ĐẢNG DÂN CHỦ NHÂN DÂN
  ĐẢNG DÂN CHỦ NHÂN DÂN 

  

    

 
 

Home | Tuyen Ngon | Dieu Le & Hoat Dong | Tai Lieu | Tham Khao | NguyenHoangLong | HuynhVietLang | TranHoangLe | TranNam | Dien Thu | DienThu 62 | English | Online Update | CLBDCVN | FreeCongDo


 
Ủng Hộ Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ 2006
   
ÐẢNG DÂN CHỦ NHÂN DÂN
The People's Democracy Party
----------------------------------

Thưa toàn thể Quốc dân Việt Nam,

Vận mệnh đất nước đang lâm nguy, Tổ quốc thiết tha gọi mời tinh thần ái quốc của tất cả các công dân Việt Nam. Được kế thừa danh dự ngàn nãm từ các anh hùng liệt nữ, chúng ta đứng lên tranh đấu vì tương lai của chính con cháu chúng ta. Thời cơ để góp sức cho nước nhà đã đến, chẳng nên bàng quan đứng nhìn cơ đồ muôn đời ông cha ta phút chốc bị sụp đổ trong tay đảng cộng sản độc tài. Thực tiễn Việt Nam kêu gọi những hành động dấn thân hơn nữa từ mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội.

Với nhận thức nhiệt thành ủng hộ, đoàn kết cùng các cá nhân, lực lượng yêu nước đấu tranh vì nền dân chủ Việt Nam; đảng Dân chủ Nhân dân nhiệt liệt hoan nghênh tinh thần can đảm dấn thấn yêu nước của 118 người ái quốc trong danh sách Bản Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006.

Tuần tự công khai hoá các hoạt động tranh đấu bất bạo động, từng bước tiến tới đấu tranh nghị trường luôn là một sách lược được thực thi của đảng Dân chủ Nhân dân. Nội dung Bản Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006 là một đối diện thực tế nêu bật lên được những nhận định thể hiện đầy sức sống, sức khám phá và tình thế nước ta trong một giai đoạn quan trọng - giai đoạn chứa những cơ hội đủ sức lột xác hòng vươn lên ngang bằng với những lân bang cùng cảnh ngộ. Mỗi khi xã tắc lâm cơn nguy biến, con dân dám chấp nhận hy sinh, truyền thống người Việt Nam ta xưa nay vốn vậy. Nghĩa cử 118 nhân sỹ hào hùng ký tên vào Bản Tuyên ngôn Tự do Dân chủ sẽ được lịch sử dân chủ nước nhà ghi nhận. Đất nước hoàn toàn có quyền vững tin vào một tương lai tươi sáng, khi có được những người con bất khuất như các vị.

Đến hôm nay, thái độ cam phận sống cùng bất công, đói nghèo đã không còn hợp thời nữa. Điên cuồng đánh phá trào lưu đòi dân chủ trên toàn quốc chỉ là hành động bán nước hại dân của một thiểu số đảng viên cộng sản khư khư bám chặt tư lợi đặc quyền. Nhưng không vì một nhóm phản động kia mà hơn 80 triệu người Việt Nam ở trong nước lẫn hải ngoại không thể bắt tay liên kết cho những suy tư lớn, những chuẩn bị lớn… Dân chủ hóa nước nhà là giải pháp tối ưu giúp Việt Nam thoát khỏi quốc nạn tham nhũng, bất công, tụt hậu… để phát triển hội nhập cùng thế giới. Trong hoàn cảnh hiện tại, chủ trương tiến công quyết liệt vào chế độ độc tài Cộng sản là nhiệm vụ hàng đầu của toàn dân .

Con đường đi tới dẫu lắm nguy nan song không hề vì vậy mà toàn thể anh chị em đảng viên đảng Dân chủ Nhân dân dám thoái thác trách nhiệm và nghĩa vụ của mình. Thấm đẫm mồ hôi, nước mắt, vui buồn đời lao động; tất cả đảng viên Dân chủ Nhân dân trên toàn quốc và thế giới nguyện một lòng đi tiên phong trong công cuộc dân chủ hoá nước nhà, từng bước tiến công vào cơ cấu độc tài toàn trị cho đến ngày chúng sụp đổ hoàn toàn.

Liên tục trong thời gian qua, đảng Dân chủ Nhân dân đã mãnh liệt thực thi các hoạt động thiết thực. Đáp lại lời kêu gọi tranh đấu dân chủ, nhiều công dân nam nữ thuộc mọi tầng lớp trong xã hội không quản hiểm nguy đã tự nguyện đứng vào hàng ngũ của Đảng. Sức mạnh có thể đập tan chế độ Cộng sản độc tài hiện nay chính là tác phong hành xử chuyên nghiệp, phương cách làm việc có tổ chức, hoạt động có phối hợp trên phạm vi toàn quốc và hải ngoại. Nhiều chương trình huấn luyện được thiết lập, nhiều kế hoạch làm việc đã phát động. Mang một lương tri thời đại, tất cả công dân Việt Nam hãy bỏ lá phiếu ủng hộ nền dân chủ nước nhà bằng chính những hành động cụ thể của mình.

