ĐẢNG DÂN CHỦ NHÂN DÂN
  ĐẢNG DÂN CHỦ NHÂN DÂN 

  

    

 
 

Home | Tuyen Ngon | Dieu Le & Hoat Dong | Tai Lieu | Tham Khao | NguyenHoangLong | HuynhVietLang | TranHoangLe | TranNam | Dien Thu | DienThu 62 | English | Online Update | CLBDCVN | FreeCongDo


 
Một số suy nghĩ qua các vụ đình công
   

Một số suy nghĩ qua các vụ đình công

Trần Hoàng Lê – TV/TW Đảng DCND

Những ngày đầu tiên của năm mới, chúng ta đã được chứng kiến một sự kiện nổi bật: Hàng chục ngàn công nhân đã đình công tại các khu công nghiệp ở Sài Gòn và Bình Dương.
Thời gian vài năm trở lại đây đã xảy ra nhiều cuộc đình công ở các công ty có vốn đầu tư nước ngoài và các công ty tư nhân trong nước.Theo thống kê chính thức, tính đến đầu tháng 6/2005 đã có tất cả 856 vụ đình công, nhưng chưa bao giờ số lượng công nhân đình công lại lớn như vừa rồi. Và một điều đáng suy nghĩ là chưa thấy công nhân dám đình công ở các công ty quốc doanh; dù rằng đồng lương ở khu vực này cũng khá thấp và trong nhiều công ty, công nhân phải làm việc khá vất vả.

Một số nguyên nhân của đình công ở Việt Nam trong thời gian qua:

Tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến các vụ đình công, chúng ta thấy có các nguyên nhân chủ yếu sau:

  1. Người sử dụng lao động nợ lương (chậm trả lương), không công khai bảng lương; không trả đúng mức lương theo như cam kết trong hợp đồng; trốn đóng bảo hiểm xã hội; buộc người lao động phải làm tăng giờ, tăng ca một cách tùy tiện, vượt quá quy định của pháp luật cũng như hợp đồng với người lao động; cắt phạt lương trái pháp luật.
  2. Mức lương tối thiểu quá thấp giữ nguyên trong một thời gian dài (6 năm), trong khi vật giá ngày càng tăng (chỉ số giá tiêu dùng tăng 25%, giá lương thực thực phẩm đã tăng 40%), khiến đời sống công nhân rơi vào tình trạng vô cùng khó khăn. Mặt khác, không có một quy định rõ ràng từ phía nhà nước về mức lương tối thiểu trong khu vực doanh nghiệp FDI (tính đến trước ngày 6/1/2006). Nhiều doanh nghiệp đã dùng mức lương tối thiểu để trả công nhân như là mức lương chính trong nhiều năm liền mà không xây dựng thang, bảng lương.
  3. Người sử dụng lao động thường xuyên xúc phạm, thậm chí là đánh đập công nhân.

Tác động và ý nghĩa của các cuộc đình công:

Kết quả của các cuộc đình công vào đầu tháng 1/2006 là đa số công ty xảy ra đình công đều cam kết cải thiện tình hình, chăm lo hơn đời sống công nhân đồng thời sẵn sàng tăng lương tối thiểu. Nhưng không phải cuộc đình công nào cũng dẫn đến một kết quả tốt đẹp như thế. Đã có những trường hợp người tham gia đình công bị đuổi việc. Tuy vậy, xét một cách tổng thể thì các cuộc đình công đã mang lại một tác động tốt, đó là sự ra đời của Nghị định 03CP tăng mức lương tối thiểu trong các doanh nghiệp FDI, của Chính phủ hôm 6/1/2006.
Trước đây, trong Bộ luật lao động, phần nói về đình công không rõ ràng, thiếu cơ sở thực tiễn. Khoản 2 điều 173 Bộ luật lao động qui định: “Việc đình công do ban chấp hành công đoàn cơ sở quyết định sau khi được quá nửa tập thể lao động tán thành bằng cách bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ ký”. Trên thực tế, công nhân không mong chờ gì từ phía tổ chức công đoàn. Cán bộ công đoàn cũng nhận lương từ doanh nghiệp và đứng về phía doanh nghiệp trong các vụ tranh chấp giữa bên sử dụng lao động và lao động. Đó là chưa kể rất nhiều doanh nghiệp không có công đoàn cơ sở, vậy thì người lao động ở các doanh nghiệp này không được quyền đình công theo pháp luật chăng? Cũng vì lý do nêu trên, công nhân không thể nào tổ chức đình công theo đúng trình tự pháp luật. Nghị định 03 của Chính phủ chỉ là một giải pháp tình thế, mang tính trước mắt. Về lâu dài cần phải có một bộ luật chi tiết hoàn chỉnh về đình công. Có như vậy mới bảo đảm được quyền lợi của người lao động về mặt pháp lý, nhất là khi chúng ta vào WTO càng ngày càng nhiều công ty ngoại quốc đầu tư vào VN. Và điều quan trọng nữa là giải quyết được một cách tốt nhất mối quan hệ Nhà nước- doanh nghiệp-người lao động.

