Công đồng Va-ti-ca-nô II

LE

Laborem exercens

Thông điệp về Lao động của Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II

LG

Lumen gentium

Hiến chế về Hội Thánh của Công đồng Va-ti-ca-nô II

LH

Liturgie des heures

Các giờ kinh Phụng vụ

MC

Marialis cultus

Tông huấn tôn kính Ðức Maria của Ðức Thánh Cha Phao-lô VI

MD

Mulieris dignitatem

Tông thư về phẩm giá phụ nữ của Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II

MF

Misterium Fidei

Thông điệp mầu nhiệm Ðức tin của Ðức Thánh Cha Phao-lô VI

MM

Mater et Magistra

Thông điệp Mẹ và Thầy của Ðức Thánh Cha Gio-an XXIII

MR

Missel Romain Sách lễ Rô-ma

 

NA

Nostra aetate

Tuyên ngôn về các tôn giáo ngoài KiTô giáo của công đồng Va-ti-ca-nô II

OBA Ordo baptismi adultorum Nghi thức Rửa tội người lớn

OBP

Ordo baptismi parvulorum

Nghi thức Rửa tội trẻ em

OCF

Ordo confirmationis

Nghi thức Thêm sức

OcM

Ordo celebrandi Matrimonium

Nghi thức Hôn phối

OCV

Ordo consecrationis virginum

Nghi thức Thánh hiến trinh nữ

OE

Orientalium ecclesiarum

Sắc lệnh về Giáo hội Ðông phương của Công đồng Va-ti-ca-nô II

OEx

Ordo exequiarum

Nghi thức An táng

Off. lect.

Office des lectures

Giờ kinh sách

OICA

Ordo initiationis christianae adultorum

Nghi thức Gia nhập Hội thánh cho người lớn

OP

Ordo poenitentiae

Nghi thức Giải tội

OT

Optatam totius

Sắc lệnh về đào tạo Linh mục của Công đồng Va-ti-ca-nô II

PC

Perfectae caritatis

Sắc lệnh về Canh tân Thích nghi Ðời tu của Công đồng Va-ti-ca-nô II

PO

Presbyterorum ordinis

Sắc lệnh về Ðời sống Linh Mục của Công đồng Va-ti-ca-nô II

PP

Populorum Progressio

Thông điệp Phát triển Các dân tộc của Ðức Thánh Cha Phao-lô VI

PT

Pacem in terris

Thông điệp Hòa bình trên trái đất của Ðức Thánh Cha Gio-an XXIII

RH

Redemptor hominis

Thông điệp Ðấng Cứu Chuộc con người của Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II

RM

Redemptoris Mater

Thông điệp Mẹ Ðấng cứu chuộc

RP

Reconciliatio et poenitentia

Tông huấn hòa giải và sám hối của Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II

SC

Sacrosanctum concilium

Hiến chế về Phụng vụ của Công đồng Va-ti-ca-nô II

SFP

Credo du peuple de Dieu : profession de foi solennelle

Kinh Tin Kính của Dân Chúa: bản tuyên xưng đức tin trọng thể của Ðức Thánh Cha Phao-lô VI

SRS

Sollicitudo rei socialis

Thông điệp Quan tâm đến Vấn đề Xã hội của Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II

UR

 Unitatis redintegratio

 Sắc lệnh về Hiệp nhất của Công đồng Va-ti-ca-nô II.

 

Tông Hiến Kho Tàng Đức Tin

TÔNG HIẾN KHO TÀNG ÐỨC TIN

***

CÔNG BỐ

QUYỂN GIÁO LÝ

HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

ÐƯỢC SOẠN THẢO

TIẾP SAU CÔNG ÐỒNG CHUNG VA-TI-CA-NÔ II

GIO-AN PHAO-LÔ, GIÁM MỤC, TÔI TỚ CÁC TÔI TỚ THIÊN CHÚA

ÐỂ GHI NHỚ MUÔN ÐỜI

 

Kính gởi các Hồng y, Tổng Giám Mục và Giám mục,

Linh mục và phó tế cùng mọi thành phần dân Chúa.

 

1. DẪN NHẬP

GÌN GIỮ KHO TÀNG ÐỨC TIN là sứ mạng Chúa đã trao phó cho Hội Thánh và Hội Thánh vẫn chu toàn trong mọi thời đại. Ðược vị tiền nhiệm đáng nhớ của tôi là Ðức Gio-an XXIII khai mạc cách đây 30 năm, công đồng chung Va-ti-ca-nô II đã có ý định và ước muốn làm nổi bật sứ mạng tông đồ và mục vụ của Hội Thánh, cũng như, nhờ chân lý Tin Mừng chiếu tỏa, dẫn đưa mọi người tìm kiếm và đón nhận điều quý trọng hơn hết mọi sự là tình yêu của Ðức Ki-tô (x . Ep 3, 19).

Dựa vào đó, Ðức Gio-an XXIII ấn định nhiệm vụ chính yếu của Công Ðồng là gìn giữ và giải thích tốt hơn kho tàng quý báu nền đạo lý ki-tô giáo, để giúp các kitô hữu cũng như mọi người thiện chí dễ tiếp thu hơn. Vì vậy, Công Ðồng không đặt nặng việc kết án các sai lạc của thời đại, nhưng ưu tiên cho việc nỗ lực bày tỏ một cách hồn nhiên sức mạnh và vẻ đẹp của đạo lý đức tin. Ngài nói : "Ðối với Hội Thánh, ánh sáng của Công Ðồng này sẽ... là một nguồn mạch phong phú thiêng liêng. Sau khi đã múc được ở đó những năng lực mới, Hội Thánh sẽ vững vàng nhìn vào tương lai ... Chúng ta vui vẻ và không sợ hãi khởi đầu công việc mà thời đại chúng ta đòi hỏi để tiếp tục con đường Hội Thánh đã đi từ gần 20 thế kỷ ... "

Nhờ Thiên Chúa giúp đỡ, qua 4 năm làm việc, các nghị phụ Công Ðồng đã đúc kết được một tổng lược chỉ đạo thích hợp trình bày đạo lý và những chỉ đạo mục vụ cho toàn thể Hội Thánh. Mục tử và tín hữu tìm được ở đây những đường hướng cho cuộc đổi mới suy nghĩ, hành động, phong hóa, sức mạnh tinh thần, niềm vui và hy vọng : đó chính là mục đích của Công đồng (Phao-lô VI, Diễn từ kết thúc Công Ðồng chung Va-ti-ca-nô II ngày 8/12/1965 : AAS 58(1966) trang 7-8).

Sau khi kết thúc, Công Ðồng không ngừng gợi hứng cho đời sống Hội Thánh. Năm 1985, tôi đã có thể tuyên bố : "Tôi đã được đặc ân tham dự và cộng tác tích cực vào tiến trình của Công đồng Va-ti-ca-nô II. Từ trước đến nay, và một cách đặc biệt trong những năm của nhiệm kỳ Giáo hoàng, Công Ðồng vẫn luôn luôn là điểm quy chiếu của mọi hoạt động mục vụ của tôi, trong nỗ lực có ý thức để những chỉ đạo của Công Ðồng thành áp dụng cụ thể và trung thành, ở bình diện mỗi Giáo Hội cũng như trong toàn thể Hội Thánh. Phải luôn luôn trở về với nguồn mạch ấy" (Diễn từ<179) ngày 30-5-1986 , số<131) 5:AAS 78(1986), trang 1273).

Trong tinh thần ấy, ngày 25. 1. 1985, tôi đã triệu tập một hội nghị bất thường của Thượng Hội Ðồng Giám Mục, nhân dịp kỷ niệm 20 năm Công Ðồng kết thúc. Mục đích của hội nghị là tạ ơn Thiên Chúa về các ân huệ và hoa trái thiêng liêng của Công Ðồng Va-ti-ca-nô II, đào sâu nhằm gắn bó hơn với giáo huấn của Công Ðồng, và giúp cho mọi người hiểu biết và áp dụng các giáo huấn ấy tích cực hơn.

Nhân dịp này, các nghị phụ của Thượng Hội Ðồng đã bày tỏ ước nguyện "soạn thảo một quyển giáo lý hay yếu lược toàn bộ đạo lý công giáo cả về đức tin và luân lý, để làm bản văn tham khảo cho các sách giáo lý hay yếu lược trong các quốc gia. Việc trình bày đạo lý phải có tính cách Kinh Thánh và Phụng vụ, diễn đạt một đạo lý chắc chắn và đồng thời thích nghi với đời sống hiện nay của các Ki-tô hữu" (Báo cáo tổng kết của Thượng Hội Ðồng bất thường ngày 7/12/1985, II, B, a số 4: Enchiridion Vaticanum, tập 9, trang 1758, số 1797). Ngay khi Thượng Hội Ðồng kết thúc, tôi đã theo ý kiến ấy vì nó "đáp ứng hoàn toàn một nhu cầu thực sự của Hội Thánh toàn cầu cũng như của các Giáo Hội địa phương" (Diển văn bế mạc của Thượng Hội Ðồng bất thường ngày 7/12/1985 số 6: AAS 78 (1986) trang. 435).

Hôm nay chúng tôi hết lòng tạ ơn Thiên Chúa, vì chúng tôi có thể giới thiệu cho toàn thể Hội Thánh quyển Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo này. Ðây là bản văn tham khảo để canh tân huấn giáo theo các nguồn mạch sống động của đức tin.

Sau việc canh tân phụng vụ và soạn thảo bộ Giáo Luật mới cho Giáo Hội La-tinh và các khoản luật cho các Giáo Hội Ðông Phương Công Giáo, quyển giáo lý này sẽ góp phần rất quan trọng vào công cuộc đổi mới toàn bộ đời sống Hội Thánh, như Công Ðồng Va-ti-ca-nô II mong muốn và đã khởi sự.

 

2. NHỮNG CHẶNG ÐƯỜNG VÀ TINH THẦN CHUẨN BỊ BẢN VĂN

Quyển Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo là kết quả của một sự cộng tác rộng rãi của 6 năm làm việc khẩn trương trong tinh thần chăm chú cởi mở và với một nhiệt tâm nồng cháy.

Năm 1986, tôi uỷ thác nhiệm vụ dự thảo một quyển giáo lý theo yêu cầu của các nghị phụ Thượng Hội Ðồng cho một ủy ban gồm 12 Hồng Y và Giám Mục, do Hồng y Giuse Ratzinger làm chủ nhiệm. Tiểu ban biên tập gồm 7 Giám mục giáo phận, những chuyên viên thần học và huấn giáo, đã giúp ủy ban trong công việc này.

Với nhiệm vụ đề ra những chỉ đạo và giám sát tiến trình công việc, ủy ban đã chăm chú theo dõi tất cả các giai đoạn biên tập 9 bản văn nối tiếp nhau. Về phần mình, tiểu ban biên tập đảm nhận nhiệm vụ viết bản văn, sửa đổi theo yêu cầu của ủy ban và nghiên cứu những nhận xét của nhiều nhà thần học, nhà chú giải, huấn giáo, nhất là của các Giám mục trên toàn thế giới nhằm hoàn chỉnh bản văn. Nhờ tiểu ban đó, chúng ta đã có được những trao đổi hiệu quả và phong phú, bảo đảm cho bản văn được thống nhất và đồng bộ.

Bản dự thảo đã được gởi đến các Giám Mục Công Giáo, các Hội Ðồng Giám Mục hay Thượng Hội Ðồng, các viện Thần Học và Huấn Giáo để tham khảo ý kiến. Nói chung, bản dự thảo đã được hàng Giám Mục tiếp nhận rất thuận lợi. Người ta có quyền nói quyển giáo lý này là kết quả sự cộng tác của toàn thể hàng Giám Mục Hội Thánh Công Giáo. Các ngài đã quảng đại đáp lại lời tôi mời gọi, nhận phần trách nhiệm của mình trong sáng kiến chung ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống Hội Thánh. Việc các giám mục hưởng ứng làm cho tôi rất vui mừng, bấy nhiêu tiếng nói đã tạo nên bản "giao hưởng đức tin" nầy. Việc thực hiện quyển Giáo Lý cho thấy tính tập đoàn của hàng giám mục : đó là tính công giáo của Hội Thánh.

 

3. PHÂN CHIA ÐỀ MỤC

Sách giáo lý phải trình bày một cách trung thành và có hệ thống giáo huấn của Thánh Kinh, Truyền thống sống động trong Hội Thánh và Huấn Quyền đích thực, cũng như gia sản thiêng liêng của các Giáo Phụ, các thánh nam nữ của Hội Thánh, để có thể giúp người ta hiểu biết hơn về Mầu nhiệm Ki-tô giáo và làm sinh động đức tin của dân Thiên Chúa. Sách giáo lý phải lưu ý đến những minh định về đạo lý mà Chúa Thánh Thần đã khơi dậy trong Hội Thánh qua các thời đại. Sách giáo lý cũng phải giúp chúng ta dùng ánh sáng đức tin soi sáng những hoàn cảnh mới và những vấn đề chưa được đặt ra trong quá khứ .

Quyển Giáo Lý này cũng sẽ gồm cả những điều mới và điều cũ, vì đức tin vừa không thay đổi vừa là nguồn mạch của những ánh sáng mới (Mt 13, 52).

Ðể đáp ứng hai đòi hỏi ấy, quyển Giáo lý Hội Thánh Công Giáo lấy lại thứ tự "cũ", đã trở thành truyền thống mà cuốn Giáo lý của Thánh Pi-ô V đã theo, khi chia nội dung thành 4 phần : Kinh Tin Kính; Phụng Vụ, đặc biệt là các bí tích; Luân Lý Ki-tô giáo, được trình bày dựa trên các giới răn; cuối cùng là Kinh Nguyện của Ki-tô hữu. Mặt khác, nội dung phải được trình bày một cách "mới" để đáp ứng những câu hỏi của thời đại.

Bốn phần được nối kết với nhau : Mầu nhiệm ki-tô giáo là đối tượng của đức tin (phần I); mầu nhiệm ấy được mừng kính và thông truyền trong các lễ nghi phụng vụ (phần II); mầu nhiệm ấy hiện diện để soi sáng và nâng đỡ con cái Thiên Chúa trong đời sống luân lý (phần III); mầu nhiệm ấy đặt nền móng cho kinh nguyện được diễn tả đặc biệt qua kinh "Lạy Cha" và là nội dung cho lời cầu xin, ca ngợi và chuyển cầu của chúng ta (phần IV).

Chính Phụng Vụ cũng là kinh nguyện: Việc tuyên xưng đức tin có chỗ thích đáng trong việc cử hành phụng tự. Ân sủng, hoa trái của các bí tích, là điều kiện không gì thay thế được trong đời sống luân lý Ki-tô giáo, cũng như đức tin là điều kiện để tham dự phụng vụ của Hội Thánh. Nếu đức tin không được triển khai bằng việc làm, đó là đức tin chết (x. Gcb 2, 14-26) và không thể đem lại hoa quả cho đời sống vĩnh cửu.

Ðọc quyển Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, chúng ta thấy được sự thống nhất đáng phục của mầu nhiệm Thiên Chúa, của ý định cứu độ của Người, cũng như vị trí trung tâm của Ðức Ki-tô, Con Một Thiên Chúa, được Chúa Cha cử đến làm người trong lòng Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a rất thánh, nhờ Chúa Thánh Thần, để làm Ðấng Cứu độ chúng ta. Người đã chết và sống lại nhưng vẫn luôn hiện diện trong Hội Thánh, đặc biệt trong các bí tích. Người là nguồn mạch đức tin, mẫu mực cho đời sống luân lý Ki-tô giáo và Thầy dạy chúng ta cầu nguyện.

 

4. GIÁ TRỊ ÐẠO LÝ CỦA BẢN VĂN

Ngày 25. 6. 1992, tôi đã phê chuẩn và hôm nay tôi nhân danh quyền tông đồ ra lệnh phổ biến quyển Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo này. Ðây là bản trình bày đức tin Hội Thánh và đạo lý Công Giáo, được Thánh Kinh cũng như truyền thống tông đồ và huấn quyền Hội Thánh xác nhận và soi sáng. Tôi coi đây là một phương tiện có gía trị và có thẩm quyền để giúp Hội Thánh được hiệp thông và là một khuôn mẫu chắc chắn cho việc giảng dạy đức tin. Ước mong quyển sách này giúp đẩy mạnh công cuộc canh tân mà Chúa Thánh Thần không ngừng kêu gọi Hội Thánh của Thiên Chúa, Thân Thể Ðức Ki-tô, đang trên đường lữ hành về với ánh sáng rực rỡ của Nước Trời.

Khi phê chuẩn và phổ biến quyển Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, người kế nhiệm Thánh Phê-rô muốn phục vụ Hội Thánh, để cũng như tất cả các giáo hội địa phương đang hòa hợp và hiệp thông với tông tòa Rô-ma : đó là nâng đỡ và củng cố đức tin các môn đệ Chúa Giê-su (x. Lc 22, 32), cũng như tăng cường các mối dây hiệp nhất trong cùng một đức tin tông truyền.

Vì vậy, tôi xin các mục tử của Hội Thánh cũng như các tín hữu đón nhận quyển Giáo lý này trong tinh thần hiệp thông và năng sử dụng trong việc chu toàn sứ mạng loan báo đức tin và kêu gọi con người sống theo Tin Mừng. Quyển Giáo Lý này được trao cho họ để làm bản tham chiếu chắc chắn và trung thực cho việc giảng dạy đạo lý công giáo, và một cách rất đặc biệt cho việc soạn những sách giáo lý địa phương. Quyển sách này cũng được trao đến các tín hữu ước muốn hiểu biết hơn về những phong phú khôn lường của ơn cứu độ (x. Ga 8, 32). Quyển sách này muốn nâng đỡ những nỗ lực đại kết, do ước muốn thánh thiện tác động, để hiệp nhất tất cả các kitô hữu, bằng cách cho thấy một cách chính xác nội dung và sự mạch lạc hài hoà của đức tin công giáo.

Cuối cùng quyển Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo được trao cho bất kỳ ai thắc mắc về niềm hy vọng nơi chúng ta (x. 1Pr 3, 15) và muốn biết Hội Thánh Công Giáo tin gì. Quyển Giáo Lý này không có ý định thay thế các sách giáo lý địa phương được phê chuẩn do giáo quyền, các Giám mục giáo phận và các Hội Ðồng Giám Mục, nhất là nếu được Tòa Thánh phê chuẩn. Quyển sách này có ý khích lệ và giúp đỡ việc soạn thảo những sách giáo lý mới ở từng địa phương theo những hoàn cảnh và văn hóa khác nhau, nhưng vẫn lưu tâm gìn giữ sự hiệp nhất trong đức tin và lòng trung thành với đạo lý công giáo.

 

5. KẾT

Ðể kết thúc văn kiện giới thiệu quyển Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, tôi cầu xin Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a Rất Thánh, Mẹ Ngôi Lời Nhập Thể và Mẹ Hội Thánh, dùng lời chuyển cầu đầy quyền năng của Mẹ, mà nâng đỡ công việc huấn giáo của toàn thể Hội Thánh trên mọi cấp độ, trong giai đoạn này, khi Hội Thánh được mời gọi có một nỗ lực mới cho việc Phúc Âm hóa nhân loại. Xin cho ánh sáng đức tin chân thật giải thoát nhân loại khỏi cảnh u tối và nô lệ của tội lỗi, để dẫn đưa họ đến sự tự do duy nhất xứng đáng với danh nghĩa ấy (x. Ga 8, 32) : đó là sự sống trong Ðức Giê-su Ki-tô, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, ở đời này và trong Nước Trời, trong sự sung mãn của hạnh phúc được thấy Thiên Chúa nhãn tiền (x. 1Cr 13, 12; 2Cr 5, 6-8).

 

Ban hành ngày 11. 10. 1992, nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày khai mạc Công Ðồng Va-ti-ca-nô II, năm thứ 14 nhiệm kỳ giáo hoàng của tôi.

GIO-AN PHAO-LÔ II

Lời mở đầu

 

LỜI MỞ ÐẦU

 

"Lạy Cha... sự sống đời đời, chính là (họ) nhận biết Cha, Ðấ ng duy nhất là Thiên Chúa thật, và nhận biết Ðấng Cha đã sai đến, là Ðức Giê-su Ki-tô" (Ga 17, 3) "Thiên Chúa, Ðấng Cứu Ðộ chúng ta, ... muốn cho mọi người được cứu và nhận biết chân lý" (1Tm 2, 3-4). "Ngoài danh Ðức Giê-su, dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mới được cứu độ" (Cv 4, 12)

 

I. SỰ SỐNG CON NGƯỜI - NHẬN BIẾT VÀ YÊU MẾN THIÊN CHÚA

 

1

 

Thiên Chúa là Ðấng Toàn Thiện và Hạnh Phúc khôn lường. Theo ý định nhân hậu, Người đã tự ý tạo dựng con người, để họ được thông phần sự sống vĩnh phúc. Do đó, Người đã đến với con người. Thiên Chúa kêu gọi con người, giúp họ tìm kiếm, nhận biết và đem hết tâm lực yêu mến Người. Thiên Chúa triệu tập mọi người đã bị tội lỗi phân tán để hợp nhất thành gia đình của Người là Hội Thánh. Ðể thực hiện điều này, khi tới thời viên mãn, Người đã cử Chúa Con đến làm Ðấng chuộc tội và cứu độ. Trong và nhờ Người Con ấy, Thiên Chúa kêu gọi loài người trở nên nghĩa tử trong Chúa Thánh Thần, và do đó, được thừa kế đời sống hạnh phúc của Người.

 

2

 

Ðể cho tiếng gọi ấy vang lên trong toàn cõi địa cầu, Ðức Ki-tô đã sai phái các tông đồ do Người tuyển chọn, trao cho các ông nhiệm vụ loan báo Tin Mừng : "Hãy đi, và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28, 19-20). Vững tin vào sứ mạng ấy, các tông đồ ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cộng tác với các ông và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng (Mc 16, 20).

 

3

 

Những ai đã nhờ ơn Chúa giúp đón nhận lời kêu gọi của Ðức Ki-tô và tự nguyện đáp ứng, cũng được tình yêu Ðức Ki-tô thúc đẩy đi loan báo Tin Mừng khắp nơi trên thế giới. Kho tàng đã được lãnh nhận từ các tông đồ này đã được các người kế nhiệm bảo toàn một cách trung tín. Mọi ki-tô hữu cũng được kêu gọi truyền đạt kho tàng ấy từ thế hệ này đến thế hệ khác, bằng lời rao giảng đức tin, bằng cách sống đức tin trong tình chia sẻ huynh đệ, và diễn tả đức tin đó trong phụng vụ và kinh nguyện ( Cv 2, 42).

 

II. TRUYỀN ÐẠT ÐỨC TIN _ VIỆC HUẤN GIÁO

 

4

 

Ngay từ thời Hội Thánh sơ khai, thuật ngữ "huấn giáo" được dùng để gọi toàn bộ các nỗ lực được huy động trong Hội Thánh để đào tạo môn đệ, để giúp con người tin Ðức Giê-su là Con Thiên Chúa, hầu nhờ đức tin , họ được sống nhân danh Người, để giáo dục và chỉ dẫn họ trong cuộc sống đời này, và như thế, xây dựng Thân Thể Ðức Ki-tô(CT 1; 2)

 

5

 

"Huấn giáo là giáo dục đức tin cho trẻ em, thanh niên và người lớn, gồm đặc biệt là việc giảng dạy giáo lý Ki-tô giáo một cách có tổ chức và hệ thống, nhằm khai tâm họ vào cuộc sống ki-tô hữu sung mãn"(CT 18).