Tranh đấu cho quốc gia phồn vinh, dân sinh cường thịnh là quyền và trách nhiệm của tất cả những con người có huyết thống Việt; hoàn toàn không xuất phát từ sự ban ơn của đảng Cộng sản. Đảng Cộng sản phải chịu trách nhiệm về sự tụt hậu của Việt Nam suốt bao nhiêu nãm qua. Khát vọng tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân phải được thực thi. Điều 4 hiến pháp phải được xóa bỏ quyền tự do hội họp, thành lập đảng phái, sinh hoạt tín ngưỡng v.v... phải được công nhận. Chỉ có xã hội dân chủ mới huy động được toàn lực quốc gia để xây dựng nước nhà. Thế hệ tương lai Việt Nam không thể tiếp tục chịu đựng xếp hàng tung hô những điều nhảm nhí mà cả thế giới hôm qua đã vứt vào sọt rác lịch sử. Lộ trình phát triển Việt Nam phải là công sức hoạch định, đóng góp của toàn thể nhân dân; không thể là đặc quyền tự tác như họ đang âm mưu thực hiện trong đại hội X Cộng sản hiện nay.

Rồi đây, cuộc tranh đấu vì quyền con người tại Việt Nam sẽ tiếp tục với một tầm vóc lớn mạnh hơn. Phấn đấu xây dựng một nền chính trị dân chủ và dân quyền là định hướng tương lai cả dân tộc trong nhiều thập kỷ tới. Hạnh phúc và mong ước của nhân dân phải được tôn trọng. Đó là lư tưởng của nhiều công dân ái quốc Việt Nam, đang nỗ lực thực hiện từng ngày và sẵn sàng chết cho niềm tin này.

Việt Nam, ngày 12 tháng 04 nãm 2006.

Dân chủ nhất định thắng !
TV/TƯ Đảng Dân chủ Nhân dân
Nguyễn Hoàng Long


____________________________________________________


Tình hình bất đồng chính kiến
   

Tình hình bất đồng chính kiến ở Việt Nam

 

Huỳnh Việt Lang – ĐDCND

 

“Đối đầu cùng một chế độ độc tài chuyên nghiệp không thể chỉ bằng một lực lượng cách mạng nghiệp dư. Việc chú tâm đào tạo lực lượng cán bộ dân chủ có kỹ năng cao là một mục tiêu sanh tử của các tập thể chính trị dân chủ hôm nay. Nếu trong kinh tế, một trong những vũ khí quyết định thành bại trong nền kinh tế cạnh tranh thế kỷ XXI là kỹ năng của lực lượng lao động thì trong chính trị, kỹ năng làm việc của các cán bộ đấu tranh chính trị sẽ quyết định sự thành bại của cách mạng dân chủ.”


Trong tình hình đất nước hiện nay, song song với việc kiện toàn hệ thống lý luận dân chủ, việc phát triển lý thuyết xây dựng tổ chức tranh đấu dân chủ cũng là một công tác quan trọng. Đấu tranh vì dân chủ là đấu tranh chính trị, đấu tranh chính trị về mặt hình thức là trước hết là đấu tranh tổ chức. Trong giới hạn bài viết này, người viết chỉ đề cập đến tình hình chung của xu hướng dân chủ trong nước; nhằm đảm bảo yếu tố an ninh, không đi sâu vào tình hình của bất cứ tập thể chính trị (đảng, câu lạc bộ, tập hợp) cụ thể nào trong nước.

 