Các vụ đình công vừa qua tuy còn mang tính tự phát nhiều, song cũng mang một ý nghĩa tập dượt sinh hoạt dân chủ. Quyền đình công đã được quốc tế bảo vệ thông qua Công ước quốc tế mà VN đã ký ngày 24/9/1982. Do vậy, các cuộc đình công diễn ra vừa qua là phù hợp với quyền cơ bản đã được thể chế hóa. Đó là một cách để đòi hỏi quyền lợi chính đáng của người lao động. Điều đáng trách là các cuộc đình công đã diễn ra 10 năm nay, nhưng chưa được Chính phủ lưu tâm đúng mức. Nhiều vị chức trách vẫn nhìn đình công với một cách nhìn thiếu thiện cảm theo lối cũ ( đình công là chống đối, là làm loạn!!).
Các tổ chức công đoàn vẫn không được cải thiện về khả năng quyền lực và trách nhiệm; Các tòa án vẫn chưa đứng ra phân xử. Đa số kết cục của đình công là sự tái thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động; trong một số trường hợp là có sự can thiệp của chính quyền địa phương.
Đình công xảy ra khi có sự mâu thuẫn giữa giới chủ và đa số người làm thuê. Một cuộc đình công được tổ chức có thể gây thiệt hại lớn cho người sử dụng lao động. Vì vậy, mỗi cuộc đình công là một sức ép lớn, buộc giới chủ phải xem xét lại các chế độ lương bổng, các chính sách,v.v…đối với người lao đông. Đình công, như vậy, cũng là một khâu trong quá trình tự điều chỉnh mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động. Đây là điều mà Marx, cha đẻ của chủ nghĩa cộng sản, không thể nào hình dung nổi khi ông khăng khăng khẳng định bạo lực cách mạng là con đường duy nhất cải thiện số phận của giai cấp công nhân.

Chúng ta còn nhớ vào tháng 04/2005, khoảng 1.000 tù nhân ở 20 trong số 60 nhà tù Thụy Điển đã đồng loạt đình công khi chính quyền nước này cắt giảm thời gian tập cử tạ và chơi thể thao của họ. Quyền đình công ở nước ngoài được tôn trọng đến mức như vậy đáng để nhà nước VN phải suy nghĩ về tính vô trách nhiệm của mình. Đừng để cho người lao động không biết trông cậy vào ai khi họ bị đối xử bất công, bị xúc phạm nhân phẩm, bị coi rẻ ngay trên quê hương của mình.

Thu hút các công ty ngoại quốc vào làm ăn ở VN là công việc quan trọng trong chiến lược phát triển nền kinh tế quốc gia. Nhưng không có nghĩa là điều đó được thực hiện bằng mọi giá. Nhà nước không được phép làm ngơ để cho giới chủ ngoại quốc ngang nhiên bóc lột công nhân.

Mỗi công dân phải được bảo đảm cuộc sống và bảo vệ phẩm giá của mình. Điều này đạt được đến đâu là tùy thuộc lộ trình dân chủ trên đất nước chúng ta đang được nỗ lực như thế nào.

Hà Nội ngày 17/1/2006
____________________________________________________


Sửa sai quá khứ và chấn hưng đất nước
   

Sửa sai quá khứ và chấn hưng đất nước

Kính thưa quý vị !