6

 

Trong sứ mạng mục vụ của Hội Thánh, có một số yếu tố liên hệ đến huấn giáo, chuẩn bị cho huấn giáo hoặc bắt nguồn từ huấn giáo, như: loan báo Tin Mừng sơ khởi tức là rao giảng của vị thừa sai để khơi dậy đức tin; nghiên cứu những lý lẽ để biện minh cho đức tin; sống tích cực đời ki-tô hữu, cử hành các bí tích, hội nhập vào cộng đoàn Hội Thánh, làm chứng bằng hoạt động tông đồ và truyền giáo. Dù không lẫn lộn, nhưng huấn giáo vẫn đi đôi với những yếu tố này... ( CT 18 )

 

7

 

"Huấn giáo liên kết mật thiết với toàn bộ đời sống của Hội Thánh. Chính nhờ Huấn giáo, Hội Thánh không những phát triển về địa dư và số lượng mà nhất là sự tăng trưởng bên trong và đáp ứng ý định cứu độ của Thiên Chúa"(CT 13)

 

8

 

Những thời kỳ Hội Thánh được canh tân cũng là những thời điểm nổi bật về huấn giáo. Thực vậy, vào thời các giáo phụ, người ta thấy có những vị thánh Giám Mục dành một phần quan trọng của thừa tác vụ cho huấn giáo. Ðó là các thánh Sy-ri-lô Giám mục Giê-ru-sa-lem và Gio-an Kim Khẩu, Am-rô-xi-ô và Âu-Tinh, cùng với nhiều giáo phụ khác. Các ngài đã để lại những tác phẩm huấn giáo mẫu mực

 

9

Huấn giáo luôn nhận được nguồn năng lực mới từ các Công Ðồng. Về phương diện nầy, Công đồng Tren-tô là một gương mẫu phải nêu lên : Các hiến chế và sắc lệnh của Công Ðồng này đã đưa huấn giáo lên hàng ưu tiên; Công Ðồng đã khơi nguồn cho quyển Giáo Lý Rô-ma là một tác phẩm hàng đầu của loại sách yếu lược trình bày giáo lý Ki-tô giáo; Công Ðồng đã khích lệ việc tổ chức dạy và học giáo lý và đã thúc đẩy việc phát hành nhiều bộ sách giáo lý nhờ những đóng góp của các Giám mục, các nhà thần học thánh thiện như : Thánh Phê-rô Ca-ni-xi-ô; Ca-rô-lô Bô- rô-mê-ô; Tô-ri-bi-ô thành Mô-giô-vê-rô, Rô-be-tô Bê-la-mi-nô.

 

10

 

Vì thế, không lạ gì sau Công Ðồng Va-ti-ca-nô II, nhiều người lại chú ý đến huấn giáo. Các văn kiện Toà Thánh cho thấy rõ điều nầy: - Chỉ thị đại cương về huấn giáo - (1971) - Các khóa họp Thượng hội đồng Giám mục về Phúc Âm Hoá - (1974) và về huấn giáo (1977 ) - Các tông huấn "Rao Giảng Tin Mừng"- (1975) và "Giảng Dạy Giáo Lý" (1979). Khóa họp bất thường Thượng hội đồng Giám mục năm 1985 xin "cho soạn ra một quyển sách giáo lý hoặc một toát yếu thu gọn toàn bộ đạo lý công giáo về mặt đức tin cũng như luân lý" (Bài báo cáo chung kết II B 4. ). Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II đã coi ước nguyện của Thượng Hội Ðồng Giám Mục như ước nguyện của chính mình, khi nhìn nhận rằng: "Niềm mong ước đó hoàn toàn đáp ứng một nhu cầu thiết thực của Hội Thánh toàn cầu và của các Giáo Hội địa phương" (Diễn từ 7-12-1985). Ngài đã huy động tất cả để thực hiện niềm mong ước đó của các nghị phụ.

 

III. QUYỂN GIÁO LÝ NÀY ÐƯỢC VIẾT VỚI MỤC ÐÍCH GÌ? CHO AI ?

 

11

 

Mục tiêu của bộ sách giáo lý này là trình bày một cách có tổ chức và tổng hợp những nội dung cốt yếu và căn bản của đạo lý công giáo về mặt đức tin cũng như luân lý, dưới ánh sáng Công Ðồng Va-ti-ca-nô II và toàn bộ Thánh Truyền. Nguồn tư liệu chính của bộ sách là Thánh Kinh, các giáo phụ, phụng vụ và huấn quyền của Hội Thánh. Sách được dùng "như bản quy chiếu cho các sách giáo lý cũng như toát yếu được soạn ra trong các nước " (THÐGM 1985).

 

12

 

Quyển sách này chủ yếu được dành cho các vị phụ trách huấn giáo: đứng đầu là các Giám mục, với tư cách Thầy dạy đức tin và mục tử trong Hội Thánh. Sách được cung cấp cho các ngài như dụng cụ chu toàn trọng trách dạy dỗ Dân Chúa. Qua các ngài, sách đến tay các người soạn giáo lý, các linh mục và giáo lý viên. Mọi tín hữu khác cũng sẽ đọc được trong đó nhiều điều bổ ích.

 

IV. BỐ CỤC CỦA QUYỂN GIÁO LÝ

 

13

 

Bố cục sách dựa theo truyền thống cổ điển của các sách giáo lý, được soạn xoay quanh bốn trục chính : việc tuyên xưng đức tin trong bí tích Thánh Tẩy (kinh Tin Kính), các bí tích, đời sống đức tin (các điều răn), và kinh nguyện của người tín hữu (kinh Lạy Cha)

 

Phần Thứ Nhất : Tuyên Xưng Ðức Tin

 

14

 

Những ai thuộc về Ðức Ki-tô nhờ đức tin và phép rửa, phải tuyên xưng đức tin trước mặt mọi người (Mt 10, 32; Rm 10, 9). Nhằm mục đích ấy, quyển Giáo Lý này trước hết trình bày nội dung của mặc khải và đức tin : với Mặc Khải, Thiên Chúa ngỏ lời và ban chính mình cho con người; nhờ đức tin con người đáp lời Thiên Chúa (đoạn 1). Kinh Tin Kính tóm lược những hồng ân mà Thiên Chúa ban cho con người, vì Người là Tác Giả mọi điều thiện hảo, là Ðấng Cứu Chuộc, là Ðấng Thánh Hoá. Các tư tưởng trên xoay quanh "ba điều" tuyên xưng trong bí tích Thánh Tẩy : - Tin một Thiên Chúa duy nhất: Chúa Cha toàn năng, Ðấng Sáng Tạo; - Tin Ðức Giê-su Ki-tô là Con của Người, là Ðức Chúa và là Ðấng cứu độ chúng ta; - và tin Chúa Thánh Thần trong Hội Thánh (đoạn 2)

 

Phần thứ hai: Các bí tích đức tin

 

15

 

Phần thứ hai trình bày ơn cứu độ, đã được Ðức Giê-su Ki-tô và Chúa Thánh Thần thực hiện một lần dứt khoát, nay thực hiện như thế nào trong các hành động thánh thiêng của phụng vụ Hội Thánh (đoạn 1), đặc biệt trong bảy bí tích (đoạn 2).

 

Phần thứ ba: Ðời sống đức tin

 

16

 

Phần thứ ba trình bày cùng đích tối hậu của con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa là để được hưởng hạnh phúc, và nêu lên những con đường đưa đến hạnh phúc: - sống ngay thẳng và tự do nhờ lề luật và ân sủng của Chúa (đoạn 1) ; - bằng cách thực thi hai mệnh lệnh "mến Chúa, yêu người" được triển khai trong Mười Ðiều Răn của Thiên Chúa (đoạn 2).

 

Phần thứ tư: Kinh nguyện trong đời sống đức tin

 

17

 

Phần cuối cùng nói về ý nghĩa và tầm quan trọng của kinh nguyện trong đời sống các tín hữu (đoạn 1), kết thúc với một giải thích ngắn về bảy lời nguyện xin trong kinh Lạy Cha (đoạn 2). Trong các lời nguyện xin này, chúng ta gặp được toàn bộ ơn lành mà con người mong đợi và Cha trên trời hằng muốn ban cho chúng ta.

 

V. NHỮNG CHỈ DẪN THỰC TIỄN CHO VIỆC SỬ DỤNG SÁCH NÀY

 

18

 

Chúng tôi quan niệm sách này như một bản trình bày có hệ thống về toàn bộ đức tin công giáo. Vậy phải đọc sách này như một khối thống nhất . Nhiều chỉ dẫn được ghi ngoài lề bản văn (số nghiêng, chỉ những đoạn khác cùng một đề tài) và bảng tra theo chủ đề được đặt ở cuối sách, cho thấy rõ mỗi chủ đề trong liên hệ với toàn bộ nội dung đức tin.

 

19

 

Thường các bản văn Thánh Kinh không được trích nguyên văn, nhưng chỉ ghi xuất xứ (với "x") ở cước chú. Ðể hiểu nghĩa đoạn văn ấy sâu xa hơn, nên tra chính các bản văn đó. Các tham chiếu Thánh Kinh này rất hũu ích cho huấn giáo.

 

20

 

Những đoạn in chữ nhỏ là những ghi chú thuộc loại sử học, hộ giáo hoặc là những bài tường trình tín lý bổ sung.

 

21

 

Các đoạn trích dẫn in chữ nhỏ, lấy từ những văn kiện các giáo phụ, phụng vụ, tông huấn hoặc hạnh các thánh, được dùng để giúp bản văn tín lý thêm phong phú. Thường những bản văn ấy được chọn nhằm sử dụng trực tiếp trong Huấn giáo.

 

22

 

Cuối mỗi mục, có một số câu ngắn tóm lược cốt lõi của bài học. Những câu "TÓM LƯỢC" ấy nhằm đề xuất những công thức tổng hợp và dễ nhớ giúp việc huấn giáo ở các địa phương.

 

VI. NHỮNG THÍCH NGHI CẦN THIẾT

 

23

 

Sách này nhấn mạnh đến phần trình bày đạo lý. Thật vậy, chúng tôi muốn giúp độc giả hiểu sâu rộng về đức tin, nhờ đó, đức tin được trưởng thành, đâm rễ vào cuộc sống và tỏa sáng thành lời chứng (CT 20-22; 25).

 

24

 

Chính vì nhắm mục đích này, chúng tôi không có ý định thực hiện những thích nghi trong cách trình bày giáo lý cũng như những phương pháp huấn giáo theo những đòi hỏi do khác biệt về văn hóa, tuổi tác, mức trưởng thành tinh thần, hoàn cảnh xã hội và Giáo Hội... của những người học giáo lý. Việc thích nghi cần thiết ấy là trách nhiệm của những người soạn sách giáo lý chuyên biệt, và nhất là của những vị giảng dạy. Người giảng dạy phải "trở nên tất cả cho mọi người" (1Cr 9, 22), để chinh phục mọi người cho Ðức Giê-su Ki-tô... , đừng tưởng rằng chỉ có một hạng người duy nhất được giao cho mình, vì thế có thể tùy tiện giảng dạy và huấn luyện mọi người tín hữu như nhau theo cùng một phương pháp duy nhất, bất di bất dịch. Phải nhớ rằng, trong Ðức Giê-su Ki-tô, có người như trẻ sơ sinh, có người như thiếu niên, những người khác như đã trưởng thành ... Khi truyền đạt các mầu nhiệm đức tin và các qui luật sống, người giảng dạy phải thích nghi với tinh thần và trí hiểu của người nghe ( Giáo lý Rô-ma, lời tựa 11).

 

KẾT: TRÊN HẾT MỌI SỰ LÀ ÐỨC ÁI

 

25

 

Ðể kết thúc phần trình bày này, thiết tưởng nên nhắc lại nguyên tắc mục vụ đã được quyển Giáo Lý Rô-ma nêu ra :

 

Tất cả mục đích của giáo lý và lời giảng dạy phải được đặt trong Tình Yêu vĩnh cửu. Dù có thể trình bày thật khéo léo điều phải tin, cậy hay làm, nhưng điều chính yếu là phải làm nổi bật lòng yêu mến Chúa, để mọi người hiểu rằng mọi hành vi tốt theo đúng nghĩa Kitô giáo không có nguồn gốc nào khác ngoài Tình Yêu và không có cùng đích nào khác ngoài Tình Yêu.

 

Phần I - Đoạn I - Chương I

 

PHẦN THỨ NHẤT

TUYÊN XƯNG ÐỨC TIN

 

Một phần bích họa ở hầm mộ thánh Priscilla tại Rô-ma, đầu thế kỷ III. Ảnh Ðức Mẹ cổ xưa nhất.

Trong số các hình ảnh cổ xưa nhất của nghệ thuật Ki-tô giáo, bức ảnh này nêu lên chủ đề cốt lõi của đức tin Ki-tô giáo: mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa được sinh làm con Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a.

Bên trái, hình dáng một người đưa tay chỉ một ngôi sao ở phía trên Ðức Trinh Nữ bồng con : một vị ngôn sứ, có lẽ là ông Ba-la-am, báo tin "một vì sao xuất hiện từ Gia-cóp sẽ lên cai trị" (Ds 24, 17). Ðó là tất cả niềm mong đợi của thời Giao Ước Cũ, và tiếng kêu cứu của loài người sa ngã (x. 27, 528).

Lời tiên báo đó được ứng nghiệm khi Ðức Giê-su ra đời. Con Thiên Chúa làm người do quyền năng Chúa Thánh Thần, sinh làm con Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a (x. 27, 53, 422, 488). Ðức Ma-ri-a sinh hạ và trao ban Người cho nhân loại. Như vậy, Ðức Ma-ri-a là hình ảnh tinh tuyền nhất của Hội Thánh (x. 967).

 

ÐOẠN THỨ NHẤT

" TÔI TIN " - " CHÚNG TÔI TIN "

 

26

 

Khi tuyên xưng đức tin, chúng ta khởi đầu thế này : "tôi tin" hoặc "chúng tôi tin". Vậy trước khi trình bày đức tin của Hội Thánh, được tuyên xưng trong kinh Tin Kính, diễn đạt trong phụng vụ, thể hiện trong việc thực hành các Ðiều Răn và trong kinh nguyện, chúng ta hãy tự hỏi xem "tin" nghĩa là gì. Ðức tin là lời con người đáp trả lại Thiên Chúa, Ðấng tự mặc khải và hiến mình cho con người, khi ban ánh sáng chứa chan cho con người đang đi tìm ý nghĩa tối hậu của đời mình. Do đó, trước hết chúng ta sẽ bàn về cuộc tìm kiếm của con người (chương một), kế đến bàn về Mặc Khải của Thiên Chúa, qua đó, Thiên Chúa đi bước trước để tỏ mình cho con người (chương hai), và cuối cùng, là lời con người đáp trả trong đức tin (chương ba).

 

CHƯƠNG MỘT

CON NGƯỜI "CÓ KHẢ NĂNG" ÐÓN NHẬN THIÊN CHÚA

 

I - CON NGƯỜI KHAO KHÁT THIÊN CHÚA

 

27 355, 1701 1718

 

Tận đáy lòng, con người khao khát Thiên Chúa vì con người được tạo dựng do Thiên Chúa và cho Thiên Chúa. Thiên Chúa không ngừng lôi kéo con người đến với mình, và chỉ nơi Thiên Chúa, con người mới tìm gặp chân lý và hạnh phúc mà họ không ngừng tìm kiếm.

 

Ý nghĩa cao cả nhất của phẩm giá con người là con người được kêu gọi tới kết hiệp với Thiên Chúa. Ngay từ lúc mới sinh ra, con người đã được mời gọi đối thoại với Thiên Chúa : thực thế, sở dĩ con người hiện hữu là do Thiên Chúa đã vì yêu thương mà tạo dựng con người, và cũng vì yêu thương mà luôn luôn bảo tồn con người; và con người chỉ sống hoàn toàn theo chân lý một khi tự ý nhìn nhận tình yêu ấy và phó thác đời mình cho Ðấng tạo dựng mình (GS 19, 1).

28 843, 2566 2095-2109

 

Trong lịch sử loài người và cho tới ngày nay, loài người đã diễn đạt việc tìm kiếm Thiên Chúa bằng nhiều cách qua các tín ngưỡng và các thái độ tôn giáo (cầu khẩn, cúng tế, tịnh niệm, phụng tự, v. v... ). Mặc dù có khi còn mơ hồ bất minh, những hình thức này quá phổ biến, đến nổi có thể gọi con người là một hữu thể tôn giáo :

 

Từ một người, Thiên Chúa đã tạo thành toàn thể nhân loại, để họ ở trên khắp mặt đất. Người đã vạch ra những thời kỳ nhất định cho các dân tộc và những ranh giới cho nơi ở của họ. Như vậy là để họ tìm kiếm Thiên Chúa; may ra họ dò dẫm mà tìm thấy Người, tuy rằng thực sự Người không ở xa mỗi người chúng ta. Thật vậy, chính ở nơi Người mà chúng ta sống, chúng ta cử động và chúng ta có (Cv 17, 26-28).

 

29 2123-2128 398

 

Nhưng "mối tương quan thân thiết và sống còn giữa con người với Thiên Chúa"(GS 19, 1), có thể bị lãng quên, không biết tới và còn bị minh nhiên chối từ. Những thái độ như thế có thể do nhiều nguyên nhân (GS 19-21) : nổi loạn trước sự dữ trên thế giới, vô tri hoặc thờ ơ về tôn giáo, lo toan về thế gian và tiền của( Mt 13, 22), gương xấu của các tín hữu, những trào lưu tư tưởng nghịch tôn giáo, cuối cùng là thái độ của con người tội lỗi, vì sợ sệt mà trốn tránh Thiên Chúa ( St 3, 8-10) và tiếng gọi của Người (Gn 1, 3).

 

30 2567, 845 368

 

"Hạnh phúc thay những tâm hồn tìm kiếm Thiên Chúa" (Tv 105, 3). Cho dù con người có thể quên lãng hay chối từ Thiên Chúa, Thiên Chúa vẫn không ngừng kêu gọi mỗi người tìm kiếm Người để được sống và được hạnh phúc. Nhưng sự tìm kiếm này đòi hỏi con người vận dụng tất cả trí tuệ, ý chí chính trực, "một lòng ngay thẳng", và phải có cả chứng từ của người khác hướng dẫn họ kiếm tìm Thiên Chúa.

 

Lạy Chúa, Chúa cao cả và đáng muôn lời ca ngợi: quyền năng Chúa lớn lao và trí tuệ Chúa khôn lường. Và con người, một phần nhỏ bé của muôn loài Chúa đã tạo nên, lại dám nghĩ có thể ca ngợi Chúa ; mặc dù chính con người đó, với số kiếp phù du, mang nơi mình tang chứng của tội lỗi và dấu chứng Chúa chống lại kẻ kiêu căng. Dù sao, con người, phần nhỏ bé của muôn loài Chúa đã tạo nên, muốn ca ngợi Chúa. Chính Chúa thúc giục con người làm như vậy, khi cho họ tìm được sướng vui trong lời ngợi khen Chúa, vì Chúa đã tạo dựng chúng con cho Chúa, và lòng chúng con vẫn khắc khoải bao lâu chưa được nghỉ ngơi trong Chúa (Th. Âu-tinh, tự thuật 1. 1, 1).

 

II. NHỮNG CON ÐƯỜNG GIÚP CON NGƯỜI NHẬN BIẾT THIÊN CHÚA

 

31

 

Ðược tạo nên theo hình ảnh Thiên Chúa, được mời gọi nhận biết và yêu mến Thiên Chúa, người tìm Thiên Chúa sẽ khám phá ra một số "con đường" giúp nhận biết Người. Những con đường này còn được gọi là "bằng chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa", không theo nghĩa bằng chứng khoa học tự nhiên, nhưng theo nghĩa những "luận cứ đồng qui và có sức thuyết phục", giúp con người biết chắc có Thiên Chúa.

 

Những "con đường" đến với Thiên Chúa xuất phát từ thụ tạo : thế giới vật chất và con người.

 

32 54, 337

 

Thế giới : căn cứ vào vận hành và biến hóa của thế giới, tính cách vô thường, trật tự và vẻ đẹp của nó, người ta có thể nhận biết Thiên Chúa như là nguyên thủy và cùng đích của vũ trụ.

 

Về người ngoại giáo, Thánh Phao-lô khẳng định : "Những gì người ta có thể biết về Thiên Chúa thì thật là hiển nhiên trước mặt họ: Thật thế, chính Thiên Chúa đã cho họ thấy rõ. Quả vậy, những gì người ta không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa, tức là quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Người, thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể nhìn thấy được qua những công trình của Người" (Rm 1, 19-20) ( Cv 14, 15. 17 ; 17, 27-28; St 13, 1-9).

 

Thánh Âu-tinh nói : "Hãy hỏi vẻ đẹp của trái đất, của biển khơi, của khí trời nở phồng và lan tỏa, của bầu trời ... , hãy hỏi tất cả những thực tại ấy. Tất cả sẽ trả lời bạn : "Hãy xem đó, chúng tôi quả là đẹp". Vẻ đẹp của chúng là một lời tuyên xưng. Ai đã làm ra những cảnh đẹp thiên biến vạn hoá ấy, nếu không phải là Ðấng toàn mỹ không bao giờ đổi thay ? " ( Bài giảng 241, 2).

 

33 2500, 1730 1776 1703 366

 

Con người : Với tâm hồn cởi mở đón nhận sự thật và vẻ đẹp, với lương tri, tự do và tiếng nói của lương tâm, với khát vọng vươn tới vô tận và hạnh phúc, con người tự hỏi về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Qua những đặc tính trên , con người nhận ra những dấu chỉ cho thấy mình có linh hồn. "Vì mầm sống vĩnh cửu mà con người mang nơi mình, không thể giản lược chỉ duy vào vật chất" (GS 18, 1 ; x 14, 2), nên linh hồn con người chỉ có thể xuất phát từ Thiên Chúa.

 

34 199

 

Thế giới và con người minh chứng rằng chúng không phải là nguyên lý tiên khởi và cứu cánh tối hậu của chính mình, nhưng tham dự vào Ðấng là Hữu Thể Tự Tại, vô thủy vô chung. Như vậy, qua những "con đường" khác nhau , con người có thể nhận biết sự hiện hữu của một thực tại , là nguyên lý tiên khởi và là cứu cánh tối hậu của mọi sự, "mà mọi người gọi là Thiên Chúa" (Thánh Tô-ma Aqui. Tổng luận thần học 1, 2, 3).

35 50 159

 

Nhờ những năng lực của mình, con người có thể nhận biết sự hiện hữu của một Thiên Chúa hữu ngã. Nhưng để cho con người có thể sống thân thiết với Người, Thiên Chúa đã muốn mặc khải chính mình cho con người và ban cho họ khả năng đón nhận mặc khải ấy trong đức tin. Tuy nhiên, các "bằng chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa" có thể giúp con người dễ đón nhận đức tin và cho thấy đức tin không nghịch với lý trí .

 

III. QUAN NIỆM CỦA HỘI THÁNH VỀ VIỆC NHẬN BIẾT THIÊN CHÚA

 

36 355

 

"Hội Thánh, mẹ chúng ta, khẳng định và dạy rằng: Từ những loài thụ tạo, con người nhờ ánh sáng tự nhiên của lý trí, có thể nhận biết cách chắc chắn về Thiên Chúa như là nguyên lý và cùng đích của mọi loài" (Cđ Vat I: DS 3004; x. 3026; DV 6). Không có khả năng này, con người không thể đón nhận mặc khải của Thiên Chúa. Con người có được khả năng đó là vì đã được tạo dựng "theo hình ảnh Thiên Chúa

(x. St 1, 26)".