Thực trạng sóng ngầm bên trong Việt Nam chưa bộc lộ hoàn toàn với cộng đồng hải ngoại, một phần do thông tin trao đổi giữa trong và ngoài nước chưa thực sự thông suốt. Bài học thực tế đã xác nhận: đa số nguyên nhân gây ra bại lộ tổ chức từ những năm 1980 đến nay, dẫn đến tình trạng nhân sự trong nước bị bắt hàng loạt thường xuất phát từ những mối liên hệ với người ngoài nước. Cộng đồng hải ngoại có vẻ đã chểnh mảng trong việc thanh lọc các tổ chức của mình. Kể từ sau vụ án gián điệp Đặng Mỹ Dung (Yung Krall) tháng 01/1978 do CIA cộng tác với FBI thực hiện, dẫn đến việc một trong những người điều phối mạng lưới điệp viên cộng sản ở Mỹ - đại sứ VN tại Liên Hiệp Quốc là Đinh Bá Thi bị trục xuất; khoảng thời gian còn lại là một tình trạng êm ả đáng sợ suốt gần 30 năm qua. Ðiệp viên cộng sản VN sang Mỹ trước 1975, ngay trong và sau 1975; sau đó là vào năm 1978 theo chủ trương cho người Tàu rời VN. Ðợt chuyển quân rầm rộ cuối cùng nhất nằm ngay trong chương trình ODP được thực hiện qua kế hoạch H. Phòng tuyến hải ngoại chống độc tài đã bị hở lưng trước mạng lưới tình báo cộng sản VN tại Tây Âu và Bắc Mỹ. Điều này khiến nhiều người trong nước khó tránh được ánh mắt nghi ngờ khi nhìn sang kia bờ Thái Bình dương. Các tập thể đấu tranh trong nước rất thận trọng trong việc liên lạc bên ngoài…

Từ vị trí của mình, mỗi người có quyền đặt vấn đề theo mỗi góc độ khác nhau. Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu phân tích tập hợp bất đồng chính kiến Việt
Nam như là một tổ chức đối lập có nền tảng thể chế chung, tập trung quanh một hệ thống lý thuyết có lý luận chặt chẽ. Trong thực tế, những người yêu nước Việt Nam tìm đến dân chủ như một giải pháp tối ưu nhằm giải thoát tình trạng luôn bị áp chế tùy hoàn cảnh cá nhân, tập thể nhỏ và tầng lớp của mình. Xu hướng đấu tranh dân chủ trong nước là một hệ thống mở, có khả năng hòa nhập nhiều cơ chế hoạt động không rập khuôn nhau. Nương theo những quy phạm dẫn đạo (code of conduct) các đoàn thể vì lợi ích chung mà đối thoại để cùng hướng đến mục tiêu trước mắt: triệt hạ chế độ độc tài của đảng cộng sản. Hình thức đấu tranh võ trang đã rút lui vào quá khứ để thay thế vào đó là những phương thức đấu tranh cách mạng phi bạo lực.

 

Trong cuộc cách mạng dân chủ hiện nay, người chiến sĩ cách mạng không đợi chờ những ưu đãi từ cơ chế chính trị đương quyền mà là khả năng tự tạo ra lợi thế cạnh tranh, thuyết phục quần chúng ủng hộ cách mạng. Diễn biến chính trị hôm nay phụ thuộc phần lớn vào sức mạnh của trí tuệ. Hiện tượng hàng loạt nước Đông Nam Á và Á châu phát triển mãnh liệt nhờ vào nguồn lao động có kỹ năng giai đoạn cuối thế kỷ XX đã minh chứng cho nhận định này. Công nghệ thông tin đã rút ngắn được khoảng chênh lệch về tầm cỡ phát triển giữa Âu Mỹ và Á châu, chẳng riêng trong lĩnh vực kinh tế mà cả chính trị và công nghệ tiến hành cách mạng cũng vậy.

I. Những thiếu nữ đánh thanh la

Đầu tiên, ở Việt
Nam không có nhiều lắm những “nhà bất đồng chính kiến” - chỉ có những người bất đồng chính kiến. Tự bản thân những người hoạt động dân chủ đều nằm lòng một điều tối hậu rằng: trong cuộc đấu tranh cùng nhân dân, họ sống trong lòng nhân dân vì bản thân họ cũng thường là một thường dân; họ xa lạ với những đại từ “nhà’ hay “lều”. Các chiến sĩ dân chủ ở vùng nông thôn là những người biết làm ruộng, biết quấn thuốc rê, xử dụng thành thạo các ngôn từ dân dã… còn những người vào thành phố thì biết đạp xích lô, từng làm cu-li khuân vác và chạy xe ôm… Tức họ thực sống cùng nhân dân nên những điều họ nói ra dễ trở nên lọt tai với đại đa số quần chúng. Hơn nữa, khái niệm “bất đồng chính kiến” thì nặng về tầm mức nhận thức và dễ thường nằm lại ở đâu đó trong tầng lớp trí thức – không phản ánh hết được phạm vi xuất thân và hoạt động thực tiễn của những người đấu tranh dân chủ Việt Nam hôm nay.

