|fija|forum|fija’s macros|bảng tóm tắt|guestbook|

|gõ kiểu serpent|serpent’s macros|english|esperanto|

 

 

  có cách nào đánh tiếng Việt không dấu được không?   đó lŕ câu hỏi từ miệng của Thuận, họ Nguyễn ở Phan Rang, làm bạn với nhau từ năm 1992 hay 1994 gì đó, lúc hãy còn đi đánh máy thuę trên đường Lý Thái Tổ, Quận 3 Sài Gòn. Thuận thường sử dụng bộ gõ VNI trong khi fija gõ kiểu serpent, một lần fija rảnh nên sang tiệm Thuận làm ngồi chơi, lúc đó Thuận đang đánh máy vŕ có lẽ chán ngán vì phải vói ngón tay đánh dấu nhiều, Thuận buộc miệng than ‘có cách nŕo đánh tiếng Việt không dấu được không?’ Thuận hỏi mŕ thực ra Thuận cũng đă tốn công mày mò nhiều, song dường như kết quả chưa được thoả mãn. Nghe vậy, fija bèn trả lời Thuận ‘hãy đợi đấy!’ Thời, fija bắt đầu nghięn cứu coi coi chớ mấy cái…   dấu trong chữ Việt là gì?   Chữ viết hiện nay cùng với các dấu trên dưới và bên phải (cứ cho) là sản phẩm của vị giáo sĩ tên Alexandre De Rhodes. Để thực hiện sứ mệnh truyền giáo tại xứ này, ông đã học tiếng Nôm, vốn được viết bằng công thức chữ Hán ghép, chẳng hạn chữ thiên có nghĩa là trời, ghép với chữ thượng có nghĩa ở trên. Chữ thiên phía trên và chữ thượng ở dưới và bộ chữ này hình thức y chang chữ Hán, song được đọc lŕ trời. Chữ Hán vốn đă rắc rối, giờ lại chữ Hán ghép với chữ Hán, hẳn là việc học ngày xưa để viết được đňi hỏi không ít công phu! Nghe kể rằng (có lẽ) trong cái bối cảnh ‘một ngàn năm đô hộ giặc Tŕu’ ông cha ta chơi kháy, bèn tạo ra bộ chữ viết riêng mình, ghép chữ Hán lại với nhau và đọc theo tiếng Nôm. Vậy là, người Việt đọc chữ Tàu thời hiểu (vì muốn học chữ Nôm, phải học chữ Hán,) còn Tàu đọc chữ Việt thời thấy rõ ràng là viết y chang chữ Hán, nhưng bí rị, hỏng hiểu là gì! Cái tiếng Nôm cắc cớ là vậy…   fija còn nhớ mang máng kiểu học thuộc lòng ngày xưa tam thiên tự (nghĩa là ba ngàn chữ) ‘thiên trời địa đất tử cất tồn cňn tử con tôn cháu lục sáu tam ba gia nhà quốc nước tiền trước hậu sau…’ cứ một từ Hán thời tiếp theo là một từ Nôm giải thích nghĩa từ Hán đứng trước. Alexandre De Rhodes học tiếng Nôm và sử dụng lối ký âm – có tài liệu cho rằng Alexandre De Rhodes không phải là tác giả lối ký âm này [ùm, fija tẹo nữa bàn tới vụ này ạ] – mà trước đó đă có nhiều công trình nghiên cứu, Alexandre De Rhodes đã thừa kế hoặc tổng hợp các công trình ấy… và vậy là chữ Việt được viết bằng mẫu tự Latin ra đời (lại cňn được) gọi lŕ chữ quốc ngữ (trong khi thực chất chỉ là từ ký âm!) Tiếng Latin nào tòi đâu ra dấu, vậy thì chớ mấy cái…   dấu ở đâu lňi ra?   