 

37 1960

 

Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể của mình, con người rất khó nhận biết Thiên Chúa nếu chỉ dựa vào ánh sáng của lý trí :

 

Lý trí con người nhờ sức lực và ánh sáng tự nhiên của mình, có thể nhận biết cách xác thật và chắc chắn về một Thiên Chúa hữu ngã, Ðấng bảo vệ và điều khiển thế giới bằng sự quan phòng, cũng như về luật tự nhiên mà Ðấng Sáng tạo đã đặt trong tâm hồn chúng ta. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều trở ngại ngăn cản lý trí vận dụng hữu hiệu năng lực tự nhiên của nó. Vì những chân lý liên quan đến Thiên Chúa và loài người vượt hẳn lãnh vực khả giác, lại đòi hỏi con người phải xả thân và quên mình khi muốn hành động và sống theo chân lý đó. Ðể nắm bắt những chân lý như thế, tinh thần con người phải chịu nhiều khó khăn do giác quan và trí tưởng tượng, cũng như những ham muốn xấu xa do nguyên tội gây nên. Vì thế, trong những lãnh vực đó, những điều mà con người không muốn là có thật, thì họ dễ dàng tự thuyết phục mình rằng chúng chỉ là điều dối trá hay mơ hồ ( Pi-ô XII, enc. Humani Generis: DS 3875).

 

38 2036

 

Vì thế, con người cần được mặc khải của Thiên Chúa soi dẫn, không những trong những gì vượt quá trí khôn, mà còn trong "những chân lý tôn giáo và luân lý tự nó vốn không vượt quá khả năng lý trí để con người trong hoàn cảnh hiện tại có thể biết được một cách dễ dàng, chắc chắn mà không lẫn lộn sai lầm" ( DS 3876 ; x. Vatican I DS 3005 ; DV 6 ; Th. Tô-ma Aquinô,

Tổng luận thần học 1, 1, 1. )

 

IV. PHẢI NÓI VỀ THIÊN CHÚA THẾ NÀO ?

 

39 851

 

Khi chủ trương lý trí có khả năng nhận biết Thiên Chúa, Hội Thánh tin tưởng có thể nói về Thiên Chúa cho tất cả mọi người và với mọi người. Niềm xác tín này là khởi điểm cho cuộc đối thoại của Hội Thánh với các tôn giáo khác, với triết học và khoa học, cũng như với những người vô tín ngưỡng và vô thần.

 

40

 

Vì khả năng nhận biết Thiên Chúa của chúng ta có giới hạn, nên ngôn ngữ chúng ta dùng để nói về Thiên Chúa cũng giới hạn. Chúng ta chỉ có thể xướng danh Người khởi từ những gì chúng ta biết về các thụ tạo và theo cách thức hiểu biết và suy tư hạn hẹp của loài người chúng ta.

 

41 213, 299

 

Có thể nói mọi thụ tạo đều mang dáng vấp nào đó của Thiên Chúa, đặc biệt là con người được sáng tạo theo hình ảnh Người. Những nét hoàn hảo thiên hình vạn trạng của thụ tạo (tính chân, thiện, mỹ của chúng) phản chiếu sự toàn hảo vô biên của Thiên Chúa. Chúng ta có thể nói về Thiên Chúa khởi từ những nét hoàn hảo của thụ tạo, "vì từ sự nguy nga của thụ tạo, người ta luận ra được ý niệm về Ðấng Tạo Hoá" (Kn 13, 5).

 

42 212, 300 370

 

Thiên Chúa trổi vượt mọi thụ tạo. Vậy cần phải không ngừng luyện lọc ngôn ngữ chúng ta, cho bớt đi những gì hạn hẹp, tượng hình, và chưa hoàn hảo, để khỏi lẫn lộn Ðức Chúa "khôn tả xiết, khôn dò thấu, vô hình, vô phương nắm giữ" ( Phụng vụ lễ Thánh Gio-an Kim Khẩu, Anaphore. )với những gì con người hình dung được. Lời nói của nhân loại vẫn luôn thiếu sót, không diễn tả hết mầu nhiệm của Thiên Chúa.

43 206

 

Khi nói như thế về Thiên Chúa, tuy ngôn ngữ chúng ta diễn tả theo cách phàm nhân, nhưng thực sự đạt tới chính Thiên Chúa, dù không thể diễn tả được Người trong sự giản đơn vô biên của Người. Chúng ta phải nhớ rằng "giữa Ðấng Sáng Tạo và loài thụ tạo, không thể nhấn mạnh sự tương đồng mà không làm cho sự bất tương đồng giữa hai bên càng thêm lớn hơn nữa" ( Cđ La-tran IV: DS 806), và "chúng ta không thể hiểu được Thiên Chúa như thế nào, mà chỉ hiểu được Người không như thế nào, và những hữu thể khác có vị trí nào trong tương quan với Thiên Chúa"(Th. Tô-ma Aqu. s. gent. 1, 30).

 

TÓM LƯỢC

 

44

 

Tự bản tính và ơn gọi, con người là một hữu thể tôn giáo. Phát sinh từ Thiên Chúa và quy hướng về Thiên Chúa, con người chỉ đạt được cuộc sống nhân bản đầy đủ khi tự do liên kết với Thiên Chúa.

 

45

 

Con người được tạo dựng nên để sống hiệp thông với Thiên Chúa. Nơi Người, họ tìm được hạnh phúc : "trong Chúa, con không hề còn đau khổ buồn phiền nữa; được tràn đầy Chúa, đời con sẽ đầy đủ trọn vẹn" ( Th. Âu-tinh, Tự thuật. 10, 28, 39).

 

46

 

Khi biết nghe sứđiệp của các thụ tạo và tiếng nói của lương tâm, con người có thể biết chắc có Thiên Chúa là nguyên nhân và cùng đích của mọi sự.

 

47

 

Hội Thánh dạy rằng con người nhờ ánh sáng tự nhiên của lý trí có thể nhận biết chắc chắn về Thiên Chúa duy nhất và chân thật, là Ðấng Tạo Hóa và Ðức Chúa của chúng ta, qua những công trình của Người ( x. Cđ Vat I: DS 3026).

 

48

 

Chúng ta có thể thật sự nói về Thiên Chúa, dựa vào những nét hoàn hảo thiên hình vạn trạng của các thụ tạo, phần nào giống Thiên Chúa toàn hảo vô biên, cho dù ngôn ngữ có hạn của chúng ta không tài nào diễn tả hết mầu nhiệm được.

 

49

 

"Không có Ðấng Sáng Tạo, loài thụ tạo biến tan" (GS 36). Vì thế, người tín hữu cảm thấy tình yêu Chúa Ki-tô thúc bách mang ánh sáng của Thiên Chúa hằng sống đến cho những ai không biết hoặc chối từ Người .

Sponsors

Phần I - Đoạn I - Chương II

CHƯƠNG HAI

THIÊN CHÚA ÐẾN GẶP CON NGƯỜI

 

50 36 1066

 

Nhờ lý trí tự nhiên, con người có thể nhận biết Thiên Chúa một cách chắc chắn, dựa vào những công trình của Người. Nhưng còn có một loại nhận biết khác, mà con người không thể đạt tới bằng sức lực của chính mình, đó là loại nhận biết nhờ mặc khải của Thiên Chúa (x. Cđ Vat I: DS 3015). Bằng một quyết định hoàn toàn tự do, Thiên Chúa tự mặc khải và ban chính mình cho con người. Thiên Chúa làm điều đó bằng cách mặc khải mầu nhiệm của Người, ý định yêu thương Người đã có từ muôn thuở trong Ðức Ki-tô, để mưu ích cho mọi người. Thiên Chúa mặc khải trọn vẹn ý định của Người khi cử Người Con chí ái là Ðức Ki-tô, Chúa chúng ta, và khi cử Thánh Thần đến với loài người.

 

Mục 1

Mặc Khải của Thiên Chúa

 

I. THIÊN CHÚA MẶC KHẢI "Ý ÐỊNH YÊU THƯƠNG"

51 2823 1996

 

"Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn mặc khải chính mình và tỏ cho mọi người biết mầu nhiệm thánh ý Người. Nhờ đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Ki-tô, Ngôi Lời nhập thể trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần bản tính của Thiên Chúa" (DV 2).

 

52

 

Thiên Chúa, Ðấng "ngự trong ánh sáng siêu phàm" (1Tm 6, 16), muốn thông ban sự sống thần linh của chính mình cho loài người mà Người đã tự do sáng tạo, để làm cho loài người được trở nên nghĩa tử trong Con Một của Người (Ep 1, 4-5). Bằng cách tự mặc khải chính mình, Thiên Chúa muốn giúp cho loài người có khả năng đáp lời Người, nhận biết và yêu mến Người vượt trên những gì họ có thể làm được tự sức mình.

 

53 1953 1950

 

Ý định mặc khải được thể hiện cùng một trật qua "hành động và lời nói, cả hai liên kết chặt chẽ và soi sáng cho nhau"(DV 2). Ý định đó hàm chứa "một đường lối sư phạm thần linh" đặc biệt của Thiên Chúa : Thiên Chúa thông ban chính mình cho con người một cách tiệm tiến, chuẩn bị từng giai đoạn để con người đón nhận mặc khải siêu nhiên về chính bản thân Người. Mặc khải này sẽ đạt tới tột đỉnh nơi con người và sứ mạng của Lời nhập thể là Ðức Giê-su Ki-tô.

 

Thánh I-rê-nê thành Ly-on nhiều lần nói về đường lối sư phạm của Thiên Chúa dưới hình ảnh Thiên Chúa và con người làm quen nhau : "Ngôi Lời của Thiên Chúa đã ở giữa loài người và trở thành con của loài người, để con người quen đón nhận Thiên Chúa, và để Thiên Chúa quen ở giữa loài người, theo ý định tốt đẹp của Chúa Cha" (Chống lạc giáo 3, 20, 2; xem thí dụ ở phần chống lạc giáo 3, 17, 1; 4, 12, 4; 4, 21, 3).

 

II. CÁC GIAI ÐOẠN MẶC KHẢI

 

Từ thuở ban đầu, Thiên Chúa tự mặc khải cho con người

54 32 374

 

"Thiên Chúa, Ðấng sáng tạovà bảo tồn mọi sự nhờ Ngôi Lời, không ngừng làm chứng về Mình trước mặt loài người qua các thụ tạo. Và vì muốn mở đường cứu độ cao trọng nên từ đầu Người còn tỏ Mình ra cho tổ tông chúng ta". Người đã mời các nguyên tổ sống kết hợp mật thiết với Mình, khi ban cho họ ân sủng và đức công chính rạng ngời" (DV 3).

 

55 397, 410

 

Tội của nguyên tổ không làm gián đoạn mặc khải. Quả vậy, " sau khi tổ tông sa ngã, qua lời hứa ban ơn cứu chuộc, Người đã nâng họ dậy trong niềm hy vọng ơn cứu độ. Người không ngừng săn sóc nhân loại, để ban sự sống đời đời cho tất cả những ai tìm kiếm ơn cứu độ nhờ kiên tâm làm việc thiện" ( DV 3).

 

761

 

Tuy con người đã mất tình nghĩa với Cha vì tội bất phục tùng, Cha cũng không đành bỏ mặc cho sự chết thống trị ... . Nhiều lần Cha đã giao ước với loài người (MR, Kinh Tạ Ơn IV, 118).

 

Giao ước với ông Nô-ê

 

56 401 1219

 

Khi tội lỗi phá vỡ sự thống nhất của nhân loại, Thiên Chúa tìm cách cứu họ qua từng nhóm người. Giao ước với ông Nô-ê sau lụt hồng thủy (St 9, 9) nói lên nguyên tắc, qua đó Thiên Chúa thực hiện Nhiệm Cục cứu độ các "dân tộc", tức là những con người tập hợp lại theo xứ sơ<150) của họ, "mỗi người tùy theo tiếng nói và tùy theo thị tộc của họ"(St 10, 5; 10, 20-31).

57

 

Trật tự gồm nhiều dân tộc ( x. Cv 17, 26-27) vừa có tính vũ trụ, vừa có tính xã hội và tôn giáo này được Thiên Chúa thiết đặt để ngăn chặn lòng kiêu căng của nhân loại đã sa ngã nhưng vẫn đồng lõa với nhau trong sự đồi bại ( x. St 10, 5) để mưu cầu sự hiệp nhất như chuyện tháp Ba-ben ( x. St 11, 4-6). Nhưng vì tội lỗi ( x. Rm 1, 18-25) làm con người mê muội, nên thuyết đa thần cũng như tệ sùng bái, dân tộc và thủ lãnh luôn đe dọa nhiệm cục tạm thời này bằng sự lệch lạc ngoại giáo.

 

58 674 2569

 

Giao ước với ông Nô-ê có giá trị suốt thời của các dân tộc ( x. Lc 21, 24), cho tới khi Tin Mừng được loan báo khắp thế giới. Thánh Kinh tôn kính một vài gương mặt vĩ nhân của các "dân tộc", như ông "A-ben người công chính", vị vua tư tế Men-ki-xê-đê ( x. St 14, 18) được xem như hình bóng Ðức Ki-tô ( x. Dt 7, 3), hoặc các người công chính "Nô-ê, Ða-nen và Gióp" (Êd 14, 14). Như vậy, Thánh Kinh nói lên mức độ thánh thiện cao vời mà những người sống dưới chế độ giao ước Nô-ê đã có thể đạt tới, trong khi đợi chờ Ðức Ki-tô "qui tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối" (Ga 11, 52).

 

Thiên Chúa tuyển chọn ông Áp-ra-ham

59 145, 2570

 

Ðể qui tụ loài người đã bị tản mác, Thiên Chúa tuyển chọn ông Áp-ram bằng cách kêu gọi ông "rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha của ông" ( St 12, 1), để làm cho ông trở nên "Áp-ra-ham", tức là "cha của vô số dân tộc" (St 17, 5) : "nhờ ngươi, muôn dân sẽ được chúc phúc" (St 12, 3 LXX) ( x. Gl 3. 8).

60 760 762, 781

 

Dân tộc phát sinh từ Áp-ra-ham sẽ lãnh nhận lời Thiên Chúa đã hứa với các tổ phụ. Ðây là dân tuyển chọn ( x. Rm 11, 28), được gọi để chuẩn bị cho cuộc qui tụ con cái Thiên Chúa một ngày nào đó trong Hội Thánh duy nhất ( x. Ga 11, 52; 10, 16); dân này sẽ là gốc rễ mà các dân ngoại khi tin vào Thiên Chúa sẽ được tháp vào ( x. Rm 11, 17-18. 24).

 

61

 

Các tổ phụ, các ngôn sứ và những nhân vật khác nữa của Cựu Ước đã và sẽ luôn được tôn kính như những thánh nhân trong tất cả các truyền thống phụng vụ của Hội Thánh.

 

Thiên Chúa huấn luyện dân Ít-ra-en

 

62 2060, 2574 1961

 

Sau thời các tổ phụ, Thiên Chúa lập Ít-ra-en làm dân của Người khi giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai-cập. Người ký kết Giao Ước Xi-nai với dân và ban cho họ lề luật qua ông Mô-sê, để họ nhìn nhận và phụng sự Người như vị Thiên Chúa duy nhất hằng sống và chân thật, người Cha quan phòng và vị Thẩm Phán công minh, và để họ mong đợi Vị Cứu Tinh đã được Thiên Chúa hứa (x. DV 3).

 

63 204, 2801 839

 

Ít-ra-en là Dân tư tế của Thiên Chúa ( x. Xh 19, 6), được "mang danh ÐỨC CHÚA" (Ðnl 28, 10). Ðó là dân gồm "những người đầu tiên đã được nghe lời Thiên Chúa phán dạy" ( Phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh ) gồm các "anh trưởng" của những người cùng chia sẻ đức tin của tổ phụ Áp-ra-ham.

 

64 711, 1965 489

 

Qua các ngôn sứ, Thiên Chúa huấn luyện dân Người trong niềm hy vọng vào ơn cứu độ, trong sự chờ đợi một Giao Ước mới, Giao Ước vĩnh cửu dành cho tất cả mọi người ( x. Is 2, 2-4)và sẽ được ghi khắc trong lòng mọi người ( x. Gr 31, 31-34; Ðnl 10, 16). Các ngôn sứ tiên báo Thiên Chúa sẽ cứu chuộc trọn vẹn dân Ít-ra-en, thanh tẩy họ khỏi mọi bất trung (Ed 36) và ban ơn cứu độ cho tất cả các dân tộc ( x. Is 49, 5-6; 53, 11). Chính những người nghèo khó và khiêm nhu của Chúa (Xph 2, 3) sẽ cưu mang niềm hy vọng này. Những phụ nữ thánh thiện như các bà Xa-ra, Rê-bê-ca, Ra-khen, Mi-ri-am, Ðê-bô-ra, An-na, Giu-đi-tha và Ét-te, đã gìn giữ cho niềm hy vọng cứu độ ấy của Ít-ra-en được luôn sống động. Về vấn đề này, Ðức Ma-ri-a là gương mặt sáng chói nhất (x. Lc 1, 38).

 

III. ÐỨC GiÊ-SU KI-TÔ "ÐẤNG TRUNG GIAN VÀ SỰ VIÊN MÃN CỦA TOÀN BỘ MẶC KHẢI " (DV 2)

 

Thiên Chúa đã phán dạy mọi sự trong Ngôi Lời

 

65 102

 

"Thuở xưa nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã dùng các ngôn sứ mà phán dạy cha ông ta; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy ta qua Con của Người " (Dt 1, 1-2). Ðức Ki-tô, Con Thiên Chúa làm người, là Lời duy nhứt, hoàn hảo và dứt khoát của Chúa Cha. Nơi Người, Thiên Chúa phán dạy mọi sự, và sẽ không có lời nào khác ngoài Lời đó. Nối gót bao người, Thánh Gio-an Thánh Giá diễn tả điều đó với những lời lẽ sáng ngời khi quảng diễn Dt 1, 1-2 :

516 2717

 

Một khi đã ban cho chúng ta Chúa Con, là Lời của Người, Thiên Chúa không còn Lời nào khác để ban cho ta. Người đã nói hết trong một lần và cùng một trật, trong Lời duy nhất đó, và không còn gì để nói nữa. Những gì Người chỉ nói từng phần với các ngôn sứ, thì Người đã nói hết trọn vẹn trong Con của Người bằng cách ban cho chúng ta điều trọn vẹn ấy là Con của Người. Do đó, ai còn muốn gạn hỏi Người hoặc ước ao có một thị kiến hay mặc khải, người ấy chẳng những làm một sự điên rồ, mà còn xúc phạm đến Thiên Chúa, bởi không nhìn vào Ðức Ki-tô mà lại đi tìm những gì khác hay những điều mới lạ ( Cát minh 2, 22).

 

Sẽ không còn Mặc Khải nào khác nữa

66 94

 

"Nhiệm cục Ki-tô giáo, vì là Giao Ước mới và vĩnh viễn, sẽ không bao giờ mai một, chúng ta không phải chờ đợi một mặc khải công khai nào khác nữa trước khi Chúa Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta hiện đến trong vinh quang" (DV 4). Dù Mặc Khải đã hoàn tất, nhưng vẫn chưa được diễn đạt hoàn toàn rõ rệt, nên Hội Thánh phải cố gắng tìm hiểu một cách tiệm tiến qua dòng thời gian.

 

67 84

 

Theo dòng lịch sử, có những điều gọi là "mặc khải tư, " một số được thẩm quyền Hội Thánh công nhận. Tuy vậy, những mặc khải đó không thuộc kho tàng đức tin. Vai trò của chúng không phải là "cải thiện" hoặc "bổ sung" Mặc Khải tối hậu của Ðức Ki-tô, mà để giúp người ta sống Mặc Khải cách trọn vẹn hơn vào một thời điểm lịch sử. Ðược Huấn Quyền Hội Thánh hướng dẫn, người tín hữu nhờ cảm thức đức tin sẽ biết nhận định và tiếp thu trong các mặc khải đó, những gì là lời mời gọi đích thực của Ðức Ki-tô hoặc của các thánh gởi đến cho Dân Người.

 

Theo đức tin Ki-tô giáo không có mặc khải nào được coi là vượt cao hơn hay sửa đổi mặc khải được hoàn tất trong Ðức Ki-tô. Hiện nay một số tôn giáo ngoài Ki-tô giáo và một số giáo phái được sáng lập gần đây đặt nền tảng trên những "mặc khải" như thế.

 

TÓM LƯỢC

68

 

Vì tình thương, Thiên Chúa đã tự mặc khải và ban chính mình cho con người. Như vậy, Người mang đến một lời giải đáp cuối cùng và phong phú cho những câu hỏi mà con người đặt ra cho mình về ý nghĩa và cùng đích cuộc đời .

 

69

 

Thiên Chúa tự mặc khải cho con người bằng cách dùng hành động và lời nói, từng bước thông ban mầu nhiệm chính bản thân mình cho họ.

 

70

 

Ngoài những chứng từ nơi các thụ tạo, Thiên Chúa còn đích thân tỏ mình cho nguyên tổ chúng ta. Người đã nói với họ, và sau khi họ sa ngã, Người hứa ban ơn cứu độ (St 3, 15) và mời họ ký kết giao ước với Người.

 

71

 

Thiên Chúa ký kết với ông Nô-ê một giao ước vĩnh cửu giữa Người và mọi sinh linh (St 9, 16). Giao ước này sẽ tồn tại bao lâu thế gian còn tồn tại.

 

72

 

Thiên Chúa đã tuyển chọn ông Áp-ra-ham và ký kết một giao ước với ông và dòng dõi ông. Từ đó, Thiên Chúa thiết lập dân Người và mặc khải Lề Luật cho họ qua ông Mô-sê. Nhờ các ngôn sứ, Thiên Chúa đã chuẩn bị dân Người đón nhận ơn cứu độ dành cho toàn thể nhân loại.

 

73

 

Thiên Chúa tự mặc khải trọn vẹn khi cử chính Con Mình đến trần gian; nơi Chúa Con, Thiên Chúa đã thiết lập Giao Ước của Người cách vĩnh viễn. Con Thiên Chúa là Lời tối hậu của Chúa Cha nói với nhân loại; sau Người, không còn một mặc khải nào khác.

Mục 2

Lưu truyền Mặc khải của Thiên Chúa

 

74 851

 

Thiên Chúa "muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" (1Tm 2, 4), tức là nhận biết Ðức Ki-tô Giê-su (Ga 14, 6). Vậy Ðức Ki-tô phải được rao giảng cho mọi dân tộc và mọi người, và như thế, mặc khải phải được loan truyền đến tận cùng thế giới.

 

Những gì Thiên Chúa mặc khải để cứu độ muôn dân, Người đã ân cần sắp đặt để luôn được bảo toàn và lưu truyền nguyên vẹn cho mọi thế hệ ( DV 7).

 

I. TRUYỀN THỐNG CÁC TÔNG ÐỒ

 

75 171

 

"Toàn bộ mặc khải của Thiên Chúa tối cao được hoàn tất nơi Chúa Ki-tô. Sau khi thực hiện và công bố Tin Mừng đã được các ngôn sứ tiên báo, Chúa Ki-tô ra lệnh cho các tông đồ rao giảng Tin Mừng ấy cho mọi người như là nguồn mạch của toàn bộ chân lý cứu độ và của mọi qui luật luân lý, đồng thời ban phát cho họ những hồng ân của Thiên Chúa"(DV 7).