Thậm chí trên nhiều diễn đàn chính trị hiện nay, những người ái quốc trong nước đang chỉ làm công việc của một trạm phát tín hiệu: “Chúng tôi - những người yêu dân chủ đang có mặt” - hơn là cố công biểu diễn những ý tưởng cá nhân. Nhân dân đã nhận và chắc chắn sẽ hồi âm. Đó là một trong những thực tế hôm qua của chính người viết bài này. Những người bất đồng chính kiến hiện nay trong nước đều hiểu rõ các điều sau:

- Trước khi cùng toàn dân phất lên những hiệu kỳ vàng, đỏ hay cam…trong cuộc đại diễu hành trên toàn quốc, chính bản thân những người dân chủ xuất hiện công khai sẽ làm thay thế chức năng của những hiệu kỳ.

- Trừ một vài cá nhân có thể đếm được trên một bàn tay, tất cả những người yêu dân chủ trong nước hôm nay chưa hề được qua bất cứ một trường lớp đào tạo chính quy nào để trở thành chính khách. Hành trang bước vào phong trào của mọi người chẳng có gì ngoài một một lòng yêu nước nồng nàn và niềm tin sắt đá vào chính nghĩa dân chủ.

Để hiểu thêm về những người dân chủ đấu tranh trong nước, ta có thể viện dẫn một câu chuyện sau: Vào năm 1789, Quốc dân nghị hội Pháp đưa bản tuyên ngôn nhân quyền lên nhà vua. Điện
Versailles vẫn mở yến tiệc linh đình, coi thường bản ý nguyện dân chúng. Mọi người thất vọng và căm phẫn. Nhà hùng biện Danton bước lên diễn đàn, thao thao bất tuyệt luận tội nhà vua. Ông ta nói chúng ta thiếu bánh ăn là vì nhà vua, hãy lôi nhà vua ra chợ thì anh em sẽ hết đói. Đám đông thính giả say sưa nghe Danton thuyết trình. Giữa lúc ấy có một thiếu nữ bước ra, vừa đánh thanh la vừa hô to: Hãy trả bánh ăn cho chúng tôi. Một số thiếu nữ khác ùa theo, đám đông rùng rùng cất bước. Người ta cho rằng, nếu hôm ấy không có người thiếu nữ Pháp đánh thanh la, lịch sử nhân loại sẽ không hề biết tới trên đời này có một bản tuyên ngôn đề cập đến nhân quyền. Bởi dân chúng hôm ấy có cuồng nhiệt đến đâu, rồi có lẽ cũng sẽ… giải tán, một khi nhà diễn thuyết Danton hạ đàn. Đa phần những hạt nhân dân chủ hôm nay gần hơn trong vai trò người thiếu nữ đánh thanh la, hơn là một nhà diễn thuyết hoàn hảo như Danton.

Do đó, chuyện thử đi điểm danh các lãnh tụ phong trào dân chủ ở Việt
Nam là một công việc vô bổ. Những người nhiệt huyết tự đứng ra đảm đương các công tác quan trọng trong nhóm, họ hoạt động với tư cách là người dám chịu trách nhiệm nhiều hơn người khác, hơn là - với tư cách một thủ lĩnh nắm quyền. Những hạt nhân dân chủ này cảm nhận sự nóng lạnh của đời sống nhân dân ngay trên da thịt và bao tử của chính mình. Khả năng tiếp cận các phương cách hoạt động bài bản từ Đông Âu và Trung Á quá nhọc nhằn, sau khi vượt qua sau những kiểm duyệt khắc nghiệt của chế độ độc tài cộng sản. Khái niệm “một đa số thầm lặng” không còn chính xác trong xã hội Việt Nam hôm nay. Một đám đông im lặng, ít lên tiếng song chẳng phải vì vậy mà đồng bào ta không nghe, không đọc và không trăn trở. Thay vào đó, mạng lưới cảm tình viên chính là hệ thống thần kinh ghi nhận các biến đổi của xã hội, nhanh chóng phản hồi về trung tâm, trước khi tiếp nhận lại các biện pháp đối phó.

Cuối cùng đặc điểm chắc chắn để nhận diện những người đấu tranh dân chủ là họ thường có khả năng làm việc như một lực sĩ bên cạnh khả năng cố gắng chu toàn việc chung, họ cũng có một gia đình với tất cả những nhu cầu cơm, áo, gạo, tiền như bao người dân bình thường khác.

II. Sự phân tán về nhân sự và tổ chức

Để có thể chống đỡ hữu hiệu những áp chế từ bên trên xuống, hàng ngày phải đương đầu với PA 25 (phụ trách an ninh văn hoá) và PC35 (cục phản gián), tình trạng phân tán của lực lượng phù hợp với sách lược chú trọng đẩy mạnh các hoạt động dân chủ cấp cơ sở. Trước cơ cấu tổ chức lực lượng công an – công cụ đàn áp của chế độ - có đến 70% là cảnh sát, đặc điểm phân mảnh về tổ chức của phong trào dân chủ đã tỏ ra thích ứng.