Việt Nam chúng ta đã trải qua mấy ngàn năm lịch sử. Những di ảnh của quá khứ hẳn đã không ít lần trỗi dậy trong tâm thức -lịch sử của mỗi người dân Việt. Gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ, cảm giác. Đó là nỗi bâng khuâng về hình ảnh của tổ tiên cái thuở "mang gươm đi mở cõi". Đó là lòng căm phẫn khi giặc ngoại xâm dày xéo quê hương. Đó là nỗi xót xa đau đớn khi chính người Việt chém giết nhau, của những: loạn 12 xứ quân, đàng trong- đàng ngoài, Tây Sơn- Chúa Nguyễn, Nhà Lê- Nhà Mạc, Bắc cộng sản- Nam cộng hoà,…. Phải nói, dân tộc chúng ta đã để mất mát quá nhiều thời gian và một lượng con người khổng lồ cho chiến tranh. Bởi thế, những tự hào về chiến thắng ngoại xâm chỉ như một niềm vui mộng mị che lấp bao tâm hồn con người khỏi biết xót xa trước những mất mát ấy. Mỗi người Việt cần phải dũng cảm phủi đi vầng sáng ảo mộng để nhìn thẳng vào sự thật yếu kém của lịch sử đất nước mình và ý thức vươn lên bù đắp cho những khoảng thời gian đã mất trong quá khứ. Tôi hoài nghi những người luôn vỗ ngực tự hào về một bề dày lịch sử dân tộc. Cái tự hào – hào nhoáng ấy đã ru ngủ con người, ru ngủ tiềm năng đất nước ghê gớm biết nhường nào !

***

Cha ông ta đã có những bước trượt dài. Dân tộc sinh ra không ít người có đầu óc lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thời Nhậm, Nguyễn Trường Tộ, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, v.v… Nhưng, những đề xuất của họ không được giới cầm quyền ngu dốt thực sự coi trọng. Vì thế, dân tộc Việt Nam đã bỏ lỡ mất những cơ hội cải cách hoặc canh tân đất nước.

Dù cho người bạn láng giềng của chúng ta là Nhật Bản có nắm được cơ hội canh tân trong cải cách Minh Trị, nhưng về cơ bản, Nhật Bản, cũng như Hàn Quốc, đều ảnh hưởng đậm đà của văn hoá, lối sống Khổng giáo và đi lên từ kinh tế tiểu nông. Vì vậy, sức trỗi dậy của hai nước bạn ấy đủ để động viên chúng ta tin tưởng vào sức mạnh của ý chí tự thân trong hiện tại và tương lai. Ý chí ấy giúp chúng ta mạnh dạn sửa lại những sai lầm của quá khứ.

Chúng ta không phủ nhận những thành tựu của cha ông. Nhưng nhất quyết không nên dựa vào những điểm không đủ sức đỡ để làm đòn bẩy tinh thần trong hiện tại.

Thế kỷ 20, những người mệnh danh là cộng sản đã dẫn dắt dân tộc đi qua nhiều sai lầm lớn không thể tha thứ. Tiếp nối của ngàn năm phong kiến là thời Pháp thuộc, rồi chiến tranh liên miên, rồi chính sách ngu dân thời bình, Đảng cộng sản đã dìm đất nước trong nước mắt, máu, và tăm tối. Vì lẽ đó, suốt thế kỷ 20 chúng ta cũng không có được một cơ hội canh tân nào.

Ước mơ hưng thịnh đất nước, sửa sai quá khứ phải thường trực trong mỗi người dân Việt. Đặc biệt là ở tầng lớp thanh niên, trí thức, doanh nhân. Phải biến nó thành nỗi niềm đau đáu, thúc giục con người bắt tay vào hành động vì một ngày mai tươi sáng cho tiền đồ dân tộc.

Nhưng, mọi lời kêu gọi canh tân, hưng khởi đất nước sẽ chỉ là vô nghĩa, trước sự trơ lỳ độc đoán của lãnh đạo ĐCS Việt Nam.

Nếu làm một phép phản chiếu giữa nền văn hoá Việt Nam hiện nay với các nền văn hoá tiên tiến trên thế giới, ai cũng thấy ngay được sự cai trị bao năm qua của Đảng cộng sản, với những sai lầm tội lỗi đối với nền văn hoá, đã biến nền văn hoá Việt Nam trở nên què quặt, thiếu sức sống. Dân chúng bạc nhược về tinh thần, đặc biệt là ý thức chính trị. Nhân cách, phẩm giá con người bị quyền lực chà đạp. Kinh tế thì nghèo nàn, lạc hậu thuộc loại nhất thế giới. Người dân Việt, nói chung, đi đâu cũng phải cúi đầu vì nỗi nhục của đói nghèo. Dân phải sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Lybia,… theo con đường xuất khẩu lao động để kiếm miếng ăn bằng đủ các nghề từ thợ mộc, thợ gò hàn,… đến móc cống, dọn nhà vệ sinh, bốc mả và cả ăn trộm, buôn lậu. Nhưng sỉ nhục thay, ngoại tệ thu được từ con đường xuất khẩu lao động lại là một trong những khoản đóng góp lớn nhất cho ngân quỹ nhà nước ! Vì sao dân chúng lại phải chịu đói khổ, nhục nhã như thế này ?!…