Các dấu sắc, huyền, ngã, mũ có thể xuất thân từ tiếng Pháp. Tiếng Pháp cũng có ảnh hưởng đối với chữ C và NG vốn biến thành K và NGH trước E và I/Y [chính sự biến đổi NG thành NGH gây rối, nhiều người hỏng biết mô tê gì, có khi viết chữ ‘nghành’ ngon ơ!] Dấu hỏi có lẽ mượn từ Hy Lạp, còn dấu nặng thì fija chịu, một số ngôn ngữ Châu Âu có dấu phẩy nằm bên dưới, như chữ Ç trong tiếng Pháp, còn dấu chấm bên dưới ký tự chắc chỉ thấy trong tiếng Việt. Có thể luận ra rằng Alexandre De Rhodes chấm một cái phía dưới ghi nhớ là âm này hạ giọng xuống (bởi ở các tiếng khác, dấu phẩy nằm dưới không có nghĩa là chữ đó hạ giọng!) Riêng dấu trăng trên chữ A và dấu móc cao ngang bên phải U, O… vài ngôn ngữ Châu Âu có dấu vòng tròn nhỏ trên chữ A, còn tiếng Đức có hai chấm ngang trên A, O và U [Ä, Ö và Ü, dấu này gọi là umlaub, còn tiếng Pháp có dấu này trên chữ E và I, gọi là tréma]. Thôi thì cứ cho là cụ Alexandre De Rhodes tạo nét riêng cho mình đi, khỏi phải bàn, có điều, mắc mớ gì, cụ lấy chữ D đọc là /z–dờ/ rồi nhét chữ ð bên Hy Lạp qua và đọc thành /ð–đờ/. Quái… ông này… Chưa hết ạ, chữ F sẵn có đó hong chịu xài, lại lấy P ghép với H, thành PH mang âm F /f–phờ/. Rồi chữ J có sẵn cụ chẳng ngó ngàng, lại đem G mà ghép với I. Nhọc công chi vậy cà!   Ôi thì thôi, dân Việt tánh tình cũng xuê xoa xuề xòa, thây kệ, ông tây nọ đã cất công rị mọ đưa ra, thời cứ xài đi cho ổng vui, bổn tánh hiếu khách mà! E hèm, vậy mà ba cái mớ…   dấu bị phủ nhận!   Dấu đă từng bị phủ nhận [chắc không bao lâu] kể từ sau khi ra đ?i và cho đến nay, tận bây giờ, khi chúng ta thấy đâu đó dấu hỏi thay vě phải là dấu ngã hoặc ngược lại, rồi có những tên hiệu, bảng biểu không ghi dấu [thời nay xài không dấu còn nhiều hơn khi nhắn tin qua điện thoại, trò chuyện trên mạng…] Cái mốc để dấu bị khước từ hong chừng chính là lúc phương tiện Telex và máy đánh chữ được đưa vô sử dụng. Lúc nŕy, nhiều văn bản được tạo ra bằng máy chữ ban đầu lŕ tiếng Pháp còn có mang mấy dấu sắc, huyền, ngã, mũ… rồi về sau thời tiếng Anh thời chẳng có tý tẹo dấu nào. Các bản văn, kể cả chính thức, có khi được thęm dấu viết tay, có khi không.   