Việc trông mong vào động thái thay đổi bên trong các định chế nhà nước độc tài cộng sản dẫn đến khả năng mở rộng không gian chính trị, tính đến thời điểm bế mạc kỳ họp hội nghị trung ương lần thứ 12 của đảng cộng sản VN, là một thất vọng bất khả biện minh. Sự kiên nhẫn chịu đựng của nhân dân trước tệ quan liêu và tham nhũng của hệ thống công quyền đã đến những giới hạn cuối cùng. Phần việc còn lại là tính năng động của xã hội dân sự, với đầu tàu là lực lượng dân chủ trong nước. Phương cách đấu tranh hiện nay là biết lẫn vào trong nhân dân, chứ không phải là bước ra khỏi hàng ngũ để thực hiện vị thế lãnh đạo của mình. Chính lòng dân là chiến lũy, là pháo đài che chở tốt nhất cho các hoạt động cách mạng dân chủ. Nhờ sự ủng hộ của đồng bào và hồn thiêng sông núi, những nhân sự khả dĩ lãnh đạo quần chúng trong vụ nổi dậy mùa Hè thu 1997 ở Thái Bình và khu hữu ngạn sông Hồng, đêm 21 tháng 3 năm 2005 ngay trung tâm Sài gòn vẫn tồn tại trong vòng bí mật. Đây là những minh chứng về hoạt động liên kết giữa xu hướng dân chủ với xã hội dân sự Việt
Nam.

Việc phân tích phong trào dân chủ đối lập trong nước hiện này cần được hiểu là một cơ chế đấu tranh, những quan điểm phân tích xuyên qua lăng kính một cơ chế chính trị trong mô hình xã hội nguyên chính trị ổn định chỉ khiến đẩy câu chuyện ngày càng đi xa khỏi thực chất hiện trạng nước ta. Từng bước tiến đến đấu tranh trực diện, các cơ sở được giao nhiều quyền chủ động. Bằng kỹ thuật nghịch đảo, một lãnh đạo an ninh cộng sản cao tay dư khả năng xác định được mục đích của một phong trào phản kháng trong xã hội. Nhưng để chặn đứng được quy trình phát động của cách mạng dân chủ thì chưa chắc sự đoàn kết của 13 ủy viên bộ chính trị cộng sản có thể giải quyết nổi. Đó là những gì đã diễn ra và chắc chắn không chỉ dừng lại ở Kyzgystan hôm qua. Chính hiện trạng đa nguyên của lực lượng dân chủ Việt
Nam trong nước và hải ngoại đã đem lại lợi thế này. Khi chỗ đứng của công dân luôn bị đặt trong vị trí bất xứng trong mô hình nhà nước toàn trị thì để đối ứng, lực lượng dân chủ được xây dựng trên một cấu trúc phi tập trung là cần thiết.

Mặt khác, những gì đã diễn ra ở Đông Âu chưa chắc xảy ra ở Việt Nam, một khi thực trạng nước ta lại gần hơn với Trung Á. Tế nhị hơn, lực lượng dân chủ Trung quốc sau cơn chấn động Thiên An môn đã có những cái nhìn tham khảo sang Việt Nam (1). Trong trận chiến dân chủ hôm nay, cần có một cái nhìn khách quan về thời cuộc là một trong những yêu cầu tối hậu. Dân chủ Việt
Nam sẽ thành công nếu chuyển tải được những bản sắc Việt Nam, mọi sự mô phỏng cứng nhắc đều ẩn tàng những nguy cơ tự sát. Hạ thấp trình độ của đối phương là đồng nghĩa khinh suất trong chiến lược, thất bại về chiến thuật, là có tội với nhân dân, chiến hữu.

III. Hoạt động xã hội của phong trào dân chủ

Liên tiếp từ cuối năm 1996 sang đầu năm 1997, công nhân Sài gòn đã phát động 8 cuộc đình công từ quy mô nhỏ (150 tài xế taxi Vina) đến mức độ lớn (800 công nhân xí nghiệp may Khánh Hội, 1.000 công nhân khu chế xuất Tân Thuận). Ngay trưởng phòng PA.15 vào thời gian này là đại tá Huỳnh Hạnh cũng nhận định: “Có sự chỉ đạo ngầm của nhóm kháng chiến cũ…”