 

Lời rao giảng của các tông đồ

 

76

 

Theo mệnh lệnh của Chúa, việc lưu truyền Tin Mừng đã được thực hiện bằng hai cách :

 

Cách truyền khẩu : "Bằng lời rao giảng, bằng gương mẫu và các định chế, các tông đồ truyền lại những điều đã học được từ chính miệng Ðức Ki-tô khi sống chung với Người và thấy Người xử sự hoặc những điều các ngài đã được Thánh Thần gợi hứng".

 

Bằng văn tự : "Ðược Thánh Thần linh hứng, các tông đồ và những người thân cận với các ngài đã ghi lại sứ điệp cứu độ "( DV 7).

 

... được tiếp nối do những người kế nhiệm các tông đồ

 

77 861

 

"Ðể Tin Mừng luôn luôn được gìn giữ nguyên vẹn và sống động trong Hội Thánh, các tông đồ đã đặt các Giám Mục làm người kế nhiệm, và trao lại cho họ "trách nhiệm giáo huấn của các ngài" (DV 7). Vì vậy, "những lời giảng dạy của các tông đồ được đặc biệt ghi lại trong các sách linh hứng, phải được bảo tồn và liên tục lưu truyền cho đến tận thế " (DV 8).

78 174 1124, 2651

 

Ðược thực hiện trong Chúa Thánh Thần, cách lưu truyền sống động này được gọi là Thánh Truyền, phân biệt với Thánh Kinh, dù có liên hệ chặt chẽ với Thánh Kinh. Nhờ Thánh Truyền, "Hội Thánh qua giáo lý, đời sống và việc phượng tự của mình, bảo tồn và lưu truyền cho mọi thế hệ tất cả thực chất của mình và tất cả những gì mình tin"( DV 8). "Giáo huấn của các thánh giáo phụ chứng thực sự hiện diện tác sinh của Thánh Truyền ấy mà sự phong phú đã thâm nhập vào nếp sống đạo của Hội Thánh hằng tin tưởng và cầu nguyện" (DV 8).

 

79

 

Như vậy, việc Chúa Cha thông ban chính mình nhờ Ngôi Lời và trong Thánh Thần, vẫn hiện diện và tác động trong Hội Thánh : "Thiên Chúa Ðấng xưa đã phán dạy, nay vẫn không ngừng ngõ lời với hiền thê của Con yêu dấu mình; và Thánh Thần, Ðấng làm cho tiếng nói sống động của Tin Mừng vang dội trong Hội Thánh, và nhờ Hội Thánh làm vang dội trong thế giới, vẫn hướng dẫn các tín hữu nhận biết toàn thể chân lý và làm cho lời Chúa Ki-tô tràn ngập trong lòng họ" (DV 8).

 

II. TƯƠNG QUAN GIỮA THÁNH TRUYỀN VÀ THÁNH KINH

 

Cùng một nguồn mạch...

 

80

 

"Thánh Truyền và Thánh Kinh liên kết và giao lưu mật thiết với nhau, vì cả hai phát xuất từ một nguồn mạch duy nhất là Thiên Chúa, có thể nói là cả hai kết hợp nên một toàn bộ và hướng về cùng một mục đích" ( DV 9). Cả hai đều làm cho mầu nhiệm Ðức Ki-tô được hiện diện và sinh hoa trái trong Hội Thánh, chính Người đã hứa ở lại với môn đệ "mọi ngày cho đến tận thế " (Mt 28, 20).

 

... nhưng hai cách lưu truyền khác biệt

81

 

"Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa được ghi chép lại dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần".

 

113

 

"Thánh Truyền chứa đựng Lời Thiên Chúa mà Chúa Ki-tô và Chúa Thánh Thần đã ủy thác cho các tông đồ, và lưu truyền toàn vẹn cho những người kế nhiệm các ngài, để nhờ Thánh Thần chân lý soi sáng, họ trung thành gìn giữ, trình bày và phổ biến qua lời rao giảng".

 

82

 

Do đó, Hội Thánh, được ủy thác nhiệm vụ lưu truyền và giải thích Mặc Khải, "không chỉ nhờ Thánh Kinh mà biết cách xác thực tất cả những điều mặc khải, chính vì thế, cả Thánh Kinh lẫn Thánh Truyền đều phải được đón nhận và tôn kính bằng một tâm tình yêu mến và kính trọng như nhau"( DV 9).

 

Truyền thống Tông đồ và các truyền thống trong Hội Thánh

 

83

 

Truyền Thống mà chúng ta nói đây khởi phát từ các tông đồ và lưu truyền những gì các ngài đã lãnh nhận từ giáo huấn và gương mẫu của Chúa Giê-su cũng như những gì các ngài học được nhờ Thánh Thần. Thật vậy, thế hệ các Ki-tô hữu đầu tiên chưa có một Tân Ước thành văn, và chính bản văn Tân Ước chứng thực tiến trình của truyền thống sống động này.

 

1202, 2041 2684

 

Chúng ta phải phân biệt "Truyền Thống" các tông đồ với các "truyền thống" thuộc diện thần học, kỷ luật, phụng vụ hoặc sùng kính đã phát sinh theo thời gian trong các giáo đoàn địa phương. Những truyền thống này tạo nên những hình thức đặc thù, qua đó, Thánh Truyền thu nhận những lối diễn tả thích nghi cho những nơi khác nhau và những thời kỳ khác nhau. Chính trong ánh sáng truyền thống các tông đồ, mà các truyền thống này được giữ lại, sửa đổi hay bị loại bỏ, theo sự hướng dẫn của Huấn Quyền Hội Thánh.

 

III. GIẢI NGHĨA KHO TÀNG ÐỨC TIN

 

Kho tàng đức tin được giao phó cho toàn thể Hội Thánh

 

84 857, 871 2033

 

"Kho tàng đức tin" (depositum fidei) (2Tm 1, 12-14), chứa đựng trong Thánh Truyền và Thánh Kinh, đã được các tông đồ giao phó cho toàn thể Hội Thánh. "Nhờ gắn bó với kho tàng ấy, toàn thể dân thánh hiệp nhất với các mục tử, vẫn một niềm trung tín, chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy, sống hiệp thông huynh đệ, tham dự lễ bẻ bánh và các giờ cầu nguyện, đến nỗi trong cách giữ đạo, hành đạo, và tuyên xưng đức tin được truyền lại, các mục tử và đoàn chiên đồng tâm nhất trí với nhau cách lạ thường"(DV 10).

 

Huấn Quyền Hội Thánh

 

85 888- 892 2032-2040

 

"Nhiệm vụ giải nghĩa cách chân chính Lời Thiên Chúa đã được viết ra hay lưu truyền, chỉ được ủy thác cho Huấn Quyền sống động của Hội Thánh, và Hội Thánh thi hành quyền đó nhân danh Ðức Giê-su Ki-tô " (DV 10), nghĩa là <F255D)được ủy thác cho những Giám mục sống hiệp thông với Giám mục Rô-ma là người kế nhiệm Thánh Phê-rô.

 

86 688

 

"Tuy nhiên, Huấn Quyền không vượt trên Lời Chúa, nhưng phải phục vụ Lời Chúa, nên chỉ dạy những gì đã được truyền lại. Theo lệnh Chúa với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, Huấn Quyền thành tâm lắng nghe, gìn giữ cách thánh thiện và thành tín trình bày Lời Chúa. Và từ kho tàng đức tin duy nhất ấy, rút ra mọi điều phải tin như là Mặc Khải của Thiên Chúa" (DV 10).

 

87 1548 2037

 

Vì ghi nhớ lời Ðức Ki-tô đã nói với các tông đồ : "Ai nghe anh em là nghe Thầy" (Lc 10, 16) (LG 20), các tín hữu nhiệt thành ngoan ngoãn nhận lãnh lời dạy và chỉ thị mà các mục tử ban cho họ dưới những hình thức khác nhau.

 

Các tín điều đức tin

 

88

 

Huấn Quyền thực thi trọn vẹn quyền bính nhận từ Ðức Ki-tô khi định tín, tức là khi công bố, dưới hình thức buộc dân thánh phải tin, những chân lý được chứa đựng trong mặc khải hoặc khi công bố một cách xác định dức khoát những chân lý có liên hệ tất yếu với các chân lý đó.

 

89 2625

 

Có một tương quan hữu cơ giữa đời sống thiêng liêng của chúng ta với các tín điều. Tín điều là những ánh sáng trên con đường đức tin, soi sáng và làm cho con đường đức tin ấy được an toàn. Ngược lại, nếu chúng ta sống ngay thẳng, trí tuệ và tâm hồn sẽ mở rộng đón nhận ánh sáng các tín điều (x. Ga 8, 31-32).

 

90 114, 158 234

 

Toàn bộ mặc khải mầu nhiệm Ðức Ki-tô cho thấy các tín điều có liên hệ hỗ tương và đan kết với nhau (Cđ Va-ti-can I : DS 3016 : nexus mysteriorum: LG 25). Thực vậy cần nhớ là "chúng ta phải nhận có một trật tự hay phẩm trật" các chân lý trong đạo lý công giáo, vì sự liên hệ giữa các tín điều với các nền tảng đức tin Ki-tô giáo không đồng đều" (UR 11).

 

Cảm thức siêu nhiên về đức tin

 

91 737

 

Mọi tín hữu đều tham dự vào ơn hiểu biết và việc lưu truyền chân lý mặc khải. Họ được Thánh Thần xức dầu, chính Người dạy dỗ (x. 1Ga 2, 20. 27) và dẫn họ tới chân lý toàn diện (x. Ga 16, 13).

92 785

 

"Toàn thể tín hữu ... không thể sai lầm trong đức tin. Họ biểu lộ đặc tính ấy nhờ cảm thức siêu nhiên về đức tin của toàn thể dân Chúa, khi" từ các Giám mục cho đến người giáo dân rốt hết", đều đồng ý về những chân lý liên quan đến đức tin và phong hóa" (LG 12).

 

93 889

 

"Thực vậy, nhờ cảm thức về đức tin được Thánh Thần chân lý khơi dậy và duy trì, và dưới sự hướng dẫn của Huấn Quyền ... dân Thiên Chúa một lòng gắn bó không sờn với đức tin đã được truyền lại một lần dứt khoát, đào sâu đức tin hơn nhờ giải thích đúng đắn và thực thi trọn vẹn đức tin ấy trong đời sống của mình" (LG 12).

 

Gia tăng hiểu biết đức tin

 

94 66

 

Nhờ Thánh Thần trợ giúp, sự hiểu biết về các thực tại và các lời thuộc kho tàng đức tin có thể tăng trưởng trong đời sống Hội Thánh :

 

2651

 

-"Nhờ suy niệm và học hỏi của những tín hữu hằng gẫm suy trong lòng những thực tại và lời nói ấy" (DV 8); đặc biệt "việc nghiên cứu thần học giúp đào sâu hiểu biết về chân lý mặc khải" ( x. GS 62, 7; x. 44, 2 ; DV 23, 24; UR 4 );

 

2038, 2518

 

-"Nhờ sự hiểu biết nội tâm mà các tín hữu cảm nhận được những điều thiêng liêng" (DV 8); "Lời Chúa lớn lên cùng với người đọc" ( Thánh Ghê-gô-ri-ô Cả, giảng về Ed 1, 7, 8);

 

-"Nhờ lời rao giảng của các vị trong hàng Giám Mục đã nhận được đặc sủng chắc chắn về chân lý " ( DV 8).

 

95

 

"Vậy rõ ràng là Thánh Truyền, Thánh Kinh và Huấn Quyền, nhờ một sự an bài rất khôn ngoan của Thiên Chúa, liên kết và phối hiệp với nhau đến nổi không một thực thể nào một trong ba có thể đứng vững một mình được. Dưới tác động của một Thánh Thần duy nhất, cả ba cùng góp phần hữu hiệu vào việc cứu độ các linh hồn, mỗi thứ theo phương cách riêng của mình" (DV 10, 3).

 

TÓM LƯỢC

 

96

 

Ðiều Ðức Ki-tô đã ủy thác cho các Tông đồ, các ngài đã truyền lại bằng lời rao giảng và bằng văn bản, dưới sự linh hứng của Thánh Thần, cho tất cả mọi thế hệ, cho đến ngày Ðức Ki-tô trở lại trong vinh quang.

 

97

 

"Thánh Truyền và Thánh Kinh hợp thành một kho tàng thánh thiêng duy nhất của Lời Thiên Chúa ( DV 10), trong đó, Hội Thánh lữ hành chiêm ngắm Thiên Chúa (DV 10) là nguồn mạch mọi sự phong phú của mình như trong một tấm gương.

 

98

 

"Qua giáo lý, đời sống và phụng tự của mình, Hội Thánh bảo tồn và truyền lại cho mọi thế hệ tất cả thực chất của mình và tất cả những gì mình tin" ( DV 8).

 

99

 

Nhờ cảm thức siêu nhiên về đức tin, toàn thể Dân Chúa không ngừng đón nhận, đào sâu và sống hồng ân mặc khải ngày càng trọn vẹn hơn.

 

100

 

Nhiệm vụ giải nghĩa cách chân chính Lời Thiên Chúa được ủy thác riêng cho Huấn Quyền, tức là cho Ðức Giáo Hoàng và cho các Giám Mục hiệp thông với Người.

 

Mục 3

Thánh Kinh

 

I. ÐỨC KI-TÔ - LỜI DUY NHẤT CỦA THÁNH KINH

 

101

 

Ðể mặc khải chính mình cho loài người, Thiên Chúa đã đoái thương dùng ngôn ngữ loài người mà nói với ho <139): "Lời của Thiên Chúa, diễn đạt bằng ngôn ngữ nhân loại, trơ<150) nên giống tiếng nói loài người, cũng như khi xưa Ngôi Lời của Cha hằng hữu đã trở nên giống như con người khi mặc lấy xác phàm yếu đuối của chúng ta" ( DV 13).

 

102 65, 2763

 

Qua tất cả các lời ở trong Thánh Kinh, Thiên Chúa chỉ nói có một Lời là Ngôi Lời duy nhất, trong Người, Thiên Chúa nói hết về mình cho nhân loại (Dt 1, 1-3) :

 

426-429

 

Anh em hãy nhớ rằng Lời duy nhất của Thiên Chúa được trải dài trong toàn bộ Thánh Kinh, chính Ngôi Lời duy nhất vang trên môi miệng củatất cả các tác giả Thánh Kinh. Vì chính Người, ngay từ đầu là Thiên Chúa ở bên Thiên Chúa, chẳng cần đến chữ với lời, bởi Người không lệ thuộc vào thời gian ( Thánh Âu Tinh, Tv 103, 4, 1).

 

103 1100, 1184 1378

 

Vì lý do đó, Hội Thánh luôn tôn kính Kinh Thánh như chính Mình Thánh Chúa. Hội Thánh không ngừng lấy Bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Thiên Chúa và Mình Thánh Chúa

Ki-tô để ban phát cho các tín hữu ( x. DV 21)

 

104

 

Trong Thánh Kinh, Hội Thánh không ngừng tìm được lương thực và sức mạnh (x. DV 24), vì nơi đó, Hội Thánh không chỉ đón nhận một lời phàm nhân, nhưng thực sự là Lời của Thiên Chúa( 1Th 2, 13). "Thật vậy, trong các Sách Thánh, Chúa Cha, Ðấng ngự trên trời, âu yếm đến với con cái của Người và đối thoại với họ" (DV 21).

 

II. LINH HỨNG VÀ CHÂN LÝ THÁNH KINH

 

105

 

Thiên Chúa là tác giả của Thánh Kinh "Những gì Thiên Chúa mặc khải mà Thánh Kinh chứa đựng và trình bày, đều được viết ra dưới sự linh hứng của Thánh Thần". "Hội Thánh, Mẹ chúng ta, nhờ đức tin tông truyền, xác nhận rằng toàn bộ Cựu Ước cũng như Tân Ước, với tất cả các thành phần đều là Sách Thánh, và được ghi vào bản chính lục của Thánh Kinh, bởi lẽ được viết ra dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần nên tác giả các sách ấy là chính Thiên Chúa và chúng được lưu truyền cho Hội Thánh với danh nghĩa như vậy"(DV 11).

 

106

?Thiên Chúa đã linh hứng cho các tác giả nhân loại viết các Sách Thánh. "Ðể soạn các Sách Thánh đó, Thiên Chúa đã chọn những con người và dùng họ với đầy đủ các khả năng và phương tiện của họ, để khi chính Người hành động trong họ và qua họ, họ viết ra như những tác giả đích thực tất cả những gì Chúa muốn, và chỉ viết những điều đó thôi" (DV 11).

107 702

 

Các sách được linh hứng giảng dạy sự thật. "Vậy bởi phải xem mọi lời các tác giả được linh hứng, còn gọi là các Thánh Ký viết ra, là những lời của Chúa Thánh Thần, nên phải công nhận rằng Thánh Kinh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm, những chân lý mà Thiên Chúa đã muốn Thánh Kinh ghi lại để cứu độ chúng ta" (DV 11).

108

 

Tuy nhiên, đức tin Ki-tô giáo không phải là "đạo thờ Sách, "nhưng là đạo do "Lời" Thiên Chúa, " không phải một lời được viết ra và câm lặng, nhưng là Ngôi Lời nhập thể và hằng sống" (Thánh Bê-na-đô, bài giảng về kẻ được sai đi 4, 11). Ðể các lời của Sách Thánh không chỉ là văn tự chết, Ðức Ki-tô, Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa hằng sống, nhờ Thánh Thần "mở trí cho chúng ta hiểu được Thánh Kinh"( Lc 24, 45).

 

III. CHÚA THÁNH THẦN, ÐẤNG GIẢI NGHĨA THÁNH KINH

109

 

Trong Thánh Kinh , Thiên Chúa nói với con người theo cách thức loài người. Vậy để giải nghĩa Thánh Kinh cho đúng, phải cẩn thận tìm hiểu điều các thánh ký thật sự có ý trình bày và điều Thiên Chúa muốn diễn tả qua lời lẽ của họ( x. DV 12, 1).

110

 

Ðể khám phá ý định của các Thánh Ký , phải xét đến thời đại và văn hoá của họ, các "thể văn" thông dụng thời bấy giờ, cách thức cảm nghĩ, diễn tả, và tường thuật thịnh hành thời của họ. "Vì chân lý được trình bày và diễn tả qua nhiều thể văn khác nhau như thể văn lịch sử, ngôn sứ, thi ca... hoặc những thể loại khác"(DV 12, 2).

111

 

Vì Thánh Kinh được linh hứng, nên còn một nguyên tắc khác để giải nghĩa cho đúng. Nguyên tắc này không kém quan trọng so với nguyên tắc trên và không có nó thì Thánh Kinh chỉ là văn tự chết : "Thánh Kinh đã được viết ra bởi Chúa Thánh Thần nên cũng phải được đọc và giải thích trong Chúa Thánh Thần" (DV 12, 3).

 

Công đồng Va-ti-ca-nô II đưa ra ba tiêu chuẩn để giải thích Thánh Kinh theo Thánh Thần, Ðấng đã linh hứng (DV 12, 3).

112 128 368

 

1* Trước hết, phải hết sức chú ý đến "nội dung và tính thống nhất của toàn bộ Thánh Kinh " . Các Sách Thánh, dù có khác biệt nhau mấy đi chăng nữa, vẫn là một do tính duy nhất của chương trình Thiên Chúa mà Ðức Ki-tô Giê-su là trung tâm điểm và là trái tim, được rộng mở từ cuộc Vượt Qua của Người (x. Lc 24, 25-27. 44-46).

 

Trái tim ( x. Tv 22, 15)Ðức Ki-tô chỉ Thánh Kinh, và Thánh Kinh giúp ta hiểu rõ trái tim Người. Trước cuộc khổ nạn, trái tim này còn đóng kín, vì Thánh Kinh còn tối nghĩa. Nhưng sau cuộc khổ nạn, Thánh Kinh đã được mở ra, vì từ nay những ai hiểu được cuộc khổ nạn sẽ biết suy xét và hiểu được phải giải nghĩa các lời ngôn sứ như thế nào ( Thánh Tô-ma Aquinô. Tv 21, 11).

 

113 81

 

2* Kế đến, phải đọc Thánh Kinh trong" Truyền thống sống động của toàn thể Hội Thánh". Theo một châm ngôn của các giáo phụ Thánh Kinh pha<150)i được đọc chủ yếu trong con tim Hội Thánh hơn là trên những vật liệu dùng để viết Thánh Kinh. Thật vậy, Hội Thánh giữ trong truyền thống của mình ký ức sống động của Lời Thiên Chúa, và chính Thánh Thần giải thích cho Hội Thánh ý nghĩa thiêng liêng của Thánh Kinh ("... theo nghĩa thiêng liêng mà Thánh Thần ban cho Hội Thánh được hiểu") ( Ô-ri-giê-nê bài giảng ; Lv 5, 5).

114 90

 

3* Phải lưu ý đến " tính loại suy đức tin" ( x. Rm 12, 6). "Tính loại suy đức tin" được hiểu là sự liên kết chặt chẽ giữa các chân lý đức tin với nhau và trong toàn bộ chương trình mặc khải.

 

Các nghĩa được dùng trong Thánh Kinh

115

 

Theo một truyền thống cổ xưa, có thể phân biệt hai nghĩa được dùng trong Thánh Kinh : nghĩavăn tự vànghĩa thiêng liêng. Nghĩa thiêng liêng được chia thành nghĩa ẩn dụ, luân lý và thần bí. Sự hòa hợp sâu xa của bốn nghĩa này bảo đảm cho việc đọc Thánh Kinh cách sống động trong Hội Thánh được phong phú tối đa:

116 110-114

 

Nghĩa văn tự : Ðây là nghĩa mà lời Thánh Kinh nêu lên và được khoa chú giải khám phá ra khi tuân theo những qui luật để giải nghĩa đúng. "Tất cả các nghĩa trong Thánh Kinh đều dựa vào nghĩa văn tự " ( Thánh Tô-ma Aquinô. Tổng luận 1, 1, 10, 1. ).

117 1101

 

Nghĩa thiêng liêng : Nhờ sự thống nhất trong ý định của Thiên Chúa, không những bản văn Thánh Kinh, mà cả các thực tại và biến cố được bản văn đề cập đến, đều có thể là những tiên trưng.

 

1. Nghĩa ẩn dụ : Chúng ta có thể hiểu thấu đáo hơn các biến cố bằng cách nhận ra ý nghĩa của nó trong Ðức Ki-tô. Ví dụ cuộc vượt qua Biển Ðỏ là tiên trưng cuộc chiến thắng của Ðức Ki-tô, do đó cũng là tiên trưng của phép Thánh Tẩy ( x. 1Cr 10, 2).

 

2. Nghĩa luân lý : Các biến cố được Kinh Thánh thuật lại phải dẫn chúng ta đến một cách ăn ở chính trực. Các biến cố đó được viết ra "để răn dạy chúng ta" (1 Cr 10, 11) ( x. Dt 3-4, 11).

 

3. Nghĩa thần bí : Chúng ta có thể đọc thấy ý nghĩa vĩnh cửu của các thực tại và biến cố, khi chúng hướng chúng ta về Quê Trời. Ví dụ Hội Thánh dưới đất là dấu chỉ Giê-ru-sa-lem trên trời ( x. Kh 21, 1-22, 5).

118

 

Hai câu thơ thời trung cổ tóm tắt ý của bốn nghĩa như sau :

 

Nghĩa văn tự dạy về biến cố, Nghĩa ẩn dụ dạy điều phải tin, Nghĩa luân lý dạy điều phải làm, Nghĩa thần bí dạy điều phải vươn tới (Rotulus prigiecaris I : ed A WALZ : Angelium 6 (1929) Augustin de Dace. ).