***

Để có được tự do phát triển chúng ta không thể ngồi chờ bất cứ một ân huệ nào mà phải chủ động đấu tranh không mệt mỏi cho quyền lợi của chính mình và của cộng đồng. Đã đến lúc, quần chúng phải quyết tâm bứt phá ra khỏi mọi sự sợ hãi cá nhân và mọi o ép của chính quyền. Khi hàng nghìn người thức tỉnh đoàn kết lại sẽ đủ sức động viên đồng bào làm một trận cuồng phong cuốn trôi đi bộ máy độc tài, xây dựng một kỷ nguyên mới cho Việt Nam.

Lịch sử cha ông đã gửi gắm lại cho con cháu ý chí quật cường chống giặc ngoại xâm, Nhưng lại không dể lại chút kinh nghiệm nào trong việc chống cường quyền. Chúng ta hãy biến "ý chí quật cường chống giặc ngoại xâm" thành ý chí quật cường chống lại những thối nát, bạo tàn của chế độ cầm quyền.

***

Không thể nào khác được, mục tiêu canh tân đất nước phải được dẫn dắt bởi những người đứng đầu có trình độ và có đầu óc cải cách, dựa trên nền tảng một xã hội dân chủ tiến bộ.

Trong bối cảnh lịch sử hiện nay của nhân loại, lực lượng quyết định vị thế của một quốc gia trên thế giới là nền khoa học và kinh tế tri thức. Không có lý do gì để Đảng cộng sản với tư cách là đảng của giai cấp vô sản lại được phép nắm giữ chính quyền, dẫn dắt dân tộc, kéo lùi bánh xe lịch sử, cản trở những bước tiến lớn.

Những người dân Việt Nam nhiệt tình và tâm huyết, hãy đoàn kết tạo nên một sức mạnh mới để nỗ lực chấn hưng đất nước.

Trần Hoàng Lê
Uỷ ban vận động tự do cho tù nhân chính trị tại Việt Nam
Việt Nam 6/2003

----- O -----

Nhà đối lập Việt Nam, Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn bị tuyên án nặng nề
(Ông Trần Hoàng Lê trả lời phỏng vấn báo Digital Freedom Network)
Shravanti Redy, Digital Freedom Network

(Ngày 19 tháng 6 năm 2003) - Nhà đối lập Việt Nam, Phạm Hồng Sơn, bác sĩ Y khoa với văn bằng Cao Học Quản Trị Kinh Doanh vừa bị tuyên án 13 năm tù cộng thêm 3 năm quản chế tại gia trong phiên toà kéo dài ít hơn nữa ngày tại Tòa án Nhân Dân Hà Nội.

Trong cuộc phỏng vấn với Digital Freedom Network, ông Trần Hoàng Lê, đồng sáng lập Ủy Ban Vận Động Tự Do cho Tù Nhân Chính Trị tại Việt Nam cho biết: "tội gián điệp chỉ là một sự bịa đặt trắng trợn". "Bản án vừa rồi nằm ngoài sức tưởng tựơng của tất cả mọi người, tôi thực sự buồn và thất vọng". Bị bắt ngày 27 tháng 3 năm 2002 chỉ vì tội đã dịch và chuyển gửi các bài viết trên mạng internet. Sơn đã bị giam tại trại giam B14, chính quyền không cho gặp mặt vợ và hai con từ đó đến nay. Phạm Hồng Sơn hoàn toàn phủ nhận các cáo buộc.

Theo tổ chức nhân quyền Human Rights Watch, bản cáo trạng viết ngày 10 tháng 4 cáo buộc Sơn tội gián điệp, dựa theo điều 80 bộ luật Hình Sự vì "Sơn đã chủ động liên lạc qua điện thoại và email với những thành phần cơ hội phản động trong và ngoài nước". Các trao đổi qua email của Sơn đã bị cáo buộc đầy rẩy trong bản cáo trạng. Sơn bị vu cáo đã sử dụng email để "dịch và gửi các tài liệu chống đảng, chống nhà nước ra hải ngoại" và đã "nhận các email từ thành phần đối lập ở nước ngoài" để thảo luận về cách thức thay đổi chế độ hiện thời.