Khái niệm “bất đồng chính kiến” ngày càng tỏ ra không còn thích ứng trước thực tế đấu tranh dân chủ ở Việt
Nam. Bởi với những công việc mà các chiến sĩ dân chủ trong nước đã thực hiện được đến hôm nay, nếu gọi họ là những người “bất đồng chính kiến” e rằng không phản ánh hết được bình diện hoạt động trong xã hội của họ. Các hoạt động dân chủ trong nước không chỉ giới hạn trong việc đưa ra các kiến nghị, đề đạt trong lãnh vực chính trị một khi những yêu cầu bảo vệ nhân quyền ngày trở nên cấp thiết hơn. Với thực chất thuần tuý là một tổ chức ngoại vi của chế độ, công đoàn nhà nước đã lẩn tránh vai trò đại diện cho người lao động thành thị. Trong các cuộc đình công, những thủ lãnh công nhân tự phát/tự giác đã khẳng định được vị trí của mình trong hàng ngũ những người dân chủ hoạt động không công khai. Tuy nhiên cũng cần khẳng định rằng, bên cạnh các hạt nhân phong trào, yếu tố dẫn đến thắng lợi trong các cuộc đình công chính là tinh thần quật cường của anh chị em công nhân. Những người lao động này đã đem nồi cơm của mình ra đối đầu với sự bất công, dũng cảm đứng lên vạch trần chính sách pháp lý vô đạo đức của nhà nước XHCN (2). 

IV. Tình trạng ẩn danh, đa nguyên về quan điểm

Bản chất của cuộc đấu tranh dân chủ Việt Nam hôm nay là sự xung đột giữa thiểu số độc tài thống trị và đa số lầm than bị trị, mức độ đã dần chuyển đến ngưỡng một mất một còn. Trong lúc thời cơ hành động chưa chín muồi, phải bảo toàn lực lượng luôn là mục tiêu thiết thực được đề ra, việc xuất hiện công khai chưa phải là yêu cầu cấp bách. Công cuộc đấu tranh dân chủ nước nhà trong giai đoạn hiện nay chưa phát triển đến hình thức đấu tranh nghị trường, cho nên, tình trạng nhân sự cần ẩn danh hoạt động bí mật là hoàn toàn hợp lý. Sách lược bảo toàn lực lượng này thích ứng để đương đầu cùng một chế độ phi chính thống - hoàn toàn không do dân cử, điên cuồng bám giữ sự tồn tại bằng các bằng các phương tiện bạo lực (công an, mật vụ, lao tù). Trong bầu không khí chính trị khắc nghiệt đó, có quá ít chỗ cho việc tồn tại những quan điểm độc lập phi cộng sản, do đó việc phải bảo vệ sự tồn tại những chính kiến bất đồng bằng phương án đấu tranh ẩn danh là hoàn toàn hợp lý.

Quá trình tranh đấu cho dân chủ không hề giống việc nhìn cây sung, để ngày qua ngày há miệng đợi quả rụng mà là một quá trình làm việc cật lực nhiều năm tháng. Kết quả thành bại trong cuộc đối đầu công khai giữa lực lượng cách mạng dân chủ với nhà cầm quyền độc tài là dựa vào thực lực, hoàn toàn không giống một trận đấu võ mồm đầy hoang tưởng. Trong tình hình đặc thù Việt
Nam hiện nay cũng cần xác định rằng, biểu tình không phải là hình thức đấu tranh ôn hòa thuần túy, chiến tranh biểu tình là một hình thức đấu tranh bạo lực chính trị. Khi cuộc chiến biểu tình đã phát động, lực lượng cách mạng đã chính thức chuyển sang đấu tranh công khai trực diện cùng nhà cầm quyền, lúc ấy, sẽ không có đất để lực lượng cách mạng rút lui hoặc thỏa hiệp.

Mặt khác, mục tiêu đấu tranh của dân chủ là xây dựng một xã hội đa nguyên về chính kiến. Do đó, hiện tượng xuất hiện các ý kiến khác nhau trong xu hướng chung dân chủ là một tất yếu. Chẳng có lý do gì cần phải nhân danh để xóa bỏ hay dập tắt sự dị biệt giữa các ý kiến, trừ phi muốn tạo một hình thức đoàn kết có tính mị dân hoặc cổ xúy cho một định chế độc tài mới.

Đang ở trong nước, người viết muốn đặt vấn đề từ góc độ này. Ở đây thuần tuý là một sự trao đổi, hòng mong qua đó, chúng ta rút ra những đóng góp nhất định cho phong trào chung. Tất nhiên, đối đầu cùng một chế độ độc tài chuyên nghiệp không thể chỉ bằng một lực lượng cách mạng nghiệp dư. Việc chú tâm đào tạo lực lượng cán bộ dân chủ có kỹ năng cao là một mục tiêu sanh tử của các tập thể chính trị dân chủ hôm nay. Nếu trong kinh tế, một trong những vũ khí quyết định thành bại trong nền kinh tế cạnh tranh thế kỷ XXI là kỹ năng của lực lượng lao động thì trong chính trị, kỹ năng làm việc của các cán bộ đấu tranh chính trị sẽ quyết định sự thành bại của cách mạng dân chủ.