Để viết vŕ đọc telex, ai đó đă đưa ra định nghĩa rằng ‘A theo sau A là A có dấu mũ (Â).’ A là một nguyên âm, vậy A theo sau nguyên âm là nguyên âm mang dấu mũ… đúng không? Dạ, thưa không! Vì A theo sau E không tìm thấy trong tiếng Việt hiện tại, còn theo sau I là IA, rồi theo sau O là OA, cuối cùng sau U là UA. Vậy nên, lòi ra cái định nghĩa tiếp theo là ‘E theo sau E là E có dấu mũ (Ê)’ và ‘O theo sau O là O có dấu mũ (Ô)’ song le, công thức này chẳng áp dụng cho chữ Đ, nghĩa là ‘D theo sau D là D có dấu mũ,’ hong phải vậy nghen, mà ‘D theo sau D là Đ.’ Chà, tay này khá phóng túng nghen, có nghĩa là ‘tui định nghĩa vậy chứ hong phải vậy ŕ!’ Cuối cùng cái tưởng chừng là công thức thật ra không phải là công thức, mà có thể tóm gọn ‘định nghĩa cái nào ra cái đó.’ Tiếp nữa là các quy ước, S thay cho dấu sắc, F thay cho dấu huyền, R thay cho dấu hỏi, X thay cho dấu ngã và J thay cho dấu nặng! Và W thay cho dấu trăng trên A và móc cao ngang bên phải U, O.   Song, ít nhất, tác giả telex cũng hơn cụ Alexandre De Rhodes là quy về một mối cho cái dấu cong cong phía trên hay bên phải của mấy chữ A, O và U chung một giuộc giống Ä, Ö và Ü bên tiếng Đức.   Những định nghĩa tŕo lao như vậy mà vẫn còn được sử dụng trên văn bản chính thức, thí dụ, người ta viết TW và coi đây là từ viết tắt của hai chữ ‘trung ương’ (tía má ui!) Khà khà, xài từ cỡ vậy, cho nên tới hồi…   Dấu loạn xạ!   Như vừa đề cập, khi công cụ viết lách đổi mới, tất có biến chuyển. Vậy nęn khi computer (máy tính – thực ra phải gọi giống như hãng Triumph quảng cáo ‘thời trang và hơn thế nữa’ thời phải nói là ‘máy tính và hơn thế nữa’) du nhập vô xứ Việt, dấu của cụ Alexandre De Rhodes kỳ này thua trắng (may mà cụ đã đi xa, không thời cũng uất ức mà… chết!, híc!)   Thuở đầu, lại cũng na ná như thời telex, máy tính qua đây cũng xử không dấu, riết rồi, một tay tạo ra bộ mă VNI, mã này cũng không làm cho Việt ngữ xuất hiện trên màn hình nếu không có font VNI, rồi mã ABC, rồi mã Hải Ngoại… Chà! Mả mồ đâu mà quá chừng, mỗi nơi một kiểu mã! À há, cứ nghĩ đại khái lŕ ‘phong phú’ cho xong! Mỗi người một vẽ (không phải vẻ, tức mạnh ai nấy vẽ…vời,) mười phân vẹn chỉ! Loạn xạ ở đây không phải lŕ hỏi thành ngã hay ngược lại. Xin nhín chút thời giờ xem một câu với những bảng mã khác nhau, được quy về một font Arial duy nhất:  