 

119 94

 

"Theo các qui tắc ấy, người chú giải Thánh Kinh có nhiệm vụ nỗ lực tìm hiểu và trình bày ý nghĩa Thánh Kinh cách sâu rộng hơn, hầu những nghiên cứu của họ, như một việc làm chuẩn bị, giúp phán quyết của Hội Thánh được chín chắn. Thật vậy, mọi điều liên hệ đến việc giải thích Thánh Kinh cuối cùng đều phải tùy thuộc vào phán quyết của Hội Thánh, vì Hội Thánh được Thiên Chúa giao cho sứ mạng và chức vụ gìn giữ và giải thích lời Chúa"(DV 12, 3).

 

113

 

Tôi sẽ không tin vào Tin Mừng, nếu thẩm quyền của Hội Thánh Công Giáo không thúc giục tôi (Thánh Âu tinh, Hộ giáo 5, 6).

 

IV. QUY ÐIỂN CÁC SÁCH THÁNH

 

120 117

 

Chính Truyền Thống các Tông đồ giúp Hội Thánh phân định những văn bản nào phải được kể vào danh mục các Sách Thánh (DV 8, 3). Danh mục đầy đủ này được gọi là " Quy điển" các Sách Thánh, gồm 46 bản văn Cựu ước (45, nếu gom Gr. và Ac. thành một) và 27 bản văn cho Tân Ước (x. DS 179; 1334-1336; 1501;-1504):

 

Cựu Ước : Sáng Thế, Xuất Hành, Lê Vi, Dân Số, Ðệ Nhị Luật, Giô-su-ê, Thủ Lãnh, Rút, 1và2 Sa-mu-en, 1và2 Các Vua, 1và 2 Sử Ký, Ê-dơ-ra và Nơ-khe-mi-a, Tô-bi-a, Giu-đi-tha, Ét-te, 1và2 Ma-ca-bê, Gióp, Thánh Vịnh, Châm Ngôn, Giảng Viên, Diễm Ca, Khôn Ngoan, Huấn Ca, I-sa-i-a, Giê-rê-mi-a, Ai-ca, Ba-rúc, Ê-dê-ki-en, Ða-ni-en, Hô-sê, Gio-en, A-mốt, Ô-va-đi-a, Giô-na, Mi-kha, Na-khum, Kha-ba-cúc, Xô-phô-ni-a, Khác-gai, Da-ca-ri-a, Ma-la-khi.

 

Tân Ước: Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu, Thánh Mác-cô, Thánh Lu-ca, Thánh Gio-an, Công vụ Tông đồ, Thư Rô-ma, Thư 1 và 2 Cô-rin-tô, Thư Ga-lát, Thư Ê-phê-sô, Thư Phi-líp-phê, Thư Cô-lô-xê, Thư 1và2 Thê-xa-lô-ni-ca, Thư 1và 2 Ti-mô-thê, Thư gởi cho Ti-tô, Thư gởi Phi-lê-mon, Thư Do-thái, Thư Thánh Gia-cô-bê, Thư 1và2 Thánh Phê-rô, Thư 1, 2 và 3 Thánh Gio-an, Thư Thánh Giu-đa, Khải Huyền.

 

Cựu Ước

121 1093

 

Cựu Ước là một phần của Thánh Kinh không thể thiếu được. Các sách Cựu Ước được Thiên Chúa linh hứng luôn có giá trị vĩnh cửu (x. DV14) vì giao ước cũ không hề bị thu hồi.

 

122 702 , 763 708 2568

 

"Lý do chính của nhiệm cục thời Cựu Ước là chuẩn bị cho ngày xuất hiện của Ðức Ki-tô Cứu Thế". "Dù còn chứa đựng những điều bất toàn và tạm thời", các sách Cựu Ước minh chứng khoa sư phạm thần diệu của tình yêu cứu độ của Thiên Chúa :"Vì chúng tàng trữ những lời giáo huấn cao siêu về Thiên Chúa, những tư tưởng khôn ngoan và hữu ích về đời sống con người, những kho tàng kinh nguyện tuyệt diệu và sau cùng ẩn chứa mầu nhiệm cứu độ chúng ta" ( DV 15).

123

 

Người Ki-tô hữu tôn kính Cựu Ước như là Lời Thiên Chúa đích thật. Hội Thánh cực lực chống lại ý kiến đòi gạt bỏ Cựu Ước, viện cớ Tân Ước đã làm cho Cựu Ước ra lỗi thời (thuyết Mác-xi-on).

Tân Ứớc

 

124

"Lời Chúa là sức mạnh thần thiêng cứu độ mọi tín hữu, được trình bày và tỏ lộ quyền năng cách đặc biệt trong các sách Tân Ước" (DV 17). Các sách ấy trao cho chúng ta chân lý tối hậu của Mặc khải. Trung tâm của Tân Ước là Ðức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa nhập thể, các hành vi, lời giảng dạy, cuộc khổ nạn và tôn vinh của Người, cũng như những bước đầu của Hội thánh dưới tác động của Chúa Thánh Thần (DV 20).

 

125 515

Các Sách Tin Mừng là trung tâm của Thánh Kinh "vì là chứng từ tuyệt hảo về cuộc đời và giáo huấn của Ngôi Lời Nhập Thể, Ðấng Cứu Ðộ chúng ta" (DV 18).

 

126

 

Trong việc hình thành các sách Tin Mừng, người ta có thể phân biệt ba giai đoạn :

 

1. Cuộc đời và Giáo Huấn của Ðức Giê-su. "Hội Thánh luôn khẳng định lịch sử tính của bốn sách Tin Mừng, cũng như mạnh mẽ và liên tục xác nhận bốn sách Tin Mừng trung thành ghi lại những gì Ðức Giê-su Con Thiên Chúa khi sống giữa loài người, thực sự đã làm và đã dạy vì ơn cứu độ đời đời của họ, cho tới ngày Người lên trời".

76

 

2. Truyền khẩu . "Những gì Chúa đã nói và làm, thì sau cuộc thăng thiên của Nguời, các tông đồ truyền lại cho thính giả, với sự hiểu biết đầy đủ hơn mà chính các ông có được nhờ học ở những biến cố vinh hiển của Ðức Ki-tô và nhờ được Thánh Thần chân lý soi sáng".

 

76

 

3. Các sách Tin Mừng . "Các thánh ký đã soạn bốn sách Tin Mừng, bằng cách chọn một số trong nhiều yếu tố đã được truyền miệng hoặc sao chép, tóm lược những yếu tố khác hay tùy theo hoàn cảnh của các giáo đoàn mà giải thích thêm, nhưng vẫn giữ hình thức của bài giảng thuyết. Và như vậyluôn chân thành truyền đạt cho chúng ta những điều chân thật về Ðức Giê-su. " ( DV 19)

 

127 1154

 

Trong Hội Thánh, bốn sách Tin Mừng chiếm địa vị có một không hai : bằng chứng là phụng vụ luôn tôn kính và các thánh trong mọi thời đều say mê.

 

Không có giáo lý nào tốt hơn, quí hơn và sáng chói hơn bản văn Tin Mừng. Hãy xem và ghi nhớ những gì Ðức Ki-tô, là Chúa và là Thầy của chúng ta, đã dạy qua các lời nói và thực hiện qua các hành động của Người (Thánh Césaria la Jeune).

 

2705

 

Trên hết mọi sự, chính Tin Mừng bổ dưỡng tôi trong các giờ cầu nguyện; nơi đó, tôi tìm thấy tất cả những gì cần thiết cho linh hồn đáng thương của tôi. Nơi đó tôi luôn khám phá những ánh sáng mới mẻ, những ý nghĩa ẩn giấu và mầu nhiệm (Thánh Tê-rê-sa Hài Ðồng Giê-su).

 

Tính thống nhất giữa Cựu và Tân Ước

128 1094 489

 

Ngay từ thời các tông đồ ( x. 1Cr 10, 6. 11; Dt 10, 1; 1Pr 3, 21) và trong suốt truyền thống của mình, Hội Thánh đã soi sáng tính thống nhất của ý định Thiên Chúa trong cả hai Giao Ước, nhờ khoatiên trưng. Khoa này nhận ra, trong các công trình của Thiên Chúa dưới thời Cựu ước, những "hình ảnh báo trước" điều Thiên Chúa sẽ hoàn thành trong thời viên mãn, nơi Ngôi Lời nhập thể .

 

129 651 2055 1968

 

Vậy các ki-tô hữu phải đọc Cựu Ước dưới ánh sáng của Ðức Ki-tô chết và sống lại. Cách đọc tiên trưng này làm tỏ hiện nội dung vô tận của Cựu Ước. Nhưng không được quên rằng Cựu Ước vẫn có giá trị mặc khải riêng, mà chính Chúa Giê-su đã tái khẳng định ( x. Mc 12, 29-31). Ðàng khác, Tân Ước đòi hỏi cũng phải được đọc dưới ánh sáng Cựu Ước. Việc huấn giáo của Hội Thánh thời sơ khai luôn làm như vậy ( x. 1Cr 5, 6-8; 10, 1-11). Theo một ngạn ngữ cổ xưa, Tân Ước ẩn tàng trong Cựu Ước, Cựu Ước tỏ lộ trong Tân Ước "Novum in Vetere latet et in Novo Vetus patet" ( Th. Âu Tinh thất thư 2, 73; x. DV 16)

 

130

 

Khoa tiên trưng cho thấy sức năng động của kế hoạch Thiên Chúa đang tiến đến lúc hoàn thành khi "Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài" (1Cr 15, 28). Chẳng hạn việc kêu gọi các tổ phụ và cuộc xuất hành khỏi Ai cập, không phải vì chúng là những giai đoạn trung gian mà mất đi giá trị riêng của mình trong kế hoạch của Thiên Chúa.

 

V. KINH THÁNH TRONG ÐỜI SỐNG HỘI THÁNH

 

131

 

"Lời Chúa còn có sức mạnh và quyền năng có thể nâng đỡ và tăng cường Hội Thánh, ban sức mạnh đức tin, là lương thực linh hồn, nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu cho con cái Hội Thánh"( DV 21). Cần phải "mở rộng đường cho các Ki-tô hữu đến với Thánh Kinh"( DV 22).

 

132 94

 

"Nghiên cứu Thánh Kinh phải là hồn của khoa thần học thánh. Thừa tác vụ Lời Chúa - gồm có là việc rao giảng thuộc mục vụ, dạy giáo lý và mọi huấn dụ Ki-tô giáo, trong đó bài giảng phụng vụ phải chiếm một chỗ quan trọng-phải được nuôi dưỡng và gia tăng sinh lực cách lành mạnh, nhờ lời Thánh Kinh (DV 24)".

 

133 2653 1792

 

Hội Thánh "tha thiết và đặc biệt khuyến khích mọi Ki-tô hữu "hãy năng đọc Thánh Kinh để học biết khoa học siêu việt của Ðức Giê-su Ki-tô (Pl 3, 8). "Vì không biết Thánh Kinh là không biết Ðức Ki-tô" (Thánh Giê-rô-ni-mô) (DV 25).

TÓM LƯỢC

 

134

 

"Toàn bộ Thánh Kinh chỉ là một cuốn sách duy nhất, và cuốn sách duy nhất ấy chính là Ðức Ki-tô, vì toàn bộ Thánh Kinh nói về Ðức Ki-tô và được hoàn tất trong Ðức Ki-tô" ( Hugues de Saint Dearen, Nô-ê 2, 8 PL 176, x. ibid 2, 9).

 

135

 

"Các sách Thánh Kinh chứa đựng Lời Thiên Chúa và vì được linh hứng, nên thực sự là Lời Chúa" (DV 24).

 

136

 

Thiên Chúa là tác giả của Thánh Kinh theo nghĩa Người là Ðấng linh hứng các tác giả nhân loại: Người tác động nơi họ và qua họ. Như thế, Người bảo đảm các tác phẩm của họ giảng dạy không sai lầm chân lý cứu độ (x. DV 11).

137

 

Muốn giải nghĩa các Sách Thánh đã được Thiên Chúa linh hứng, trước hết phải chú tâm đến điều Thiên Chúa muốn mặc khải qua các thánh ký, để cứu độ chúng ta. "Ðiều gì phát sinh từ Thánh Thần chỉ hiểu được trọn vẹn nhờ Thánh Thần"( Ô-ri-giê-nê, bài giảng Xh 4, 5 PL 176, 642; 643).

138

 

Hội Thánh đón nhận và tôn kính 46 sách của Cựu Ước và 27 sách của Tân Ước như là những sách được Thiên Chúa linh hứng .

139

 

Bốn quyển Tin Mừng chiếm địa vị trung tâm của toàn bộ Thánh Kinh, vì Ðức Ki-tô là trung tâm của Tin Mừng.

140

 

Vì Thiên Chúa chỉ có một ý định cứu độ nhân loại và chỉ có một mặc khải duy nhất, nên cả hai giao ước thống nhất với nhau: Cựu Ước chuẩn bị cho Tân ước, Tân Ước hoàn tất Cựu ước, cả hai soi sáng cho nhau, cả hai đều thật sự là Lời Thiên Chúa.

141

 

"Hội Thánh vẫn luôn tôn kính Thánh Kinh như từng tôn kính chính Mình Thánh Chúa ( x. DV 21)": cả hai nuôi dưỡng và chi phối toàn diện đời sống Ki-tô hữu. "Lời Ngài là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi" (Tv 119, 105) ( x. Is 50, 4).

 

Phần I - Đoạn I - Chương III

CHƯƠNG BA
CON NGƯỜI ÐÁP LỜI THIÊN CHÚA
 
142 1102
 
Nhờ mặc khải, "do tình yêu vô biên, Thiên Chúa vô hình ngỏ lời với con người như với bạn hữu. Người đối thoại với họ, để mời gọi cho họ hiệp thông với Người" (x. DV 2). Ðức tin là lời đáp trả thích đáng của con người trước lời mời gọi của Thiên Chúa.
143 2087
 
Nhờ Ðức Tin, con người đem tất cả trí khôn và ý chí của mình suy phục Thiên Chúa. Con người đặt trọn bản thân qui thuận Ðấng mặc khải là Thiên Chúa (x. DV 5) : Thánh Kinh gọi cách đáp trả này là "sự vâng phục bằng Ðức Tin" (x. Rm 1, 5;16, 26).
 
Mục 1
 
1814-1816
 
Tôi tin
 
I. SỰ VÂNG PHỤC BẰNG ÐỨC TIN
 
144
 
Vâng phục trong đức tin là tự nguyện vâng phục lời đã nghe, bởi vì chân lý của lời đó được Thiên Chúa là chính Chân Lý bảo đảm. Thánh Kinh trưng dẫn ông Áp-ra-ham như gương mẫu của sự vâng phục này. Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a là người thể hiện lòng vâng phục ấy cách hòan hảo nhất.
 
Ông Áp-ra-ham - "tổ phụ của tất cả những người tin"
 
145 59, 2570 489
 
Thư gửi tín hữu Do Thái, trong bài tán dương đức tin của tổ tiên, đặc biệt nhấn mạnh đức tin của ông Áp-ra-ham: "Nhờ đức tin, ông Áp-ra-ham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi, đến một nơi ông sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp, và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu" (Dt 11, 8) (x. St 12, 1-4). Nhờ đức tin, ông đã sống như kẻ xa lạ và người lữ hành trong đất hứa (x. St 23, 4). Nhờ đức tin, bà Sa-ra đã thụ thai người con của lời hứa. Cuối cùng, nhờ đức tin, ông Áp-ra-ham đã dâng hiến con một mình làm hy lễ (x. St 11, 17).
146 1819
 
Như vậy, ông Áp-ra-ham thực hiện điều thư Do Thái định nghĩa về đức tin: "Ðức tin là bảo đảm cho nhữngđiềuhyvọng, làbằng chứng của những điều ta không xem thấy" (Dt 11, 1). "Ông Áp-ra-ham tin Thiên Chúa, và vì thế, được kể là người công chính" (Rm 4, 3) (x. St15, 6). Nhờ "đức tin vững mạnh ấy" (Rm 4, 20), ông Áp-ra-ham trở thành "tổ phụ của tất cả những người tin" (Rm 4, 11. 18)(x. St 15, 5).
 
147 839
 
Cựu Ước nêu lên rất nhiều chứng từ về đức tin ấy. Thư Do Thái tán tụng đức tin gương mẫu của tiền nhân, "nhờ đó các ngài đã được Thiên Chúa chứng nhận" (Dt 11, 2. 39). Tuy nhiên, "Thiên Chúa đã trù liệu cho chúng ta một phần phúc tốt hơn": ơn được tin vào Ðức Giê-su Con của Người, "là Ðấng khai mở và kiện toàn đức tin của chúng ta" (Dt 11, 40 ; 12, 2).
 
Ðức Ma-ri-a - "Phúc thay người đã tin"
148 494, 2617 506
 
Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a thể hiện cách hoàn hảo nhất lòng vâng phục bằng đức tin. Vì tin rằng "đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể được" (Lc 1, 37) nên Mẹ đã đón nhận lời của sứ thần Gáp-ri-en loan báo và đoan hứa, và tỏ lòng ưng thuận : "Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa làm cho tôi như lời sứ thần nói" (Lc 1, 38). Bà Ê-li-sa-bét đón chào Mẹ: "Em thật có phúc vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói cho em biết" (Lc 1, 45). Chính vì đức tin này mà Mẹ sẽ được mọi đời khen là diễm phúc (x. St 18, 14 ; Lc 1, 48).
 
149 969 507, 829
 
Trong suốt cuộc đời, và cho đến giờ thử thách cuối cùng (x. Lc 2, 35), khi Ðức Giê-su Con của Mẹ chết trên Thánh Giá, đức tin của Mẹ không hề lay chuyển. Mẹ không ngừng tin rằng lời Chúa sẽ "ứng nghiệm". Chính vì thế, Hội Thánh tôn kính Mẹ là Người đã thể hiện đức tin tinh tuyền nhất .
 
II. "TÔI BIẾT TÔI ÐÃ TIN VÀO AI" (2Tm 1, 12)
Chỉ tin vào Thiên Chúa
 
150 222
 
Tin trước hết là gắn bó bản thân con người với Thiên Chúa, đồng thời cũng là tự nguyện chấp nhận tất cả chân lý Thiên Chúa đã mặc khải: Nhờ bao gồm cả hai điều trên, đức tin Kitô giáo khác với việc tin tưởng một người phàm. Thật là chính đáng và phải đạo khi phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa và tin tuyệt đối điều Người dạy. Thật vô ích và lầm lạc khi trao gởi một niềm tin như thế cho một thụ tạo (Gr 17, 5-6; Tv 40, 5; 146, 3-4).
 
Tin vào Ðức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa
 
151 424
 
Ðối với người Ki-tô hữu, tin vào Thiên Chúa không thể tách rời được với tin vào Ðấng mà Người đã cử đến là "Con Chí Ái của Người" đẹp lòng Người mọi đàng" (Mc 1, 11); và Thiên Chúa dạy chúng ta phải nghe lời Ðấng ấy (x. Mc 9, 7). Chính Chúa cũng nói với môn đệ : "Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy" (Ga 14, 1). Chúng ta có thể tin vào Ðức Giê-su Ki-tô vì chính Người là Thiên Chúa, là Ngôi Lời nhập thể : "Không ai thấy Thiên Chúa bao giờ, chỉ có Con Một, là Ðấng hằng ở trong lòng Chúa Cha, chính Người mới tỏ cho chúng ta biết Thiên Chúa" (Ga 1, 18). Vì "thấy Chúa Cha" (Ga 6, 46) nên chỉ một mình Người biết và có thể mặc khải Chúa Cha cho chúng ta (x. Mt 11, 27).
 
Tin vào Chúa Thánh Thần
152 243, 683
 
Người ta không thể tin vào Ðức Giê-su mà không thông phần vào Thánh Thần của Người. Chính Thánh Thần mặc khải cho loài người biết Ðức Giê-su là ai. Không ai có thể tuyên xưng "Ðức Giê-su là Ðức Chúa, nếu không nhờ tác động của Thánh Thần" (1Cr 12, 3). "Thánh Thần thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa. Không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thánh Thần của Thiên Chúa" (1Cr 2, 10-11). Chỉ mình Thiên Chúa biết trọn vẹn về Thiên Chúa. Chúng ta tin vào Thánh Thần vì Người là Thiên Chúa.
 
232
 
Hội Thánh không ngừng tuyên xưng đức tin vào một Thiên Chúa duy nhất, là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
 
III. NHỮNG ÐẶC ÐIỂM CỦA ÐỨC TIN
 
Ðức tin là một ân sủng
153 552 1814 1996 2606
 
Khi Thánh Phê-rô tuyên xưng Ðức Giê-su là Ðấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống, Ðức Giê-su tuyên bố với thánh nhân rằng : "Phàm nhân không tài nào mặc khải cho anh điều ấy được, nhưng chính là Cha của Thầy, Ðấng ngự trên trời đã mặc khải"(Mt 16, 17) (x. Gl 1, 15; Mt 11, 25). Ðức tin là hồng ân của Thiên Chúa, là nhân đức siêu nhiên do Người phú bẩm. Ðể có được đức tin nầy, cần có ân sủng Thiên Chúa đi trước giúp đỡ và có sự trợ giúp bên trong của Chúa Thánh Thần, Ðấng thúc đẩy và qui hướng con tim về cùng Thiên Chúa, mở mắt tinh thần và ban cho "mọi người cảm thấy dịu ngọt khi đón nhận và tin theo chân lý" (DV 5).
 
Ðức tin là một hành vi nhân linh
 
154 1749 2126
 
Chỉ có thể tin nhờ ân sủng và những trợ lực bên trong của Thánh Thần. Tuy vậy, tin vẫn là một hành vi đích thực của con người. Tin tưởng Thiên Chúa và gắn bó với những chân lý mặc khải không đi ngược với tự do và trí khôn con người. Ngay trong những giao tiếp giữa người với người, chúng ta không đi ngược với phẩm giá của mình khi tin những gì người khác nói về chính họ hoặc về ý hướng của họ, và khi tin tưởng vào những lời hứa của họ (chẳng hạn lời hứa hôn nhân) để hiệp thông với họ. Vậy càng không ngược lại với phẩm giá con người, nếu "với đức tin, chúng ta hoàn toàn sáng suốt và tự do qui phục Thiên Chúa, Ðấng mặc khải" (x. Cđ Va-ti-can I; DS 3008), hiệp thông mật thiết với Người.
 
155
 
Trong đức tin, trí khôn và ý chí con người hợp tác với ân sủng Thiên Chúa : "Tin là một hành vi của trí khôn chấp nhận chân lý mặc khải theo lệnh của ý chí được ân sủng Thiên Chúa tác động" (Th. Tô-ma Aq. toàn thư 2-2, 2, 9; x. Cđ Va-ti-can I:DS 3010).
 