Sài gòn, ngày 26/07/2005

(1) Nhà hoạt động dân chủ Vương Bính Chương (Wang Bingzhang) thường trú nhân Hoa Kỳ bị an ninh Trung quốc bắt trên lãnh thổ Việt Nam hồi tháng 07/2002, tòa Thẩm Quyến tuyên án tù chung thân. Theo BBC và RFA ngày 22/01 và
10/02/2003.
Riêng ở hải ngoại, mới đây nhất có lời kêu gọi của phong trào Cửu Bình (www.9binh.com) mời người Việt tự do tham gia tập hội ở Washington DC vào trưa ngày 22/07/2005, kỷ niệm 3 triệu người thoái đảng ở Trung quốc.

(2) Tính đến thời điểm tháng 06/2005, gần 100% các cuộc đình công đã và đang xảy ra đều vi phạm pháp luật nhà nước XHCN; toàn thể những người lao động tham gia đình công đều có nguy cơ bị sa thải hợp pháp, thậm chí bị truy tố trách nhiệm hình sự - nếu giới chủ căn cứ vào bộ Luật Lao động nhà nước XHCN ở các điều 173, 174 và 178.


Tài liệu tham khảo:

- “Political Change in
Vietnam: in search of the middle class challenge to the state”, tạp chí Asian Survey, 2002. Của Martin Gainsborough.
- Tiểu luận “Ðiều kiện hình thành chính thể Dân Chủ tại Việt
Nam”; “Quyền Vi Chính”, 2004 & 2005. Của Việt Bào Phạm Văn Bản.
- Tiểu luận “Thử phán đoán cho một lộ trình dân chủ hóa nước nhà”, tháng 03/2005. Của Vân Việt Hà.
- Tiểu luận “Dân chủ hóa Việt
Nam - hiện thực và khả năng”, Mùa Xuân 2004. Của Lê Tùng Minh.
- “Tiểu luận số 1: Bảy hạn chế lớn của bất đồng chính kiến ở Việt
Nam” tháng 07/2005. Của Lâm Yến.

 

----- O -----


____________________________________________________


Những lãnh đạo lưu manh
   

Những lãnh đạo lưu manh

Nguyễn Sơn (Nam Trần) – ĐDCND

 

“Độc tài, độc đảng là bà đẻ của tham nhũng vì hệ thống cai trị dựa trên sự bao che và tuỳ tiện để bảo vệ đặc lợi cho đảng cầm quyền, tạo ra một tầng lớp cai trị lưu manh “hồng hơn chuyên” toa rập nhau, đứng trên các qui định của pháp luật và sử dụng pháp luật để biện minh cho vai trò nhà nước độc tài nhằm nuổi dưỡng tham nhũng.”

 

Tình trạng đảng viên lãnh đạo cao cấp đảng csvn tham nhũng, đục khoét công quỹ đã đến mức bút mực không ghi hết tội. Trong khi Trung Quốc đã xử bắn nhiều đảng viên can tội tham nhũng thì taị Việt Nam, dù vẫn còn áp dụng luật tử hình nhưng chưa thấy đảng đem những lãnh đạo lưu manh ra trị tội.

 

Các cấp lãnh đạo đảng ở ngành Dầu Khí, tham nhũng hàng triệu dollars cũng chỉ bị tuyên án vài năm tù. Trong tù, có tiền chạy chọt, đút lót sống thoải mái, vô tư như ở ngoài đời, thậm chí họ còn có thể tung tiền ra để chạy được trại giam tốt. Tham nhũng bị vài năm tù, ra tự do ôm chục triệu dollars sống đế vương “hạ cánh an toàn” tại sao phải sợ? Vụ án dính đến Nam Cam, thiếu tướng Bùi Quốc Huy UV Trung ương đảng được tha rất sớm. Riêng vụ bà Lã thị Kim Oanh, bản thân bà Oanh bị án tử hình nhưng các đảng viên trung ương có dính líu vẫn bị xử phạt rất nhẹ, tượng trưng.

 

Dư luận cho rằng ngày nào đảng csvn tử hình vài trăm kẻ tham nhũng “gộc” liên hệ đến lãnh đạo như trong Bộ Giao Thông Vận tải cỡ Bùi Tiến Dũng, Nguyễn Việt Tiến...thì tệ nạn tham nhũng mới có khả năng giảm. Giảm chứ không thể chấm dứt được vì vấn nạn của tham nhũng không chỉ giải quyết bằng án tử hình, nó chỉ giúp cho Đảng thuyết phục được dư luận trong và ngoài nước rằng một số lãnh đạo đảng csvn đang quyết tâm bài trừ tham nhũng để cứu đảng.