"Đây là những nhân vật mà nhà cầm quyền Hà Nội cho là thành phần phản động". Ông Trần cho biết như vậy. Bên cạnh việc gán ghép Sơn tội đã viết bài phê bình, góp ý về chính sách chính trị và các nhân vật cao cấp trong Đảng. Sơn thực sự bị bắt vì đã dám dịch bài "Thế nào là Dân Chủ ?" đăng trên trang nhà của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Sơn cũng bị cho là có tội vì đã viết bài "Những Dấu Hiệu Đáng Mừng Cho Nền Dân Chủ Việt Nam", một bài viết chỉ đơn thuần trình bày về các ý tướng dân chủ, tán thành một nền chính trị đa nguyên, dân chủ và đa đảng.

Trong bức thư ngỏ gửi ngày 30 tháng 5 năm 2003, Ủy Ban Vận Động Tự Do cho Tù Nhân Chính Trị tại Việt Nam đã minh thị là Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, điều 69 đã xác nhân công dân "quyền tự do diển đạt và phát biểu ý kiến". Việt Nam cũng đã cam kết thực thi Công Ứớc Quốc Tế về quyền Dân Sự và Chính Trị, trong đó đòi hỏi nhà cầm quyền không được tùy tiện bắt, giam giữ và phải tôn trọng quyền khác biệt chính kiến (quan điểm chính trị), cũng như quyền tự do ngôn luận của công dân.

Ông Trần Hoàng Lê cho biết, Ủy Ban Vận Động Tự Do cho Tù Nhân Chính Trị tại Việt Nam đã được thành lập hồi năm ngoái ngay tại Việt Nam. Mục đích của Ủy Ban là nổ lực để vận động tự do cho những tù nhân chính trị đang còn bị giam giữ như Sơn và nhiều người khác. Ủy Ban đã liên tục vận động, phản đối các vụ giam giữ tùy tiện và những bản án dành cho các nhân vật đối lập vì đã bày tỏ chính kiến qua phương tiện truyền thông điện tử. Trong đó có Lê Chí Quang, bị tuyên án 4 năm tù và Nguyễn Khắc Toàn bị 12 năm tù. Ông Trần tiết lộ, "Ủy Ban sẽ tiếp tục làm hết sức mình để vận động tự do cho những tù nhân chính trị tại Việt Nam".

Phiên Tòa:

Theo Trần Hoàng Lê: "phiên tòa không có công bằng", "ngày từ lúc bắt đầu vụ án cho đến nay, mọi chuyện luôn được tiến hành một cách dấu diếm". Ông Trần cho biết, phiên toà không có luật sư hiện diện vì Phạm Hồng Sơn đã quyết định tự bào chửa cho chính mình. Bà Vũ Thúy Hà, vơ của Sơn đã được mời tới phiên toà, nhưng với tư cách là nhân chứng, không phải là thân nhân của bị cáo. Bằng những thủ đoạn như vậy, Hà Nội ngăn chận bà Hà quyền được gặp mặt chồng. Truớc khi toà bắt đầu hỏi bà Hà về những cáo buộc, thì công an đã đưa ông Sơn ra khỏi phòng xử án. Kể từ lúc Phạm Hồng Sơn bị bắt đến nay đã hơn một năm, bà Hà đã bị nhà cầm quyền Hà Nội từ chối quyền gặp mặt thân nhân đang bị giam.

Mặc dù phiên toà đã không có những cuộc phản đối bên ngoài. Nhưng đã có nhiều người tụ tập trước cổng tòa gồm bạn bè và thân nhân của Sơn, các phóng viên nước ngoài và các quan chức ngoại giao thuộc văn phòng Đại sứ Hoa Kỳ, Úc và Canada. Theo ghi nhận của Hiệp Hội Phóng Viên Không Biên Giới, công an đã bao vây khu vực bên ngoài tòa án, ngăn chận không cho phóng viên cũng như bất cứ ai vào tham dự. Nhiều nhân viên ngoại giao thuộc các quốc gia Bắc Mỹ, Úc và Âu Châu cũng đã bị từ chối dù trước đó họ đã chính thức gửi thư ghi danh đòi được tham dự phiên tòa.

Bản án đã làm nhiều người thất vọng. Thực tế cho thấy cần phải làm áp lực mãnh mẽ hơn nữa nếu muốn Phạm Hồng Sơn được trả tự do. Trần Hoàng Lê cho biết: "Mặc dù Sơn có thể kháng án, nhưng khó thay đổi kết quả bản án vì hệ thống tòa án của Việt Nam không dựa vào Hiến Pháp, Luật Pháp và nhều khi căn cứ vào quyết định của cá nhân cùng với những lý lẽ rất tùy tiện". Theo tin từ hảng thông tấn Reuter, Sơn có 15 ngày để làm đơn kháng án.