Ðức tin và trí khôn
 
156 1063 2465 548 812
 
Lý do để tin không nằm ở chỗ các chân lý mặc khải được chúng ta thấy là đúng và hiểu được theo ánh sáng của lý trí tự nhiên. Chúng ta tin "vì uy quyền của chính Thiên Chúa, Ðấng mặc khải không thể sai lầm cũng như không lừa dối chúng ta". "Tuy vậy, để sự ưng thuận của đức tin phù hợp với lý trí, Thiên Chúa đã muốn những bằng chứng bên ngoài của mặc khải đi kèm theo ơn Thánh Thần trợ lực bên trong (x. Nt, DS 3009). Vì thế các phép lạ của Ðức Ki-tô và các thánh
(x. Mc 16, 20;Dt 2, 4), các lời tiêntri, sự lan tràn và sự thánh thiện, sự phong nhiêu và sự vững bền của Hội Thánh "là những dấu chỉ chắc chắn của mặc khải, phùhợp với trí khôn của mọi người", là những lý do của tính khả tín giúp cho sự ưng thuận của đức tin "hoàn toàn không phải là động tác mù quáng của tinh thần" (x. Cđ Va-ti-can I: DS 3008-3010).
157 2088
 
Ðức tin chắc chắn, chắc chắn hơn mọi hiểu biết phàm nhân, vì lấy chính Lời Thiên Chúa làm nền tảng, mà Thiên Chúa thì không thể nói dối được. Hẳn là các chân lý mặc khải có thể bị lý trí và kinh nghiệm loài người cho là mờ tối, nhưng "sự chắc chắn mà ánh sáng Thiên Chúa ban còn lớn hơn sự chắc chắn mà ánh sáng của lý trí tự nhiên đem lại" (Th. Tô-ma Aq. tổng luận 2-2, 171, 5/3). "Trăm ngàn khó khăn không đủ làm thành một ngờ vực nào" (Newman, biên hộ).
158 2705 1827 90 2518
 
"Khi tin người ta muốn tìm hiểu điều mình tin" (Thánh An-xen-mô, prosl. proem) : có một điều gắn liền với đức tin là người tin ước muốn biết rõ hơn Ðấng mình tin và hiểu rõ hơn điều Người mặc khải; ngược lại, một hiểu biết thấu đáo hơn lại đòi hỏi một đức tin lớn hơn, ngày càng đượm nồng tình yêu. Ơn đức tin mở "con mắt tâm hồn" (Ep 1, 18) dẫn đến một hiểu biết sống động về nội dung mặc khải, tức là về toàn bộ ý định của Thiên Chúa và những mầu nhiệm đức tin, về tương quan giữa các mầu nhiệm với nhau và với Ðức Ki-tô, trung tâm của mầu nhiệm được mặc khải. Ðằng khác, để "làm cho việc hiểu biết mặc khải luôn thêm sâu sắc, Thánh Thần không ngừng nhờ các ân huệ của Người giúp đức tin được thêm hoàn hảo" (x. Pv 5). Thánh Âu Tinh nói : "Tôi tin để hiểu và tôi hiểu để tin tốt hơn" (Bài giảng 43, 7, 9).
 
159 283 2293
 
Ðức tin và khoa học. "Mặc dù đức tin vượt trên lý trí, nhưng không bao giờ hai bên thực sự mâu thuẫn nhau : Ðấng mặc khải các mầu nhiệm và thông ban đức tin, cũng chiếu rọi ánh sáng khôn ngoan xuống tâm trí con người, Thiên Chúa không thể tự phủ nhận chính mình, cũng như điều chân thật không bao giờ nghịch lại điều chân thật" (x. Cđ Va-ti-can I:DS 3017). Bởi vậy, việc nghiên cứu có phương pháp trong mọi ngành, nếu tiến hành một cách thật sự khoa học và theo các tiêu chuẩn luân lý, sẽ không bao giờ trái nghịch với đức tin, vì các thực tại trần thế và các thực tại đức tin đều bởi một Thiên Chúa mà ra. Hơn nữa, những ai kiên nhẫn và khiêm tốn cố gắng nghiên cứu sâu xa những bí ẩn của các sự vật, thì mặc dù không ý thức, họ như được bàn tay Thiên Chúa hướng dẫn, vì Người là Ðấng bảo trì muôn loài và khiến chúng hiện hữu theo bản tính riêng của chúng" (GS 36, 2).
 
Ðức tin là hành vi tự do
 
160 1738, 2106 616
 
Ðể là một hành vi của con người, "đức tin mà con người đáp lại Thiên Chúa phải là tự nguyện. Do đó, không ai bị cưỡng bức phải chấp nhận đức tin trái với ý muốn. Thật vậy, tự bản chất đức tin là một hành vi tự ý". Hẳn nhiên, Thiên Chúa mời gọi con người phục vụ Người trong tinh thần và trong chân lý; con người có bổn phận theo lương tâm đáp lại lời mời gọi ấy, nhưng không bị cưỡng ép... . Ðức Ki-tô đã thể hiện điều này cách tuyệt hảo"(DH 11). Thật vậy, Ðức Ki-tô đã mời gọi người ta tin và hoán cải, Người hoàn toàn không cưỡng ép ai. "Người đã làm chứng cho chân lý, nhưng không muốn dùng sức mạnh để bắt buộc những kẻ đối lập phải tin theo. Nước Người phát triển nhờ tình yêu, tình yêu mà chính Người tỏ lộ trên Thập Giá, để lôi kéo mọi người đến với mình"(DH 11).
 
Ðức tin cần thiết để được cứu độ
161 432, 1257846
 
Tin vào Ðức Giê-su Ki-tô và Ðấng đã cử Người đến để cứu độ chúng ta là điều cần thiết để đạt được ơn cứu độ ấy (x. Mc 16, 16; Ga 3, 36; 6, 40 e. a). "Vì "không có đức tin thì không thể đẹp lòng Thiên Chúa" (Dt 11, 6) và cũng không thể chia sẻ chức vị làm con Thiên Chúa, nên không ai được công chính hóa mà không cần Ðức Tin, và "nếu không bền chí trong đức tin cho đến cùng"(Mt 10, 22; 24, 13), không ai đạt tới cuộc sống muôn đời" (Cđ Va-ti-can I: DS 3012; x. cđ Tren-tô:DS 1532).
 
Kiên trì trong Ðức Tin
162 2089 1037, 2016 2573, 2849
 
Ðức Tin là một hồng ân Thiên Chúa ban nhưng không cho con người. Chúng ta có thể đánh mất hồng ân vô giá đó. Thánh Phao-lô cảnh giác Ti-mô-thê : "Hãy chiến đấu trong cuộc chiến cao đẹp này, với đức tin và lương tâm ngay thẳng. Một số người đã vứt bỏ lương tâm ngay thẳng đó, nên đức tin của họ đã bị chết chìm" (1Tm 1, 18-19). Ðể sống, lớn lên và bền chí đến cùng trong đức tin, chúng ta phải nuôi dưỡng đức tin bằng Lời Thiên Chúa; chúng ta phải nài van Chúa gia tăng đức tin (x. Mc 9, 24; Lc 17, 5; 22, 32). Ðức tin phải "hành động nhờ đức ái" (Gl 5, 6) (x. Gc 2, 14-26), được đức cậy nâng đỡ (x. Rm 15, 13) và đâm rễ trong đức tin của Hội Thánh.
 
Ðức tin là khởi điểm của cuộc sống muôn đời
 
163 1088
 
Ðức tin cho ta được nếm trước niềm hoan lạc và ánh sáng của ơn phúc nhìn thấy Thiên Chúa, mục đích của cuộc lữ hành dưới thế này của chúng ta. Bấy giờ chúng ta sẽ nhìn thấy Thiên Chúa "mặt giáp mặt" (1Cr 13, 12), và "Người thế nào chúngta sẽ được thấy như vậy" (1Ga 3, 2). Do đó đức tin là khởi điểm của cuộc sống muôn đời :
 
Ngay từ bây giờ chúng ta chiêm ngắm những phúc lộc của đức tin như một hình ảnh phản chiếu trong gương, và như thể chúng ta đang nắm được những điều kỳ diệumà đức tin bảo đảm với chúng ta rằng một ngày kia chúng ta sẽ được hưởng (Thánh Ba-si-li-ô, Thánh Thần 15, 36);
x. Thánh Tô-ma Aqu. toàn thư 2-2, 4, 1).
 
164 2846 309, 1502 1006
 
Tuy nhiên, hiện giờ chúng ta "tiến bước trong đức tin chứ chưa được thấy nhãn tiền" (2Cr 5, 7), và nhận biết Thiên Chúa "như trong một tấm gương, một cách lờ mờ, có ngần, có hạn" (1Cr 13, 12). Mặc dầu đức tin được sáng tỏ nhờ Ðấng chúng ta tin, chúng ta thường phải sống đức tin trong mờ tối. Ðức tin có thể bị thử thách. Thế giới nơi chúng ta đang sống thường có vẻ khác xa những gì đức tin đoan quyết với chúng ta. Các kinh nghiệm về sự dữ và đau khổ, về những bất công và cái chết, dường như phản bác Tin Mừng. Những điều đó có thể làm cho đức tin nao núng và trở thành một cám dỗ cho người tin.
 
165 2719
 
Chính bấy giờ là lúc chúng ta phải hướng lòng về các nhân chứng đức tin: - Ông Áp-ra-ham, là người đã tin, "vẫn trông cậy, mặc dầu không còn gì để trông cậy" (Rm4, 18) - Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a, là người, "trong cuộc lữ hành đức tin" (LG 58), đã đi vào tận "đêm tối của đức tin" (Gio-an Phao-lô II, RM 18) khi hiệp thông với khổ hình Thập Giá và đêm đen trong mồ của Con; - và bao nhiêu nhân chứng đức tin khác nữa : "Ðược ngần ấy nhân chứng đức tin bao quanh, khác nào một đám mây, chúng ta hãy cởi bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình, và hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, mắt gắn chặt vào Ðức Giê-su là Ðấng khai mở và kiện toàn lòng tinchúng ta" (Dt 12, 1-2).
 
Mục 2
Chúng tôi tin
166 875
 
Ðức tin là một hành vi cá nhân: Con người tựnguyện đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, Ðấng tự mặc khải. Nhưng đức tin không phải là một hành vi riêng rẽ. Không ai có thể tin một mình, cũng như không ai có thể sống một mình. Không ai tự ban cho mình đức tin, cũng như không ai tự ban cho mình sự sống. Người tin nhận được đức tin từ kẻ khác, phải truyền đức tin lại cho kẻ khác. Tình yêu của chúng ta đối với Ðức Giê-su và tha nhân, thúc giục chúng ta nói với người khác về đức tin của chúng ta. Như thế, mỗi tín hữu là một mắt xích trong dây chuyền rộng lớn các tín hữu. Tôi không thể tin mà không có đức tin của người khác đỡ nâng, và với đức tin của tôi, tôi góp phần vào việc nâng đỡ đức tin của kẻ khác.
 
167 1124 2040
 
"Tôi tin" (Kinh Tin Kính các tông đồ) : Ðây là đức tin của Hội Thánh, được mỗi tín hữutuyên xưng, đặc biệt lúc chịu phép Thánh Tẩy. "Chúng tôi tin" (Kinh Tin Kính Nicéa) : Ðây là đức tin của Hội Thánh, được các giám mục họp thành Công Ðồng hoặc, thông thường hơn, được cộng đoàn tín hữu cử hành phụng vụ cùng tuyên xưng. "Tôi tin": đây cũng là Hội Thánh, Mẹ chúng ta, đang lấy đức tin mà đáp lời Thiên Chúa, và dạy chúng ta nói : "tôi tin", "chúng tôi tin".
 
I. "LẠY CHÚA, XIN NHÌN ÐẾN ÐỨC TIN CỦA HỘI THÁNH CHÚA"
 
168 1253
 
Trước tiên, chính Hội Thánh đã tin, và như thế, mang lấy, dưỡng nuôi và nâng đỡ đức tin của tôi. Trước tiên chính Hội Thánh ở khắp nơi tuyên xưng Chúa như chúng ta hát trong kinh "Te Deum": "Và khắp trên hoàn vũ, Hội Thánh hoan hỉ tuyên xưng Chúa là Chúa của mình". Với Hội Thánh và trong Hội Thánh, chúng ta được thúc đẩy và hướng dẫn tuyên xưng : "tôi tin", "chúng tôi tin". Chính qua Hội Thánh mà chúng ta lãnh nhận đức tin và đời sống mới trong Ðức Ki-tô nhờ phép Thánh Tẩy. Trong sách "Nghi thức Rô-ma ", thừa tác viên cử hành bí tích Thánh Tẩy hỏi người dự tòng : "Con xin gì cùng Hội Thánh Thiên Chúa? - Thưa : Con xin Ðức tin. Ðức tin làm ích gì cho con ?- Thưa đức tin cho con sự sống đời đời" (OBA).
 
169 750 2030
 
Chỉ có Thiên Chúa ban ơn cứu độnhưng bởi vì chúng ta lãnh nhận đời sống đức tin qua Hội Thánh, nên Hội Thánh là mẹ chúng ta : "Chúng tôi tin Hội Thánh là mẹ ban cho chúng tôi sự sống mới, chứ không tin vào Hội Thánh như tác giả của ơn cứu độ (Faustus de Riez, Spir. 1, 2.) . Vì là mẹ, Hội Thánh cũng là người giáo dục đức tin".
 
II. NGÔN NGỮ ÐỨC TIN
 
170 186
 
Chúng ta không tin vào những công thức, nhưng tin vào những thực tại mà các công thức đó diễn đạt, và đức tin cho phép chúng ta "chạm tới được". "Hành vi đức tin của người tín hữu không dừng lại ở lời phát biểu, mà ở thực tại được pháp biểu (ThánhTô-ma Aqu. toàn thტ-2, 1, 2, ad 2)". Tuy nhiên, chúng ta tiếp cận những thực tại đó nhờ những công thức diễn tả đức tin. Những công thức này cho phép diễn đạt và lưu truyền đức tin, bày tỏ đức tin trong các buổi cử hành cộng đoàn, hấp thụ và sống đức tin ngày một hơn.
171 78, 857, 84 185
 
Hội Thánh là "cột trụ và điểm tựa của chân lý" (1Tm 3, 15), trung thành bảo toàn "đức tin đã đượctruyền lại cho dân thánh một lần dứt khoát" (Gđ 3). Chính Hội Thánh ghi nhớ những Lời của Ðức Ki-tô và lưu truyền từ đời nọ đến đời kia lời tuyên xưng đức tin của các tông đồ. Như mẹ dạy con nói, để nhờ đó con được hiểu biết và trao đổi với người khác, Hội Thánh, Mẹ chúng ta, dạy chúng ta nói ngôn ngữ đức tin nhằm giúp chúng ta hiểu biết và sống đức tin.
 
III. MỘT ÐỨC TIN DUY NHẤT
172 813
 
Từ bao thế kỷ, qua bao ngôn ngữ, bao nền văn hóa, bao dân tộc và quốc gia, Hội Thánh không ngừng tuyên xưng đức tin duy nhất, lãnh nhận từ một Chúa duy nhất, lưu truyền nhờ một Phép Rửa duy nhất, ăn sâu trong niềm xác tín rằng tất cả mọi người chỉ có một Thiên Chúa là Cha duy nhất (x. Ep 4, 4-6). Thánh I-rê-nê thành Ly-on, người đã làm chứng cho đức tin ấy, tuyên bố :
173 830
 
"Thật vậy, dù phân tán trên toàn thế giới cho tới tận cùng trái đất, nhưng vì đã lãnh nhận đức tin từ các Tông đồ và môn đệcác ngài, nên Hội Thánh ân cần gìn giữ lời rao giảng và đức tin đó như thể chỉ ở trong một ngôi nhà duy nhất, cùng tin một cách như nhau, như thế chỉ có một tâm hồn và một trái tim duy nhất, đồngthanh rao giảng, dạydỗ và lưu truyền lại lời rao giảng và đức tin ấy, như thể chỉ có một miệng lưỡi duy nhất" (Chống lạc giáo 1, 10, 1-2).
 
174 78
 
"Vì, nếu trên toàn thế giới, các ngôn ngữ có khác nhau, nội dung Thánh Truyền vẫn là một và đồng nhất. Và các Giáo Ðoàn được thiết lập tại Ðức không hề có một đức tin hay một Truyền Thống nào khác, cả các Giáo Ðoàn I-be-rơ (Tây Ban Nha cổ), các Giáo Ðoàn người Xen-tơ (Pháp cổ), các Giáo Ðoàn ở Ðông Phương, ở Ai Cập, ở Li-By hay tại trung tâm thế giới cũng vậy... " (Ibid). "Như thế sứ điệp của Hội Thánh là chân thật và vững chắc, bởi chính trong Hội Thánh mà con đường cứu độ duy nhất xuất hiện trên khắp thế giới".
 
175
 
Ðức tin mà chúng ta đã lãnh nhận từ Hội Thánh, chúng ta phải ân cần gìn giữ. Ví như một kho tàng quí giá chứa đựng trong một bình quí dưới tác động của Thánh Thần Thiên Chúa, đức tin luôn luôn tươi trẻ và làm tươi trẻ chính bình chứa là Hội Thánh (Ibid, 3, 24, 1).
 

TÓM LƯỢC
 
176
 
Tin là gắn bó bản thân con người cả trí khôn và ý chí với Thiên Chúa, Ðấng tự mặc khải qua các việc làm và lời nói của Người.
 
177
 
"Tin" qui chiếu vào hai điểm : Ðấng mặc khải và chân lý mặc khải. Chúng ta tin chân lý mặc khải vì tin tưởng ở Ðấng mặc khải.
 
178
 
Chúng ta không được tin ai khác ngoài Thiên Chúa, là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
 
179
 
Ðức tin là một hồng ân siêu nhiên của Thiên Chúa. Ðể tin, con người cần đến những trợ lực bên trong của Thánh Thần.
 
180
 
"Tin" là hành vi của con người, có ý thức và tự do, xứng hợp với phẩm giá con người.
 
181
 
"Tin" là hành vi có chiều kích Hội Thánh . Ðức tin của Hội Thánh đi trước, sinhra, nâng đỡ và dưỡng nuôi đức tin của chúng ta. Hội Thánh là Mẹ của mọi tín hữu. "Không thể có Thiên Chúa là Cha nếu không nhận Hội Thánh là mẹ" (Thánh Síp-ri-a-nô, Giáo hội hợp nhất).
 

182
 
"Chúng ta tin tất cả những gì chứa đựng trong Lời Thiên Chúa, được viết hoặc lưu truyền, và do Hội Thánh dạy chúng ta tin như chân lý được Thiên Chúa mặc khải" (SPF 20).
 

183
 
Ðức tin cần thiết để được cứu độ. Chính Chúa khẳng định : "Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ : còn ai không tin thì sẽ bị kết án" (Mc 16, 16).
 

184
 
"Ðức tin là nếm trước điều chúng ta sẽ được hưởng trong cuộc sống hạnh phúc mai sau" (Thánh Tô-ma Aq. giản lược 1, 2). 
 
 

Kinh Tin Kính

Kinh Tin Kính
 
KINH TIN KÍNH CÁC TÔNG ÐỒ:
 

 KINH TIN KÍNH CÁC TÔNG ÐỒ

KINH TIN KÍNH CÔNG ÐỒNG NIXÊ CON-TAN-TI-NÔ-PÔ-LI

* Tôi tin kính Ðức Chúa Trời

Tôi tin kính một Thiên Chúa duy nhất

* Là Cha phép tắc vô cùng

Là Chúa Cha toàn năng,

* dựng nên trời đất

 Ðấng tạo thành trời đất muôn vật hữu hình và vô hình

* Tôi tin kính Ðức Giê-su Ki-tô

Tôi tin kính một Chúa duy nhất

* là Con Một Ðức Chúa Cha

là Ðức Giê-su Ki-tô,

* cùng là Chúa chúng tôi

Con Một Thiên Chúa,

 

Sinh bởi Chúa Cha từ trước muôn đời :

 

Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa;

 

Ánh sáng bởi ánh sáng;

 

Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật

 

được sinh ra mà không phải được tạo thành.

 

Ðồng bản tính với Chúa Cha:

 

Nhờ Người mà muôn vật được tạo thành.

 

Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi

 

Người đã từ trời xuống thế;

* Bởi phép Ðức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai

Bởi phép Chúa Thánh Thần

* Sinh bởi bà Ma-ri-a đồng trinh,

Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Ma-ri-a và đã làm người.

* Chịu nạn đời quan Phong-Xi-ô Phi-la-tô

Vì chúng tôi Người chịu đóng đinh vào thập giá dưới thời Phong-xi-ô Phi-la-tô

* Chịu đóng đinh trên cây Thánh Giá, chết và táng xác,

Người chịu khổ hình và mai táng 

* Xuống ngục tổ tông.

 

* Ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại,

Ngày thứ ba Người sống lại đúng như lời Thánh Kinh,

* lên trời,

Người lên trời

* ngự bên hữu Ðức Chúa Cha phép tắc vô cùng

ngự bên hữu Chúa Cha

* Ngày sau bởi trời lại xuống

và Người sẽ lại đến trong vinh quang

* phán xét kẻ sống và kẻ chết

để phán xét kẻ sống và kẻ chết

 

triều đại Người sẽ vô cùng vô tận.

* Tôi tin kính Ðức Chúa Thánh Thần,

Tôi tin kính Chúa Thánh Thần

 

Người là Chúa và là Ðấng ban sự sống;

 

Người phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con.

 

Người cùng được phụng thờ và tôn vinh với Chúa Cha và Chúa Con

 

Người đã dùng các ngôn sứ mà phán dạy.

* Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này,

Tôi tin có một Hội Thánh duy nhất thánh thiện, công giáo và tông truyền

* Các thánh thông công

 

* Tôi tin phép tha tội

Tôi tuyên xưng có một phép rửa duy nhất để tha tội

* Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại

Tôi đợi trông ngày kẻ chết sống lại

* tôi tin hằng sống vậy

và sự sống đời sau.