Mã font

Câu mẫu
Unicode Loạn xạ ở đây không phải là hỏi thành ngã hay ngược lại
VNI Loaïn xaï ôû ñaây khoâng phaûi laø hoûi thaønh ngaõ hay ngöôïc lai
ABC Lo¹n x¹ ë ®©y kh«ng ph¶i lµ hái thµnh ng· hay ng­îc lai
ASCII Lo?n x? ? ?ây không ph?i là h?i thành ngã hay ng??c l?i
  Nghĩa là sao? Tỷ dụ như fija muốn đọc một văn bản VNI trong khi không có font VNI, fija phải học mă VNI[??] rằng phải nhớ ï thay cho dấu nặng, û thay cho dấu hỏi… vậy rồi còn mộ, xí quên, mã ABC, còn Hải Ngoại, còn ASCII… ai chịu khó nhớ giùm fija đây?   Cho tới tận bây giờ (năm 2008), thỉnh thoảng một người quen fija gởi thơ, nhận được hồi âm, ghi bằng tiếng Việt không dấu, lại cňn xin fija gởi lại bản tin trước đó (dů fija đă xài unicode,) dặn dò ‘nhớ đừng quánh dấu nghen!’   Phải chăng thấy loạn quá nęn tới phiên Microsoft tung chiêu, xắn tay tạo ra font unicode… trong đó chỉ nội một chữ A thì lại có tới 18 hiện trạng khác nhau: a, á, à, ả, ã, ạ, ă, ắ, ằ, ẳ, ẵ, ặ, â, ấ, ầ, ẩ, ẫ và ậ… Điều này cũng lập lại với chữ O và chữ U thì ít hơn phần ba, vì U không đội nón, à, có dấu mũ [Û]. Vậy là nội 3 nguyên âm A, U và O này đã sinh ra tới 48 chữ [trong khi Anh ngữ cả nguyên lẫn phụ âm, vỏn vẹn chỉ 26 ký tự coi như xong!]… bởi vậy cho nên, thiên hướng con người thời đơn giản, khi sử dụng những công cụ ngày nay, nhiều trường hợp giao tiếp bằng thư, trò chuyện và gởi tin, chữ viết lại phải trở về nguyên thủy, nghĩa là tiếng Việt không dấu! Công ông Alexandre De Rhodes… dã tràng chăng?   Tới lúc này, Alexandre De Rhodes không phải là chết đi sống lại, mà dẫu có sống lại cũng… (muốn) chết đi (cho rồi)! Tiếc rằng fija không tŕi giỏi như Alexandre De Rhodes không thì quyết chẳng để cho hậu bối chê cười!   Tới đây fija xin phép mạn bŕn thêm một tẹo, những cái dấu xẹt qua trái [dấu sắc], quẹt qua phải [dấu huyền], trên quẹo phải qua trái xuống [dấu hỏi], quẹo từ dưới trái lên phải xuống lên [dấu ngã] rồi ẹo tới ẹo lui mệt đừ, bèn nằm một cục tuốt phía dưới [dấu nặng], rồi ‘ô thời đội nón, ơ thời mang râu’ cả thảy là một mớ bòng bong để thấy cụ Alexandre De Rhodes đa học thức, biết nhiều thứ tiếng nhưng thiếu cái nguyęn tắc ‘đơn giản.’ Cụ tất hẳn biết tiếng Pháp, Hy Lạp , Latin (tiến sĩ thần học lận ạ! bởi cụ được Vatican cử sang nước ta mŕ lị!)… song bởi thiếu cái tính đơn giản, nęn cụ làm cho Việt ngữ rắm (không phải rắm trong ‘đánh…’) rối giờ đây! Fija dám cá cụ nhŕ cũng làu làu Anh ngữ, nhưng vì lẽ gì cụ không chuộng cái đơn giản của Anh ngữ thời fija tắt tịt! Dù sao cũng đa tạ cụ đă dày công Latin hóa tiếng Việt, không thôi kẻ hậu bối như Fija phải làu làu tam thiên tự, mài công biết là bao nhiêu đủng quần trên ghế học đường mới thông thạo được chữ viết nước nhŕ!   Cho phép kẻ hậu bối này dám hỏi cụ một câu ‘liệu dấu cụ đưa ra có cần thiết không?’ Bởi, thưa cụ, thiệt tình hỏi cụ cốt chỉ mua vui, cụ không trả lời được đâu ạ, vě rằng, trong cái phối tự theo công thức của cụ, bất kỳ nguyên âm nào đứng trước các phụ âm C, CH, P và T đương nhiên đã mang dấu sắc rồi, hà cớ gì cụ còn đánh dấu sắc chi nữa? Cho nên bây giờ fija lập lại vấn đề, trong khi cụ vốn là một đấng tài giỏi, thông thạo nhiều thứ tiếng mà lại tạo ra bộ chữ Việt như vậy, theo ý fija là quá tệ, chắc rằng bộ chữ này không phải là tác phẩm của cụ rồi!   Nơi cụ đặt chân đến Việt Nam chắc trước tięn là Đà Nẵng, trung phần và hẳn nhiên cụ tiếp xúc với người dân Huế không ít. Cụ không nhớ người Huế phát âm ra sao sao? Đơn giản phải không cụ, người Huế chỉ důng có 3 thanh: [1] không dấu, [2] dấu huyền và [3] dấu nặng.   