Vận Động Tự Do cho Bác sĩ Phạm Hồng Sơn:

Theo Trần Hoàng Lê, "trường hợp xử Sơn vừa rồi rất điển hình". Với hệ thống báo chí bị kiểm soát, "không một ai dám cất tiếng nói, tin tức thì bị kiểm duyệt, báo chí thì viết theo chỉ đạo của Đảng". "Tôi nghĩ thế giới cần phải gây áp lực mạnh mẽ hơn nữa" Trần cho biết, "Đã đến lúc cộng đồng thế giới và các quốc gia tự do nên xem lại vấn đề viện trợ cho Hà Nội, không thể mãi viện trợ để nuôi dưỡng chế độ độc tài đàn áp người dân".

Các tổ chức nhân quyền như Ân Xá Quốc Tế, Hiệp Hội Nhân Quyền, Ủy Ban Bảo Vệ Ký Gỉa, Hội Phóng Viên Không Biên Giới ... đều lên tiếng phản đối bản án vừa qua. Hội Phóng Viên không Biên Giới cho biết sẽ thông báo với các Tố chức quốc tế - trong đó có Việt Nam đang là hội viên - về những hành động đàn áp đối lập của Việt Nam. Tổ chức này cho biết sẽ vận động khối Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN), gồm 10 quốc gia có cùng chung mục đích là hợp tác đem lại hoà bình và thịnh vượng chung cho khu vực. Theo tin Reuter, chính phủ Hoa Kỳ đã tuyên bố qua bản thông cáo tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Hà Nội "Hoa Kỳ cực lực phản đối Hà Nội đã tuyên án nặng nề đối với Phạm Hồng Sơn chỉ vì tội đã dám bày tỏ quan điểm qua hệ thống mạng internet". Dù vậy, theo tin Reuter, bà Phan Thúy Thanh, phát ngôn nhân của Bộ Ngoại Giao Việt Nam tuyên bố "Nhà nước Việt Nam hoàn toàn yểm trợ tính quảng bá của liên mạng".

Điều lý thú là, theo Trần Hoàng Lê, ai cũng biết rằng Phạm Hồng Sơn bị án tù vì đã dịch bài "Thế Nào Là Dân Chủ ?" trên trang nhà của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam, thế nhưng bản cáo trạng buộc tội Sơn thì không có một chử nào đá động đến vấn đề này. Ông Trần cho biết "Tôi cứ tự hỏi là liệu Hà Nội có bị áp lực từ phía Hoa Kỳ về vấn đề này không". Theo Trần, sự kiện Hà Nội tuyên án nặng nề vừa qua đã làm cho người dân Việt Nam càng ngày càng nhận thức ra được mặt trái của chế độ. Đó là nhà nước Cộng Sản Việt Nam chỉ giỏi cai trị bằng lừa dối. Bản án đối với Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, Lê Chí Quang và Nguyễn Khắc Toàn đã làm "quần chúng cảm thấy rất xấu hổ và bị xúc phạm nặng nề".

Trong một bức thư ngỏ viết ngày 30 tháng 5 năm 2003 gửi ra hải ngoại, Ủy Ban Vận Động Tự Do cho Tù Chính Trị tại Việt Nam viết "chúng tôi cảm thấy xấu hổ làm công dân một nước mà hàng chữ - Cộng Hoà Xả Hội Chủ Nghĩa Việt Nam - Độc Lập - Tự Do- Hạnh Phúc được viết hoa trên mỗi tờ đơn, nhưng Nhà nước lại hoàn toàn làm ngược lại những gì đã viết" .

"Tôi vẫn luôn vững tin là một khi quần chúng vượt qua được nổi sợ hải bạo quyền, họ sẽ nổi dậy". Trần Hoàng Lê còn cho biết "Cũng đã đến lúc chúng ta cần phải có hành động cụ thể hơn là chỉ phản đối suông thì mới mong chấm dứt tình trạng đàn áp như hiện nay".

Nam Trần (lược dịch)
Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam


____________________________________________________

This Site has been designed for 800x600 resolution and Macromedia Flash Player 5. ________________________________________________________________________________ 

 
 Â© 2005 All Rights Reserved.
 

 

 

Create a free website at Webs.com