* A-men

 A-men

 

 

 

Phần I - Đoạn II - Chương I

ÐOẠN THỨ HAI
TUYÊN XƯNG ÐỨC TIN KI-TÔ GIÁO
NHỮNG BẢN TUYÊN XƯNG ÐỨC TIN
185 174, 949
Nói " Tôi tin" nghĩa là "tôi nhập cuộc vào những điều chúng tôi tin". Sự thông hiệp trong đức tin cần có một ngôn ngữ chung của đức tin, làm chuẩn mực cho tất cả và kết hợp mọi người khi cùng tuyên xưng đức tin.
186
Ngay từ đầu, Hội Thánh của các tông đồ đã diễn đạt và thông truyền đức tin của mình trong những công thức ngắn và chuẩn mực cho mọi người (x. Rm 10, 9; 1Cr 15, 3-5; v. v.). Chỉ ít lâu sau, Hội Thánh cũng muốn thu thập những điểm cốt yếu của đức tin vào những bản tóm lược có hệ thống, phân chia thành điều khoản, chủ yếu dành cho những người chuẩn bị lãnh Bí tích Thánh Tẩy.
Bản tổng hợp đức tin này được soạn thảo không dựa theo ý kiến loài người, nhưng dựa trên những giáo lý quan trọng nhất của toàn bộ Thánh Kinh, để tạo nên một giáo huấn đức tin duy nhất. Như hạt giống mang mầm sống của cả một cây lớn, bản tóm lược đức tin ấy chứa đựng trong ít lời, toàn bộ tri thức về lòng đạo chân thật của Cựu Ước và Tân Ước(Giáo lý Th. Xy-ri-lô thành Giê-ru-sa-lem. 5, 12).
187
Chúng ta gọi các bản tổng hợp đức tin ấy là bản "tuyên xưng đức tin", vì chúng tóm lược đức tin mà các Kitô hữu tuyên xưng; gọi là Kinh "Tin Kính" vì thường bắt đầu bằng câu "Tôi tin kính", có khi còn gọi là bản "tín biểu" nữa.
188
" Tín biểu " là chữ tắt của "biểu tượng đức tin". Chúng ta dùng chữ "biểu, biểu tượng" được dịch từ "Symbolon" của tiếng Hi Lạp có nghĩa là phân nửa một vật được bẻ ra (chẳng hạn: đồng tiền bẻ đôi) mà người ta xuất trình như một dấu hiệu để nhận ra nhau. "Tín biểu" là một dấu hiệu để các tín hữu nhận ra nhau, hiệp thông với nhau. "Symbolon" cũng có nghĩa là một sưu tập, hay là bản tóm lược. Do đó Tín biểu là sưu tập những chân lý chính yếu của đức tin và trở thành điểm qui chiếu thứ nhất và căn bản của huấn giáo.
189 1237, 232
Lời "tuyên xưng đức tin" đầu tiên được thực hiện khi nhận phép rửa tội. "Tín biểu" trước hết là tín biểu của Bí tích Thánh Tẩy. Vì Bí tích Thánh Tẩy được ban "nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần" (Mt 28, 19) nên những chân lý của đức tin tuyên xưng trong phép rửa tội, được sắp xếp qui về Ba Ngôi Thiên Chúa.
190
Do đó Tín biểu được chia làm ba phần : "Trước hết, nói về Thiên Chúa Ngôi Nhất và công trình sáng tạo kỳ diệu; kế đến Thiên Chúa Ngôi Hai và mầu nhiệm Cứu chuộc con người; sau hết Thiên Chúa Ngôi Ba, cội nguồn và nguyên lý thánh hóa chúng ta" (Giáo lý Rô-ma 1, 1, 3.). Ðó là "ba chương của ấn tín (rửa tội)" (Th. I-rê nê , Dem 100.).
191
"Ba phần đó tuy khác biệt nhưng nối kết với nhau. Dựa theo các Giáo Phụ chúng ta gọi đó là các tín điều phải tin. Như thân thể con người gồm nhiều chi thể, bản tuyên xưng đức tin gồm những chân lý chúng ta phải tin từng điều một, được gọi là "tín điều". (Sách Giáo lý Rô-ma 1, 1, 4.) Theo một truyền thống xưa, được thánh Am-rô-si-ô xác nhận, người ta quen liệt kê mười hai tín điều của kinh Tin Kính, dựa theo số các tông đồ để tượng trưng cho toàn bộ đức tin tông truyền(x. kinh Tin Kính 8).
192
Suốt chiều dài lịch sư<150), để đáp ứng những nhu cầu các thời đại khác nhau, chúng ta có nhiều bản tuyên xưng đức tin hay tín biểu : những bản tín biểu của các Giáo Hội thời các tông đồ và thời cổ (DS 1-64), bản tín biểu "Quicumque" còn gọi là của thánh A-ta-na-si-ô (DS 75-76), những bản tín biểu của một số Công đồng Tô-lê-đô (DS 525-541), La-tê-ra-nô (DS 800-802), Lyon (Ds 851-861), Tren-tô (DS 1862-1870) hay của một số Giáo Hoàng như bản Tuyên Xưng của Ðức Giáo Hoàng Ða-ma-si-ô (DS 71-72), bản "Kinh Tin Kính Của Dân Thiên Chúa"(SPF) của Ðức Phao-Lô VI (1968).
193
Không một tín biểu nào xuất phát từ những giai đoạn khác nhau của đời sống Hội Thánh có thể bị coi là lỗi thời và vô ích. Các bản này giúp chúng ta ngày nay thấu hiểu và đào sâu đức tin ngàn đời của Hội Thánh qua các bản tóm lược khác nhau ấy.
Trong tất cả các tín biểu, có hai bản chiếm một địa vị rất đặc biệt trong đời sống Hội Thánh :
194
Kinh Tin Kính của các Tông đồ : gọi như thế, vì bản này được xem như bản tóm lược trung thành đức tin của các Tông đồ. Ðây là "tín biểu" rất cổ, được Giáo Hội Rô-ma sử dụng trong Bí tích Thánh Tẩy. Hội Thánh coi trọng bản này, vì "đây là tín biểu được bảo tồn trong Giáo Hội Rô-ma, nơi thánh Phê-rô, thủ lãnh các tông đồ, đã đặt tông tòa và đã đem lại sự nhất trí trong toàn Hội Thánh" (Th Am-rô-xi-ô, kinh Tin Kính 7).
195 242, 245 465
 
Kinh Tin Kính Công đồng Ni-xê-a Con-tan-ti-no- po-liđược coi trọng vì phát xuất từ hai Công đồng đầu tiên (325 và 381). Cho đến nay, bản này vẫn còn là bản chung cho tất cả các Giáo Hội lớn của Phương Ðông và Phương Tây.
196
Sách Giáo Lý này trình bày đức tin theo Kinh Tin Kính của các tông đồ, vì kinh này được kể là "bản giáo lý Rô-ma cổ xưa nhất". Tuy nhiên, để bổ túc, chúng tôi sẽ luôn tham chiếu Kinh Tin Kính của công đồng Ni-xê-a Con-tan-ti-no-po-li thường minh bạch và chi tiết hơn.
197 1064
Như trong ngày lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, khi trọn cuộc sống của chúng ta được đưa vào "qui luật đạo lý" (Rm 6, 17), chúng ta hãyđón nhận bản Kinh Tin Kính, để nhờ đó chúng ta được sống. Khiđọc kinh "Tin kính" với lòng tin, chúng ta được thông hiệp với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và cũng được thông hiệp với toàn thể Hội Thánh. Chính Hội Thánh truyền đạt đức tin cho chúng ta, và (chính trong lòng) Hội Thánh mà chúng ta tin.
 
1274
Kinh Tin Kính này là dấu ấn tín thiêng liêng, là điều tâm niệm, là người canh giữ luôn luôn hiện diện; chắc chắn đó là kho tàng của linh hồn chúng ta (Th. Am-rô-si-ô, kinh Tin Kính 1).
 
CHƯƠNG MỘT
TÔI TIN KÍNH THIÊN CHÚA LÀ CHA
198
Bản tuyên xưng đức tin của chúng ta bắt đầu bằng Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là "Ðầu và là Cuối" (Is 44, 6), Khởi nguyên và Cùng đích của hết mọi sự. Kinh Tin Kính bắt đầu với Thiên Chúa Cha, vì Chúa Cha là Ngôi Thứ Nhất trong Ba Ngôi Thiên Chúa; tín biểu bắt đầu bằng việc sáng tạo trời đất vì việc sáng tạo là khởi đầu và là nền tảng mọi công trình của Thiên Chúa.
 
Mục 1
"Tôi tin kính Ðức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng, dựng nên trời đất"
Tiết 1:Tôi tin kính Ðức Chúa Trời
199 2083
"Tôi tin kính Ðức Chúa Trời": lời khẳng định đầu tiên của bản tuyên xưng đức tin cũng là lời cănbản nhất. Trọn tín biểu đều nói về Thiên Chúa. Tất cả các tín điều trong Kinh Tin Kính đều tùy thuộc vào tín điều thứ nhất, cũng như các giới răn làm rõ ý giới răn thứ nhất. Những tín điều còn lại, giúp chúng ta hiểu biết Thiên Chúa hơn, như Người đã từng bước mặc khải cho con người. "Ðiều đầu tiên người tín hữu tuyên xưng là tin vào Thiên Chúa" (Giáo lý Rô-ma 1, 2, 2.).
 
I- "TÔI TIN KÍNH MỘT THIÊN CHÚA DUY NHẤT"
200 2085
Kinh Tin Kính của Công Ðồng Ni-xê-a Con-tan-ti- nô-pô-li bắt đầu bằng những lời trên đây : Lời tuyên xưng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất, bắt nguồn từ mặc khải của Thiên Chúa trong Cựu Ước, liên kết chặt chẽ với lời tuyên xưng về sự hiện hữu của Thiên Chúa, và có cùng một giá trị căn bản như vậy. Thiên Chúa là Ðấng duy nhất : chỉ có một Thiên Chúa. "Ðức tin Ki-tô giáo tuyên xưng chỉ có một Thiên Chúa, xét theo bản tính, bản thể và yếu tính" (Ibid).
201 2083
Thiên Chúa tự mặc khải là Ðấng Duy Nhất cho dân It-ra-en, dân được tuyển chọn : "Nghe đây, hỡi It-ra-en! Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta là Ðức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng, hết dạ, hết sức anh em" (Ðnl 6, 4-5). Qua các ngôn sứ, Thiên Chúa kêu gọi Ít-ra-en và các dân nước quay về với Người là Ðấng Duy Nhất : "Nào muôn dân khắp cõi địa cầu, hãy hướng về Ta, thì các ngươi sẽ được cứu độ vì Ta là Thiên Chúa, chẳng còn Thiên Chúa nào khác. Trước mặt Ta, mọi người sẽ quỳ gối, và tuyên xưng : Chỉ nơi Thiên Chúa mới có ơn phù trợ và cứu độ (Is 45, 22-24) (x. Pl 2, 10-11).
202 446 152
Chính Ðức Giê-su xác định Thiên Chúa là "Ðức Chúa Duy Nhất, " và phải yêu mến Người "hết lòng, hết linh hồn, hết tâm trí và hết sức lựcngươi" (x. Mc 12, 29-30). Ðồng thời, Người cũng ngầm cho ta hiểu chính Người là "Ðức Chúa" (x. Mc 12, 35-37). Tuyên xưng "Ðức Giê-su là Ðức Chúa" là đặc tính của đức tin Ki-tô giáo. Ðiều này không trái ngược với đức tin vào một Thiên Chúa Duy Nhất. Tin vào Chúa Thánh Thần là "Ðức Chúa và là Ðấng Ban Sự Sống" không đưa đến một sự phân chia nào nơi Thiên Chúa Duy Nhất:
42
Chúng tôi tin vững vàng và khẳng định đơn giản chỉ có một Thiên Chúa chân thực, vô hạn và bất biến, vô phương thấu hiểu, toàn năng và khôn tả, là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần : ba ngôi vị, nhưng chỉ có một bản thể hay bản tính đơn thuần(Cđ La-tran IV: DS 800).
II- THIÊN CHÚA MẶC KHẢI DANH THÁNH NGƯỜI
203 2143
Thiên Chúa tự mặc khải cho Ít-ra-en, dân Người, bằng cách mặc khải Danh Thánh Người. Trong Thánh Kinh, tên của một người diễn tả yếu tính, căn tính và ý nghĩa đời họ. Thiên Chúa không phải là một sức mạnh vô danh. Thiên Chúa có tên. Cho biết tên tức là cho người khác biết mình; là cởi mở để người ta dễ dàng đến với mình, liên hệ mật thiết hơn và gọi được tên nhau.
204 63
Thiên Chúa đã từng bước mặc khải chính mình ra cho dân Người dưới nhiều danh thánh khác nhau. Tuy nhiên, việc mặc khải danh thánh cho Mô-sê trong cuộc thần hiện nơi bụi gai bốc lửa, trước cuộc Xuất Hành và Giao Ước tại Xi-nai, đã được nhận là mặc khải căn bản cho Cựu và Tân Ước.
 
Thiên Chúa hằng sống
205 2575 268
Thiên Chúa gọi Mô-sê từ giữa bụi gai đang cháy nhưngkhông tàn lụi. Thiên Chúa nói với Mô-sê : "Ta là Thiên Chúa của cha ông ngươi, Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, Thiên Chúa của Gia-cóp" (Xh 3, 6). Thiên Chúa là Thiên Chúa của tổ tiên. Ðấng kêu gọi và hướng dẫn các tổ phụ trong các cuộc hành trình của họ. Người là Thiên Chúa trung tín và giàu lòng thương cảm, luôn nhớ tới họ và các lời Người đã hứa; Người đến để giải thoát con cháu họ khỏi ách nô lệ. Người là vị Thiên Chúa có khả năng và muốn thực hiện ý định đó bất chấp không gian và thời gian; Người sẽ dùng quyền năng vô tận để thực hiện chương trình này.
"Ta là Ðấng Hiện Hữu"
Mô-sê thưa với Thiên Chúa: "Bây giờ con đến gặp con cái Ít-ra-en và nói với họ: Thiên Chúa của cha ông anh em, sai tôi đến với anh em. Vậy nếu họ hỏi con: Tên Ðấng ấy là gì ? thì con sẽ trả lời cho họ làm sao?"Thiên Chúa nói với ông Mô-sê : "Ta là Ðấng Ta là". Và Người bảo : "Ngươi nói với con cái Ít-ra-en thế này: "Ðấng Ta là" sai tôi đến với anh em". Ðó là danh Ta cho đến muôn thuở, đó là danh hiệu các ngươi sẽ dùng mà kêu cầu Ta từ đời nọ đến đời kia". (Xh 3, 13-15).
206 43
Khi mặc khải danh thánh huyền bí của Người, YHWH (Gia-vê), có nghĩa : "Ta là Ðấng Hiện Hữu" hoặc "Ta là Ðấng Tự Hữu" hoặc nữa "Ta là Ta", Thiên Chúa nói Người là ai và phải gọi tên Người như thế nào. Danh Thánh Thiên Chúa huyền bí cũng như Thiên Chúa là huyền nhiệm. Ðó vừa là một mặc khải danh thánh, vừa là một khước từ danh xưng. Do đó, qua danh thánh này, chúng ta hiểu rõ về Thiên Chúa, Ðấng nghìn trùng vượt trổi mọi khả năng hiểu biết và diễn tả của con người : Người là "Thiên Chúa ẩn mình" (Is 45, 15); danh thánh Người khôn tả (x. Thp 13, 18); và Người là vị Thiên Chúa trở nên gần gũi với con người:
207
Khi mặc khải danh thánh, Thiên Chúa đồng thời mặc khải lòng trung tín của Người từ muôn thuở và cho tới muôn đời, có giá trị trong quá khứ ("Ta là Thiên Chúa cha ông ngươi": Xh 3, 6) cũng như trong tương lai ("Ta sẽ ở vớingươi": Xh 3, 12). Thiên Chúa mặc khải danh thánh mình là "Ðấng Hiện Hữu" thì cũng tự mặc khải mình như vị Thiên Chúa luôn hiện diện, có mặt bên cạnh để giải cứu dân mình.
208 724 448 388
Trước sự hiện diện hấp dẫn và huyền bí của Thiên Chúa, con người nhận ra sự nhỏ bé của mình. Ðứng trước bụi gai bốc cháy, Mô-sê cởi dép và che mặt (x. Xh 3, 5-6)khi đối diện với Thiên Chúa Chí Thánh. Ðứng trước vinh quang của Thiên Chúa Chí Thánh, ngôn sứ I-sai-a thốt lên : "Khốn thân tôi, tôi chết mất, vì tôi là một người môi miệng ô uế" (Is 6, 5). Trước những dấu thiêng Chúa Giê-su làm, Phê-rô thốt lên : "Lạy Thầy. xin tránh xa tôi, vì tôi là kẻ tội lỗi" (Lc 5, 8). Nhưng bơ<150)i Thiên Chúa là Ðấng Thánh, Người có thể tha thứ cho kẻ nhận biết mình tội lỗi trước mặt Ngườ i: "Ta không hành động theo cơn nóng giận vì Ta là Thiên Chúa, chứ không phải người phàm; ở giữa ngươi, Ta là Ðấng Thánh" (Hs 11, 9).
Sau này Thánh Gio-an Tông đồ cũng nói : "Trước mặt Người, chúng ta sẽ an tâm, nếu lòng chúng ta có lên án chúng ta, vì Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta và Người biết hết mọi sự" (1Ga 3, 19-20).
209 446
Vì tôn kính Thiên Chúa Chí Thánh, dân Ít-ra-en không nêu danh thánh Người khi đọc Thánh Kinh; danh thánh mặc khải được thay thế bằng tước hiệu của Thiên Chúa : "Ðức Chúa" (tiếng Hip-ri là Adonai; tiếng Hy lạp là Kyrios). Ðể tuyên xưng thiên tính của Ðức Giêsu, các tín hữu cũng sử dụng tước hiệu đó : "ÐỨC GIÊ-SU là CHÚA".
 
"Thiên Chúa trìu mến và xót thương"
210 2116, 2577
Sau khi dân Ít-ra-en phạm tội, chối bỏ Thiên Chúa để thờ con bê bằng vàng (x. Xh. 32), Thiên Chúa nghe lời cầu khẩn của Mô-sê và chấp nhận đồng hành giữa đám dân bất trung, để tỏ lòng yêu thương của Người (x. Xh 33, 12-17). Khi Mô-sê xin được thấy vinh quang Thiên Chúa, Người trả lời : "Ta sẽ cho ngươi thấy Ta nhân từ như thế nào và Ta sẽ xưng danh thánh Gia-vê trước mặt ngươi"(Xh 33, 18-19). Ðức Chúa đi qua trước mặt Mô-sê và nói : "Gia-vê, Gia-vê, Thiên Chúa trìu mến và xót thương, chậm bất bình, giàu ân sủng và thành tín" (Xh 34, 5-6). Bấy giờ, Mô-sê tuyên xưng Chúa là Thiên Chúa thứ tha (x. Xh 34, 9).
211 604
Danh thánh "Ta Hiện Hữu" hoặc "Ðấng Hiện Hữu" diễn tả sự trung tín của Thiên Chúa, Ðấng "vẫn giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn" (Xh 34, 7), cho dù con người có bất trung, tội lỗi đáng phải trừng phạt. Thiên Chúa tỏ cho thấy Người "giàu lòng thương xót" (Eph 2, 4) đến nỗi trao ban chính Con của Người. Khi hiến mạng sống mình để giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi, Ðức Giê-su sẽ mặc khải cho thấy, chính Người mang danh thánh của Thiên Chúa : "Khi các ông đưa Con Người lên cao, bấy giờ các ông sẽ biết là "Ta Hiện Hữu""(Ga 8, 28).
Chỉ mình Thiên Chúa là Ðấng Hiện Hữu
212 42 469, 2086
Trải qua các thời đại, đức tin của Ít-ra-en đã khai triển và đào sâu sự phong phú chứa đựng trong mặc khải danh thánh này. Thiên Chúa là duy nhất, ngoài Người ra không có thần nào hết. Người siêu vượt thế giới và lịch sử. ChínhNgười tạo dựng trời đất. "Chúng tiêu tan, Chúa còn hoài; chúng như áo cũ thay rồi mòn hao ... Nhưng chính Ngài tiền hậu y nguyên, tháng năm Ngài vẫn triền miên" (Tv 102, 27-28). Nơi Người, "không có thay đổi, không hề biến thái" (Gc 1, 17). Người là "Ðấng Hiện Hữu" từ muôn thuở đến muôn đời, và như vậy Người luôn trung tín với chính mình và với các lời Người hứa.
213 41
Vì thế, măc khải danh thánh khôn tả "Ta là Ðấng Hiện Hữu" chứa đựng chân lý : chỉ mình Thiên Chúa là Ðấng Hiện Hữu. Bản dịch Bảy Mươi và kế đó là truyền thống Hội Thánh đã hiểu danh thánh của Thiên Chúa theo nghĩa đó : Thiên Chúa là sự viên mãn của hiện hữu và của mọi sự trọn hảo, không khởi nguyên, không cùng tận. Trong khi các thụ tạo là gì, và có gì, đều phải lãnh nhận từ nơi Thiên Chúa, thì duy chỉ mình Người là tự hữu và Người thế nào là do chính Người.
 
III- THIÊN CHÚA : "ÐẤNG HIỆN HỮU" LÀ SỰ THẬT VÀ LÀ TÌNH THƯƠNG
214 1062
Thiên Chúa, "Ðấng Hiện Hữu", đã tự mặc khải cho Ít-ra-en như là Ðấng "giàu ân sủng và thành tín"(Xh 34, 6). Hai từ ngữ đó diễn tả một cách cô đọng những gì là phong phú của danh thánh. Trong mọi công trình của Người, Thiên Chúa biểu lộ lòng ưu ái, lòng nhân hậu, ân sửng và tình thương; Người cũng cho thấy mình là Ðấng đáng tin, bền vững, trung tín, chân thật: "Xin cảm tạ danh Chúa, vì Ngài thành tín và yêu thương" (Tv138, 2; Tv 85, 11). Thánh Gio-an Tông Ðồ dạy : Người là Sự Thật, vì "Thiên Chúa là Ánh Sáng, nơi Người không có một chút bóng tối nào"(1Ga 1, 5); Người là "Tình Thương" (1Ga 4, 8).
Thiên Chúa là Sự Thật
 
215 2465 1063, 156 397
"Nguyên lý lời Người là chân lý, mọi quyết định công minh của Người tồn tại muôn năm" (Tv 119, 160). "Lạy Chúa Thượng là Ðức Chúa, chính Ngài là Thiên Chúa, những lời Ngài phán là chân lý" (2 Sm 7, 28); vì vậy những lời Thiên Chúa hứa luôn luôn được thực hiện(x. Dnl7, 9). Thiên Chúa là chính Sự Thật, lời Người không phỉnh gạt. Vì vậy ta có thể hoàn toàn tintưởng vào sự chân thật và sự trungtín của lời Người trong mọi sự. Khởi đầu của tội lỗi và sự sa ngã của loài người là lời dối trá của tên cám dỗ làm cho con người nghi ngờ lời Thiên Chúa, cũng như lòng nhân hậu và lòng thành tín của Người.
 
216 295 32
Sự thật của Thiên Chúa được biểu lộ qua việc Người khôn ngoan điều khiển toàn bộ trật tự sáng tạo và vận hành vũ tru(x. Kn 13, 1-9). Một mình Thiên Chúa đã sáng tạo trời đất(x. Tv 115, 15); duy chỉ mình Người mới ban cho chúng ta sự hiểu biết đích thực về mọi vật được tạo dựng trong tương quan với Người(x. Kn 7, 17-21).
 
217 851 2466
Thiên Chúa cũng là Ðấng chân thật khi Người tựmặc khải: giáo huấn phát xuất từ Thiên Chúa là "một đạo lý chân thật" (Mlk 2, 6). Khi Người cử Con của Mình vào trần thế, chính là để làm chứng cho Sự Thật (Ga 18, 37). "Chúng ta biết rằng, Con Thiên Chúa đã đến ban cho chúng ta trí khôn để nhận biết Thiên Chúa thật " (1Ga 5, 20) (x. Ga 17, 3).
Thiên Chúa là Tình Thương
218 295
Trong dòng lịch sử của mình, Ít-ra-en đã khám phá ra Thiên Chúa chỉ có một lý do duy nhất khi tự mặc khải cho họ và đã chọn họ giữa tất cả các dân khác để thuộc về Người : đó là tình thương nhưng không của Người (x. Dnl4, 37; 7, 8; 10, 15). Và nhờ các ngôn sứ, Ít-ra-en cũng hiểu rằng, chính vì yêu thương mà Thiên Chúa đã không ngừng giải cứu (x. Is 43, 1-7) và tha thứ những bất trung và tội lỗi của họ (x. Hs 2).
219 239 796 458
Tình thương của Thiên Chúa dành cho Ít-ra-en được so sánh với tình thương của một người cha đối với con mình (Hs 11, 1). Tình thương đó còn mạnh hơn tình thương của một người mẹ dành cho con cái (x. Is 49, 14-15). Thiên Chúa yêu dân người hơn cả một người chồng yêu người vợ quý (x. Is 62, 4-5). Tình yêu đó sẽ thắng vượt cả những bất trung tệ hại nhất (x. Ed 16; Hs 11); và sẽ đưa đến hồng ân quý giá nhất : "Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi ban Con Một Người" (Ga 3, 16).
220
Tình thương của Thiên Chúa "vĩnh cửu" (Is 54, 8) : "Núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình thương của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi" (Is 54, 10). "Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương" (Gr 31, 3).
221 733 851 257
Thánh Gio-an còn đi xa hơn nữa khi xác nhận : "Thiên Chúa là Tình Thương" (1Ga 4, 8. 16) : Bản thể của Người là tình thương. Khi cử Con Một Người và Thánh Thần Tình Yêu đến trần thế lúc thời gian đã viên mãn, Thiên Chúa mặc khải điều bí ẩn thâm sâu nhất của Người (x. 1Cr 2, 7-16; Eph 3, 9-12): Chính Người là sự trao đổi tình yêu vĩnh cửu - Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần và Người đã tiền định cho ta được dự phần vào tình thương ấy.
IV- TẦM QUAN TRỌNG CỦA ÐỨC TIN VÀO THIÊN CHÚA DUY NHẤT
 
222
Tin vào Thiên Chúa, Ðấng duy nhất, và yêu mến Người với cả con người có những hệ quả rất lớn cho trọn cuộc sống của chúng ta :
 
223 400
 
* Ðó là nhận biết sự cao cả và uy linh của Thiên Chúa : "Phải, Thiên Chúa thật quá cao cả, Người vượt mọi thông hiểu của chúng ta" (G 36, 26). Chính vì thế mà Thiên Chúa phải được "phụng thờ trên hết" (Th. Giăn Ðắc).
 