Trong các ngữ cụ biết, tiếng Pháp chẳng hạn, từ ‘tous’ không có dấu, song phát âm là /tú/, từ ‘merci’ cũng không có dấu, song phát âm là /mẹc xi/, từ ‘question’ cũng không có dấu, song phát âm là /kéc sõng/… còn nhiều lắm ạ, cho nên, nhắc lại, không có điểm nào để fija dám tin bộ chữ Việt do chính cụ sáng tác ạ.   Fija đoan chắc tŕi nghệ như cụ thừa khả năng soạn ra bộ chữ Việt không dấu. Nhưng bởi, cụ đến đây hầu phụng sự Chúa trời, việc cụ lŕm là rao giảng lời của Đấng Christ, chớ chẳng phải dùng thời giờ của Chúa nghiền ngẫm tạo ra kư âm cho tiếng Nôm theo kiểu rối như canh hẹ, đúng không thưa cụ.   Vậy chữ Việt viết không dấu liệu khả thi?   Luận về dấu sắc trước các phụ âm C, CH, P và T như trên chứng tỏ tính không cần thiết của dấu sắc trong tình huống đó. Tuy vậy dấu sắc vẫn cần thiết cho các trường hợp khác. Chúng ta hãy dần làm quen với kiểu fija.   Trong Anh ngữ chỉ với 26 kư tự phối hợp với nhau thời đủ để diễn mọi ư nghĩ của con người. Fija quyết định chỉ sử dụng 26 kư tự nŕy và trật tự y chang như bảng chữ cái Anh ngữ. Điểm độc đáo của phương pháp fija lŕ chữ Việt giờ đây chỉ mang một nguyęn âm duy nhất, đúng như bản chất ngôn ngữ ‘đơn âm tiết’ của tiếng Nôm. Thậm chí có từ cňn không có nguyên âm, như trong phần ký tự thứ 10 dưới đây.   Nếu bạn không thích phần thuyết minh này, bạn cứ đi thẳng đến bảng tóm tắt vì đó là kết quả cuối cùng. Bây giờ chúng ta sẽ bắt đầu từ ký tự số 1.   A   Nguyên âm A giữ nguyên giá trị. Sự kết hợp mới AR thành OAI và AX thành ÂY.   ar            oai ax           ây   B   Chữ B vẫn là phụ âm ở vị trí đầu từ. B được gán thęm chức năng theo sau một nguyęn âm trở thành dấu sắc. Dấu B không cần viết sau C, F, K, và T. Vậy   ab           á baxb       bấy   C   C trở thành CH ở cả hai vị trí đầu và cuối từ.   ac           ách cac         chách   D   D trở về giá trị nguyên thủy đọc là Đ. D theo sau nguyên âm thành dấu huyền.   ad           à dad         đŕ   E   Nguyên âm E giữ nguyên giá trị. EJ thành AY. EW thành EO, EX thành OE.   ec           ếch [vì không có chữ éch nên đương nhięn đội nón] cej          chay dej          đay   F   F đứng trước nguyęn âm là PH và theo sau phụ âm là P. B không cần theo sau F.   faf           pháp fec          phếch   G   G giữ nguyên giá trị. G thành GH trước E và I. Theo sau một nguyên âm, G thành NG.   gag         gang geg         gheng   H   H giữ nguyên giá trị. Theo sau một nguyên âm, H thành NH. ENH không có nên EH thành ÊNH.   eh           ênh hah         hanh   I   I giữ nguyên giá trị. IG thành IÊNG và IJ thành UY.   cig          chiêng fij            phuy hih          hinh   J   J trước nguyên âm là GI. Theo sau nguyên âm là I hoặc Y.   jej           giay aj            ai   K   K trước nguyên âm là KH. Theo sau nguyên âm là C. sau K không cần dùng B.   kak          khác   L   L trước nguyên âm giữ nguyên giá trị. Theo sau nguyên âm là dấu hỏi.   lal            lả lijl            lủy   M   M trước và sau nguyên âm giữ nguyên giá trị.   N   N trước và sau nguyên âm giữ nguyên giá trị.   NG   NG trước nguyên âm giữ nguyên giá trị. NGH trước E và I trở lại là NG, không cần phải có H. Sau nguyên âm NG chỉ cần viết G [xem mục G].   ngig        nghiêng   NH   NH trước nguyên âm giữ nguyên giá trị. Sau nguyên âm NH chỉ cần viết H [xem mục H].   nhah nhanh   O   O trước và sau phụ âm giữ nguyên giá trị. OC thành OÁCH, OH thành OANH. OX thành OẮC.   oc gep      oách ghê horgd oh   hoàng oanh ox qon      oắc con   P   P theo sau nguyên âm là dấu mũ.   ap           âu [khi không có phụ âm theo sau] apk         ấc ip            yêu ipn          yên dipb        điếu cipd        chiều

 

P theo sau 3 từ, lập lại từ thứ nhứt.

 

qurl depl aqn, p p zahd    của để ăn, của để dŕnh

...   Q   Trước nguyên âm, Q là C trước A, O, U và K trước E, I. Q theo sau nguyên âm là dấu trăng trên A và móc cao ngang bên phải O, U. IQ đọc là ƯI.   aq           ắc [nếu không có phụ âm theo sau, C được thęm vô] aqn         ăn qah         canh qipn        kiên qok         cóc ciql         chửi
  Theo sau hai từ, lập lại từ thứ nhất và phụ âm đầu từ thứ hai nếu là đầu từ của một chữ khác.

 

tajd di q lajz           tái đi tái lại

lapmb la qet         lấm la lấm lét qunl qa qoqnl       củng ca củng cởn   R   R giữ nguyên giá trị đứng trước nguyên âm và theo sau nguyên âm là A.   ir             ia ar           oai er           oeo or           oa url           ủa org org la lagd      oang oang la làng   vì cả AR và OR đều mang âm OA nên, ví dụ, chữ TOAN có thể viết là TORN hoặc TARN.   S   S giữ nguyên giá trị đứng trước nguyên âm và theo sau nguyên âm là dấu ngã.   xas         xã   T   T giữ nguyên giá trị đứng trước và sau nguyên âm. Sau T, dấu B không cần dùng.   tit            tít   TR, TH không thay đổi.   U   U giữ nguyên giá trị nguyên âm. UC đọc là UẾCH và UH đọc là UÊNH. UP, có hai trường hợp xảy ra, nếu không có phụ âm theo sau, sẽ là UÊ, nếu có phụ âm, sẽ là UÂ.   kupn       khuân thup        thuê huh horg huênh hoang   V   V giữ nguyên giá trị đứng trước nguyên âm và theo sau nguyên âm là chữ U.   av           au uv           ưu [ở đây tiết kiệm được một dấu Q] iv             iu   EU không có, chỉ có ÊU, vậy EV là ÊU.   Ngoại lệ OV = ƠI.   ev           êu ov           ơi   W   W trước nguyên âm thay cho QU. Theo sau nguyên âm, W là O.   wawd      quào ew          eo ow          oo   Song, O không theo sau U, mà chỉ có Ơ. Vậy   uw           uơ   Trường hợp W theo sau Y, trong Việt ngữ không có IO. Nên IW là ÔI.   iwb          ối   X   X giữ nguyên giá trị đứng trước nguyên âm. Trường hợp theo sau nguyên âm   AX          là ÂY EX          là OE OX          là OẮC, nếu có phụ âm theo sau là OẮ. UX          là UÔI, nếu có phụ âm theo sau là UÔ.   dax         đây kex         khoe ox           oắc cuxg       chuông cux         chuôi   Ngoài ra, X theo sau một từ sẽ lập lại từ đó.   tad x       tà tà   Y   Y là nguyên âm và được gán giá trị thay cho ƯƠI. Trường hợp có phụ âm theo sau, Y sẽ chỉ là ƯƠ. Hai nguyên âm này xuất hiện khá nhiều trong tiếng Việt.   qyd         cười tygl         tưởng   Song có một số ngoại lệ ở đây, trước

 

H =   UYNH

J       UYU P      UYÊ/UÂY Q      ƯA V      ƯƠU X      OAY   hyh         huynh kyjl          khuỷu zypn       duyên tryq         trưa byvb       bướu xyx          xoay   Và cuối cùng là   Z   Z trước nguyên âm là D và sau nguyên âm là dấu nặng.   zaz          dạ   Xin cảm ơn thời gian của bạn. Nếu bạn quan tâm và muốn nhớ thêm một cách đánh tiếng Việt kiểu fija, có một cách dễ nhớ các dấu là thuộc lòng câu ‘BDấu Làm Sao Zị,’ các kư tự đứng đầu lŕ BDLSZ thay thế theo thứ tự sắc huyền hỏi ngã nặng.   Chữ P thay cho dấu mũ, vì dấu mũ bao giờ cũng Phủ bên trên, còn chữ Q thay cho dấu trong các chữ ư, ơ và ă vì các dấu này có hình dạng Quăn Queo.   Bảng tóm tắt kiểu fija    

a

b

c

d

e

f

g

h

i

j

k

l

m

n

o

p

q

r

s

t

u

v

w

x

y

z

a

 

á

ách

à

 

áp

ang

anh

 

ai

ác

am

an

 

âu

ắc

oai

ã

át

 

au

ao

ây

 

b

ba

 

 

 

be

 

 

 

bi

 

 

 

 

 

bo

 

 

 

 

 

bu

 

 

 

bươi

 

c

cha

 

 

 

che

 

 

 

chi

 

 

 

 

 

cho

 

 

 

 

 

chu

 

 

 

chươi

 

d

đa

 