224 2637
 
* Ðó là sống trong niềm tạ ơn: nếu Thiên Chúa là Ðấng duy nhất, thì chúng ta là gì, và có gì, đều do từ Người mà đến : "Bạn có gì mà đã không nhận lãnh?" (1Cr 4, 7). "Lấy chi đền đáp Chúa, vì mọi ơn lành Người đã ban cho?" (Tv 116, 12).
 
225 356, 360 1700, 1934
 
* Ðó là nhận biết được tính thống nhất và phẩm giá đích thực của mọi người : Mọi người đều được dựngnên " theo hình ảnh và giống Thiên Chúa" (St 1, 26).
226 339, 2402 2415
 
* Ðó là biết sử dụng thích đáng những tạo vật : Vì tin vào Thiên Chúa duy nhất, chúng ta sử dụng mọi tạo vật trong mức độ chúng giúp chúng ta đến gần Chúa, và dứt bỏ khi chúng lôi kéo ta xa khỏi Chúa (x. Mt 5, 29-30; 16, 24; 19, 23-24).
Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con, xin cất đi tất cả những gì làm con xa Chúa. Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con, xin ban cho những gì đưa con đến gần Chúa. Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con, xin giải thoát con khỏi chính mình con để tận hiến cho Chúa" (Th. Ni-cô-la de Flue, Cầu nguyện).
227 313, 2090
* Ðó là phó thác cho Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, kể cả nghịch cảnh. Một bản kinh của Thánh Tê-rê-sa Hài Ðồng Giê-su diễn tả ý đó một cách tuyệt vời.
2830 1723
Ðừng để điều gì làm cho bạn xao xuyến; Ðừng để điều gì làm cho bạn lo sợ. Mọi sự đều qua đi, Thiên Chúa không thay đổi! Kiên nhẫn thì ta sẽ được mọi sự. Người có Chúa ở cùng thì không thiếu gì : Một mình Chúa là đủ cho ta(Poes. 30).
 
TÓM LƯỢC
228
" Nghe đây hỡiÍt-ra-en, Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Ðức Chúa duy nhất(Ðnl6, 4; Mc 12, 29) "Ðấng tối cao nhất thiết phải là duy nhất, nghĩa là không ai sánh bằng ... Nếu Thiên Chúa không duy nhất, thì Người không phải là Thiên Chúa" (Tertullien, Marc 1, 3).
229
Ðức tin vào Thiên Chúa dẫn đưa chúng ta hướng về mộtmình Người, như về nguồn gốc đầu tiên và về cùng đích tối hậu của chúng ta; nên không có gì quí trọng hơn Người hoặc thay thế được Người.
230
Khi tự mặc khải, Thiên Chúa vẫn làmột mầu nhiệm khôn tả : "Nếu bạn hiểu được Người, Người không phải là Thiên Chúa nữa" (Th. Âu-tinh, bài giảng 52, 6, 16).
231
Thiên Chúa mà chúng ta tin đã tự mặc khải như là Ðấng Hiện Hữu; Người cho chúng ta biết Người là Ðấng "giàuân sủng và thành tín" (Xh 34, 6). Bản thể của Người là Sự Thật và Yêu Thương.
Tiết 2 : Chúa Cha
I. "NHÂN DANH CHÚA CHA VÀ CHÚA CON VÀ CHÚA THÁNH THẦN"
 
232 189, 1223
Người Ki-tô hữu được rửa tội "nhân danhChúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần" (Mt 28, 19). Trước khi lãnh nhận bí tích, họ phải trả lời 3 lần "Tôi tin" để đáp lại những câu thẩm vấn về đức tin vào Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. "Ðức tin của mọi Kitô hữu đều dựa trên mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi" (Th. Césaire d'Arles, Tuyên xưng đức tin).
233
Người Ki-tô hữu được rửa tội "nhân danh một Thiên Chúa" là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần, chứ không phải "nhân danh ba ngôi vị" riêng lẻ (x. Tuyên xưng đức tin của Giáo hoàng Vigilô năm 552: DS 415). Vì chỉ có một Thiên Chúa là Cha toàn năng và Con duy nhất Người và Thánh Thần : Ðó là Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh.
234 2157 90 1449
Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm trọng tâm của đức tin và đời sống ki-tô hữu. Ðây là mầu nhiệm về đời sống nội tại của Thiên Chúa, cội nguồn phát sinh mọi mầu nhiệm khác của đức tin và là ánh sáng chiếu soi các mầu nhiệm ấy. Ðây là giáo huấn căn bản nhất và trọng yếu nhất theo "phẩm trật các chân lý đức tin" (DCG 43). "Trọn lịch sử cứu độ chỉ là lịch sử về đường lối và các phương tiện mà Thiên Chúa chân thật và duy nhất là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dùng để tự mặc khải, để giao hòa và kết hợp với Người những ai từ bỏ tội lỗi" (DCG 47).
235
Tiết này trình bày cách ngắn gọn : (I) Thiên Chúa mặc khải mầu nhiệm Ba Ngôi; (II) Hội Thánh trình bày giáo huấn đức tin về mầu nhiệm đó; (III) Chúa Cha thực hiện "kế hoạch nhân hậu" của Người là tạo dựng, cứu chuộc và thánh hóa qua sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
236 1066 259
Các Giáo phụ phân biệt Theologia (Thần luận) với Oikonomia (Nhiệm Cục). Thuật ngữ thứ nhất chỉ mầu nhiệm đời sống nội tại nơi Thiên Chúa Ba Ngôi. Thuật ngữ thứ hai chỉ mọi công cuộc Thiên Chúa dùng để tự mặc khải và thông ban sự sống của Người. Nhờ Oikonomia mà chúng ta được biết Theologia, nhưng đối lại, Theologia soi sáng toàn thể Oikonomia. Các công trình của Thiên Chúa mặckhải cho ta biết Người, và đối lại, mầu nhiệm đời sống nội tại của Thiên Chúa giúp chúng ta hiểu các công trình của Người. Cũng thế, trong các tương quan nhân loại, con người biểu lộ mình qua hành động; càng biết một người, càng hiểu rõ hành động của họ hơn.
237 50
Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm đức tin hiểu theo nghĩa chặt chẽ nhất, một trong những "mầu nhiệm đượcẩn giấu trong Thiên Chúa... không ai biết được nếu ơn trên không mặc khải" (SPF 16). Chắc chắn Thiên Chúa đã để lại dấu vết của bản thể Ba Ngôi trong công cuộc tạo dựng và trong dòng mặc khải Cựu Ước. Nhưng trước cuộc nhập thể của Con Thiên Chúa và sứ vụ của Chúa Thánh Thần, mầu nhiệm Ba Ngôi vẫn là một mầu nhiệm mà nguyên lý trí của loài người và ngay cả đức tin của Ít-ra-en xưa cũng không thể vươn tới được.
II- MẶC KHẢI VỀ THIÊN CHÚA BA NGÔI
Chúa Cha được mặc khải qua Chúa Con
238 2443
Ðã có nhiều tôn giáo biết kêu cầu Thượng Ðế với tước hiệu "Cha". Thượng Ðế thường được coi là "cha của các thần linh và của người phàm". Trong dân Ít-ra-en, Thiên Chúa được gọi là Cha vì là Ðấng sáng tạo vũ trụ (x. Ðnl 32, 6; Ml 2, 10). Hơn nữa Thiên Chúa còn là Cha vì đã giao ước và ban lề luật cho Ít-ra-en, "con đầu lòng của Người" (Xh 4, 22). Người cũng được gọi là Cha của vua It-ra-en (x. 2 Sm 7, 14). Ðặc biệt hơn nữa, Người là "Cha của người nghèo", của cô nhi, quả phụ là những kẻ được Người thương yêu che chở (Tv 68, 6).
239 370, 2779
Khi gọi Thiên Chúa là "Cha", ngôn ngữ đức tin chủ yếu muốn nêu lên hai khía cạnh : Thiên Chúa là nguồn gốc đầu tiên của mọisự và là Ðấng uy quyền siêu việt, đồng thời là Ðấng nhân hậu yêu thương chăm sóc mọi con cái. Nơi Thiên Chúa, tình cha con trìu mến này cũng có thể diễn tả qua tình mẫu tử (x. Is 66, 13; Tv. 131, 2) . Hình ảnh nàylàm rõ nét hơn tính nội tại của Thiên Chúa, mối thâm tình giữa Thiên Chúa và thụ tạo. Như vậy, ngôn ngữ đức tin được hình thành từ kinh nghiệm về cha mẹ trần thế, những người dưới một khía cạnh nào đó, là đại diện đầu tiên của Thiên Chúa nơi con người. Nhưng kinh nghiệm đó cũng cho thấy là cha mẹ trần thế có thể sai lệch và bóp méo hình ảnh làm cha làm mẹ. Cho nên, cần phải nhắc lại là Thiên Chúa vượt trên sự phân biệt phái tính của người phàm. Người không là nam mà cũng không là nữ. Người là Thiên Chúa. Vì Người là nguồn gốc và là chuẩn mực (x. Tv 68, 6) cho chức năng làm cha làm mẹ, nên Người luôn trổi vượt trên cha mẹ trần thế : khôngai là cha một cách trọn hảo như Thiên Chúa.
240 2780 441 - 445
Ðức Giê-su đã mặc khải cho ta biết Thiên Chúa là "Cha" theo một nghĩa chưa từng có : Người không chỉ là Cha vì là Tạo Hóa, từ muôn thuở Người là Cha trong tương quan với Con duy nhất, Ngôi Con từ muôn thuở cũng chỉ là Con trong tương quan với Ngôi Cha : "Không ai biết Người Con trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha trừ Người Con và kẻ mà Người Con muốn mặc khải cho" (Mt 11, 27).
241
Vì vậy các tông đồ tuyên xưng Ðức Giê-su là "Ngôi Lời vẫn có từ lúc khởi đầu bên Thiên Chúa và là Thiên Chúa" (Ga 1, 1), là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình (Cl 1, 15), là "phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh của bản thể Thiên Chúa" (Dt 1, 3).
242 465
Tiếp đó, theo truyền thống các tông đồ để lại, năm 325 tại Công Ðồng chung thứ nhất Ni-xê-a, Hội Thánh tuyên xưng Chúa Con "đồng bản thể" với Chúa Cha, nghĩa là một Thiên Chúa duy nhất cùng với Người. Công Ðồng chung thứ hai Con-tan-ti-nô-pô-li năm 381, vẫn giữ lại thuật ngữđó, được đề ra trong bản kinh Tin Kính của Ni-xê-a và đã tuyên xưng : Con Một Thiên Chúa sinh bởi Chúa Cha từ trước muôn đời, ánh sáng bởi ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Chúa Cha"(DS 150).
Chúa Cha và Chúa Con được mặc khải nhờ Thánh Thần
243 683 2780 687
Trước lễ Vượt Qua, Ðức Giê-su báo tin sẽ cử một Ðấng Bào Chữa khác (Ðấng Bảo Vệ), đó là Chúa Thánh Thần. Người tác động từ thuở khai thiên lập địa (x. St 1, 2); Người đã dùng "các ngôn sứ mà phán dạy" (Kinh Tin Kính Ni-xê-a Con-tan-ti-nô-pô-li). Nay người sẽ ở với và trong các môn đệ (x. Ga 14, 17) để dạy bảo (Ga 14, 26)và dẫn đưa họ đến "sự thật trọn vẹn" (Ga 16, 13). Chúa Thánh Thần được mặc khải như một ngôi vị Thiên Chúa, khác với Ðức Giê-su và với Chúa Cha.
244 732
Nguồn gốc vĩnh cửu của Chúa Thánh Thần được mặc khải trong sứ mạng trần thế của Người. Thánh Thần được cử đến với các tông đồ và Hội Thánh, vừa do Chúa Cha nhân danh Chúa Con, và cũng do chính Chúa Con, một khi Người trở về bên Chúa Cha (x. Ga 14, 26; 15, 26; 16, 14). Việc cử Chúa Thánh Thần đến sau khi Ðức Giêsu được tôn vinh (x. Ga7, 39), mặc khải một cách viên mãn mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh.
245 152 685
Ðức tin tông truyền về Chúa Thánh Thần đã được tuyên xưng tại Công Ðồng chung Con-tan-ti-nô-pô-li năm 381 : "Chúng tôi tin kính Chúa Thánh Thần, Người là Chúa, và là Ðấng ban sự sống; Người phát xuất từ Chúa Cha" (DS 150). Qua đó, Hội Thánh nhìn nhận Chúa Cha là "nguồn gốc và khởi thủy của tất cả thiên tính" (Cđ. Tô-lê-đô VI - 638: DS 490). Nguồn gốc vĩnh cửu của Chúa Thánh Thần và của Chúa Con không phải là không có liên hệ với nhau: "Chúa Thánh Thần là Ngôi Ba, là Thiên Chúa, là một và đồng hàng với Chúa Cha và Chúa Con, cùng bản thể và cũng cùng bản tính... Tuy nhiên, Người không chỉ là Thần Khí của Chúa Cha mà thôi nhưng là Thần Khí cùng lúc của Chúa Cha và Chúa Con" (Cđ. Tô-lê-đô năm 675: DS 527). Bản Kinh Tin Kính Công Ðồng Con-tan-ti-no-po-li tuyên xưng : "Người cùng được phụng thờ và tôn vinh với Chúa Cha và Chúa Con" (DS 150).
246
Kinh Tin Kính theo truyền thống La tinh tuyên xưng rằng Chúa Thánh Thần"phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con (Filioque)". Công Ðồng Flô-ren-xê năm 1438 nêu rõ : "Chúa Thánh Thần lãnh nhận bản tính và hữu thể vừa từ Chúa Cha, vừa từ Chúa Con. Ðời đời Người phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con như từ cùng một nguyên lý và từ một nhiệm suy duy nhất... Và bởi vì tất cả những gì có nơi Chúa Cha, thì chính Chúa Cha đã ban cho Con Một khi sinh ra Con, trừ hữu thể là Cha. Ngay cả việc Chúa Thánh Thần phát xuất từ Chúa Con, thì Chúa Con cũnglãnh nhận nơi Chúa Cha từ đời đời, vì từ muôn thuở Chúa Cha đã sinh ra Chúa Con" (DS 1300-1301).
247
Lời khẳng định "và Chúa Con" (Filioque) không có trong kinh Tin Kính năm 381 tại công đồng Con-tan-ti-no-pô-li, nhưng dựa theo một truyền thống cổ xưa của trường phái La tinh và A-le-xan-ri-a, Thánh Lê-ô I Giáo Hoàng đã tuyên xưng điều này như một tín điều vào năm 447 (DS 284). Trước khi Rô-ma biết kinh Tin Kính của năm 381 và đón nhận kinh này vào năm 451 tại công đồng Can-xê-dô-ni-a. Tuy nhiên, việc sử dụng công thức này (Filioque) trong kinh Tin Kính được chấp nhận dần dần trong phụng vụ La tinh từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XI. Tuy nhiên, việc phụng vụ La Tinh đưa công thức Filioque vào trong Kinh Tin Kính của Công Ðồng Ni-xê-a Con-tan-ti-nô-pô-li còn là mối tranh cãi cho đến ngày nay với các Giáo Hội Chính Thống.
248
Truyền thống Ðông Phương muốn nhấn mạnh Chúa Cha là nguồn gốc tiên khởi của Chúa Thánh Thần. Khi tuyên xưng Chúa Thánh Thần "phát xuất từ Chúa Cha" (Ga 15, 26), Ðông Phương xác định Chúa Thánh Thần phát xuất từ Chúa Cha qua Chúa Con (x. AG 2). Truyền thống Tây Phương muốn nhấn mạnh sự hiệp thông đồng bản thể giữa Chúa Cha và Chúa Con khi nói rằng Chúa Thánh Thần phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con (filioque). Tây Phương nói như vậy là "chính đáng và hợp lý"(Cđ Flô-ren-sô năm 1439 : DS 1302). Vì theo trật tự vĩnh cữu giữa các Ngôi vị Thiên Chúa trong sự hiệp thông đồng bản thể, Chúa Cha là nguồn gốc tiên khởi tức là "nguyên lýkhông nguyên lý" của Chúa Thánh Thần (DS 1331) và đồng thời Người là Cha sinh ra Con duy nhất; nên Chúa Cha và Chúa Con là "nguyên lý duy nhất xuất phát Chúa Thánh Thần" (Cđ Lyon II năm1274 : DS 850). Hai truyền thống đều chính đáng và bổ sung cho nhau. Nếu chúng ta đừng quá nhấn mạnh về một phía nào, thì cả hai cùng tin như nhau về thực tại mầu nhiệm được tuyên xưng.
III. BA NGÔI CHÍ THÁNH TRONG ÐẠO LÝ ÐỨC TIN
Sự hình thành tín điều Chúa Ba Ngôi
249 683 189
Chân lý mặc khải về Thiên Chúa Ba Ngôi, ngay từ buổi sơ khai, là nền tảng nguyên thủy của đức tin sống động của Hội Thánh, chủ yếu là qua bí tích Thánh Tẩy. Chân lý đó đã được diễn tả trong lời tuyên xưng đức tin khi rửa tội, được trình bày trong các giảng thuyết, trong huấn giáo và trong kinh nguyện của Hội Thánh. Người ta gặp những công thức như vậy trong các văn thư tông đồ, chẳng hạn lời chào được phụng vụ Thánh Thể lấy lại: "Nguyện xin ân sủng Ðức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em" (2Cr 13, 13) (x. 1Cr 12, 4-6; Eph 4, 4-6).
 
250 94
Trong những thế kỷ đầu, Hội Thánh đã cố gắng trình bày minh bạch hơn đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi, vừa để đào sâu sự hiểu biết của chính mình về đức tin, vừa để bảo vệ đức tin khỏi những lệch lạc. Ðó là công trình của các công đồng xưa, qua sự đóng góp của các giáo phụ về thần học và dựa trên cảm thức đức tin của dân Thánh.
251 170
Ðể trình bày tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi, Hội Thánh triển khai một hệ thống từ ngữ riêng, dựa vào những khái niệm bắtnguồn từ triết học như: "bản thể", "ngôi vị", hoặc "bản vị", "tương quan" v. v... Vì Hội Thánh không muốn đức tin lệ thuộc vào một sự khôn ngoan trần thế nào, nên đãcho các từ ngữ nầy một ý nghĩa mới để chúng có khả năng diễn đạt mầu nhiệm khôn tả, "vượt xa khôn cùng tất cả những gì chúng ta có thể mường tượng được với khả năng của người phàm"(SPF 2).
252
Hội Thánh sử dụng thuật ngữ"bản thể" (hay thuật ngữ "yếu tính" hoặc "bản tính") để chỉ hữu thể đơn nhất của Thiên Chúa; thuật ngữ "ngôi vị" hoặc " bản vị" để chỉ Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần trong sự phân biệt thật sự giữa Ba Ngôi; thuật ngữ"tương quan" để chỉ sự khác biệt giữa Ba Ngôi trong mối liên hệ nội tại.
Tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi
253 2789 590
 
Ba Ngôi là Một. Chúng ta không tuyên xưng ba Thiên Chúa, nhưng một Thiên Chúa duy nhất có Ba Ngôi : "Ba Ngôi đồng bản thể" (Cđ Con-tan-ti-nô-pô-li II năm 553; DS 421). Các ngôi vị Thiên Chúa không chia nhau một thiên tính duy nhất , nhưng mỗi ngôi vị đều là Thiên Chúa trọn vẹn : Chúa Cha là gì thì Chúa Con là thế ấy, Chúa Con là gì thì Chúa Chalà thế ấy, và Chúa Cha và Chúa Con là gì thì Chúa Thánh Thần là thế ấy, nghĩa là một Thiên Chúa duy nhất theo bản tính. Mỗi ngôi vị là thực tại đó, nghĩa là bản thể, yếu tính, bản tính đó".
254 468, 689
 
Các Ngôi vị Thiên Chúa thực sự phân biệt với nhau. "Thiên Chúa duy nhất nhưng không đơn độc" (Fides Damasi :DS71). "Chúa Cha", "Chúa Con", "Chúa Thánh Thần" không đơn thuần là những danh từ chỉ cách thức hiện hữu của hữu thể Thiên Chúa vì Ba Ngôi thực sự phân biệt với nhau : "Chúa Con không phải là Chúa Cha, và Chúa Cha không phải là Chúa Con, và Chúa Thánh Thần không phải là Chúa Cha hoặc Chúa Con" (Cđ Tô-lê-đô XI năm 675: DS 530). Ba Ngôi phân biệt nhau do các mối tương quan về nguồn gốc : "Chúa Cha là Ðấng sinh ra, Chúa Con là Ðấng được Chúa Cha sinh ra, Chúa Thánh Thần là Ðấng phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con" (Cđ. La-tran IVnăm 1215: DS 804). "Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi".
255 240
 
Các Ngôi vị Thiên Chúa có liên hệ với nhau. Sự phân biệt đích thực giữa các Ngôi Vị hệ tại những mối tương quan nên không làm mất đi tính duy nhất của Thiên Chúa. "Các danh xưng nói lên mối tương quan giữa các Ngôi vị : Chúa Chaqui về Chúa Con, Chúa Con qui về Chúa Cha, và Chúa Thánh Thần qui về hai Ngôi trên; dù có nói tới ba ngôi vị khi chú trọng đến các tương quan, chúng ta vẫn tin Thiên Chúa có một bản tính hoặc một bản thể duynhất (Cđ Tô-lê-đô XI năm 675: DS 528). Quả thật "mọi sự đều là một (nơi Ba Ngôi) vì không thể có sự đối nghịch trong tương quan" (Cđ Flô-ren-sô năm 1442: DS 1330). "Vì sự đơn nhất đó, Chúa Cha hoàn toàn ở trong Chúa Con, hoàn toàn ở trong Chúa Thánh Thần; Chúa Con hoàn toàn ở trong Chúa Cha, hoàn toàn ở trong Chúa Thánh Thần; Chúa Thánh Thần ở hoàn toàn trong Chúa Cha, hoàn toàn trong Chúa Con" (Cđ Flô-ren-sô 1442: DS 1331).
256 236, 684
Thánh Grê-gô-ri-ô thành Nazianze, được người đời xưng tụng là " nhà thần học", trao cho những dự tòng tại Con-tan-ti-nô-pô-li bản tóm lược đức tin về Ba Ngôi như sau :
84
Xin giữ cho tôi kho tàng quý báu này, mà vì nó tôi sống và chiến đấu, và còn muốn đem theo khi chết, nhờ nó tôi chấp nhận tất cả mọi gian khổ và khinh chê mọi lạc thú: tôi muốn nói đến bản tuyên xưng đức tin vào Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thầ