 

 

đe

 

 

 

đi

 

 

 

 

 

đo

 

 

 

 

 

đu

 

 

 

đươi

 

e

 

é

ếch

è

 

ép

eng

ênh

 

ay

éc

em

en

 

ê

 

oeo

ét

 

êu

eo

oe

 

f

pha

 

 

 

phe

 

 

 

phi

 

 

 

 

 

pho

 

 

 

 

 

phu

 

 

 

phươi

 

g

ga

 

 

 

ghe

 

 

 

ghi

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

gu

 

 

 

gươi

 

h

ha

 

 

 

he

 

 

 

hi

 

 

 

 

 

ho

 

 

 

 

 

hu

 

 

 

hươi

 

i

 

í

ích

ì

 

íp

iêng

inh

 

uy

íc

im

in

 

iêu

ưi

ia

ĩ

ít

 

iu

ôi

 

 

j

gia

gích

gie

gíp

giêng

ginh

gi

 

gíc

gỉ

gim

gin

gio

giêu

giưi

gya

gít

giu

giu

giôi

 

giươi

gị

k

kha

 

 

 

khe

 

 

 

khi

 

 

 

 

 

kho

 

 

 

 

 

khu

 

 

 

khươi

 

l

la

 

 

 

le

 

 

 

li

 

 

 

 

 

lo

 

 

 

 

 

lu

 

 

 

lươi

 

m

ma

 

 

 

me

 

 

 

mi

 

 

 

 

 

mo

 

 

 

 

 

mu

 

 

 

mươi

 

n

na

 

 

 

ne

 

 

 

ni

 

 

 

 

 

no

 

 

 

 

 

nu

 

 

 

nươi

 

o

 

ó

oách

ò

 

óp

ong

oanh

 

oi

óc

om

on

 

ô

ơ

oa

õ

ót

 

ơi

oo

oắc

 

p

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

q

ca

 

 

 

ke

 

 

 

ky

 

 

 

 

 

co

 

 

 

 

 

cu

 

 

 

cươi

 

r

ra

 

 

 

re

 

 

 

ri

 

 

 

 

 

ro

 

 

 

 

 

ru

 

 

 

rươi

 

s

sa

 

 

 

se

 

 

 

si

 

 

 

 

 

so

 

 

 

 

 

su

 

 

 

sươi

 

t

ta

 

 

 

te

 

 

 

ti

 

 

 

 

 

to

 

 

 

 

 

tu

 

 

 

tươi

 

u

 

ú

uếch

ù

 

úp

ung

uênh

 

ui

úc

um

un

 

uâ|uê

ư

ua

ũ

út

 

ưu

uôi

 

v

va

 

 

 

ve

 

 

 

vi

 

 

 

 

 

vo

 

 

 

 

 

vu

 

 

 

vươi

 

w

qua

 

 

 

que

 

 

 

quy

 

 

 

 

 

quo

 

 

 

 

 

quu

 

 

 

quươi

 

x

xa

 

 

 

xe

 

 

 

xi

 

 

 

 

 

xo

 

 

 

 

 

xu

 

 

 

xươi

 

y

 

ưới

uých 

ười

 

ướp

ương

uynh

 

uyu

ước

ưởi

ươm

ươn

 

uyê|uây

ưa

uya

ưỡi

ướt

 

ươu

 

oay

 

ượi

z

da

 

 

 

de

 

 

 

di

 

 

 

 

 

do

 

 

 

 

 

du

 

 

 

dươi

 

chỗ trống dành cho nghĩa mới

Sử dụng kiểu đánh fija trong Microsoft Word, Excel, Access…

 

Bạn có thể sử dụng phương pháp đả tự kiểu fija trong các phần mềm kể tręn mà không cần cài đặt. Xin chép phần AutoCorrect đưa vô trong Macro (trong Word, chọn Tools, Macro (hoặc Alt+F8) rồi chạy các Macro đó.

 

ngay khi đánh, dấu sẽ không hiện lęn nếu sau đó không có dấu ngắt câu hay phím cách chữ (space bar).

  cảm ơn bạn đă sử dụng kiểu fija!

 

 

|fija|forum|fija’s macros|bảng tóm tắt|guestbook|

|gõ kiểu serpent|serpent’s macros|english|esperanto