 

Vụ án PMU18 hiện đang còn rất nóng. Dù Nguyễn Việt Tiến, Thứ trưởng thường trực Bộ GTVT đã bị bắt nhưng dư luận vẫn chưa an tâm. Còn bao nhiêu đảng viên cao cấp cỡ Bộ trưởng, thứ trưởng có dính líu đến PMU 18, còn cả ngàn PMU 18 khác chưa được phát hiện hay đang được Đảng che đậy? Với tiềm năng quản lý một số tài khoản hàng tỷ dollars, PMU 18 không thể một mình ăn hết được. Các lãnh đạo Bộ GTVT phải chia chác, phân phối tài khoản đồng đều đến các con sâu tham nhũng ở những bộ phận khác từ chục năm nay theo phương cách ăn đồng chia đều. Hiện tượng cho hàng trăm ô tô đến các cơ quan, ngành…. xác minh được mối liên hệ chia phần này.

 

Một cách duy lý, nếu Bùi Tiến Dũng không “đấm mõm” ông Nguyễn Việt Tiến thì ông Tiến không để yên cho Dũng ăn. Ngược lại, ông bộ trưởng Đào Đình Bình không phải dại đến nỗi để cho cấp dưới tham nhũng hàng trăm triệu dollars, đưa người nhà vô nắm các vị trí ngon trong Bộ GTVT, còn bản thân ông Bộ trưởng thì không liên hệ gì hết, chỉ vì ông cho biết đ㠓xử lý không nghiêm minh” mà vụ việc tham nhũng mới tày trời như vậy.

 

Sau khi biết mình có thể bị bắt, Bùi Tiến Dũng đã tung gần nửa triệu dollars để cho đàn em lo chạy án. Cuộc họp bàn kế chạy án có mặt hai thứ trưởng và một cán bộ lãnh đạo cao cấp ngành an ninh, thiếu tướng Cao Ngọc Oánh. Ai là những kẻ giấu mặt liên hệ với Bùi Tiến Dũng trong cuộc họp bàn kế chạy án? hai lãnh đạo cấp thứ trưởng đó là ai? thuộc bộ nào?. Ngoài 100 ngàn dollars đưa cho Dũng “Huế” để chạy án, số còn lại 400 ngàn dollars đã chia cho ai trong cuộc họp mặt tại khách sạn Melia, Hà Nội? Những khúc mắc này chắc có liên quan chằng chịt đến đường dây ăn đồng, chia đều từ Bộ GTVT đến các Bộ khác.

 

Tham nhũng, bệnh ngoài da

 

Mới đây, theo TTX VN hôm 31 tháng 3, 2006 Nhật Bản lại chính thức rót thêm hơn 700 triệu dollars nữa cho các dự án xây dựng và phát triển hạ tầng cơ sở như  “ xây dựng nhà máy nhiệt điện Ninh Bình II, xây dựng cầu Nhật Tân (cầu Hữu Nghị Việt-Nhật), cầu sông Hồng, cải thiện môi trường nước thành phố Sài Gòn giai đoạn 2, cải thiện môi trường nước thành phố Hà Nội giai đoạn 2, viện trợ đào tạo công nghệ thông tin bậc phổ thông trung học, xây dựng hệ thống tưới tiêu Phan Ri-Phan Thiết (tỉnh Bình Thuận), xây dựng cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ ở những khu vực nghèo khó và nâng cấp những cơ sở y tế địa phương.”

 

Đây là những khoản tiền béo bở mà hầu hết sẽ do PMU 18 bao thầu nếu không bị phanh phui. Nhật là quốc gia cho Việt Nam vay nhiều nhất với khoản tiền lãi nhẹ, cạnh đó ngân hàng thế giới cũng góp phần không nhỏ trong việc cho vay để xây dựng các công trình có tầm mức quốc gia. Thực ra, tham nhũng đục khoét công quỹ chỉ là bệnh ngoài da. Với mức độ tham nhũng cỡ  Bùi Dũng Tiến, nếu 300 triệu dollars chạy vô túi Dũng và bọn lãnh đạo lưu manh trong tổng số 1 tỷ dollars dự án thì vẫn chưa đáng nguy hiểm. Cái đáng sợ nhất là số còn lại tiếp tục bị ăn, bị khấu trừ vào những công trình dởm do quá trình đục khoét, rút ruột qui mô từ nhiều cơ phận, khó lòng truy ra và liên hệ đến hàng ngàn cá nhân khác. Kết quả là để lại cho nhân dân, đất nước một gia tài rỗng ruột, một gánh nặng nợ khổng lồ gồm những công trình què quặt, mất chất lượng dẫn đến nguy cơ tại nạn với biết bao thảm hoạ khó lường. Chỉ cần một cơn địa chấn nhẹ, vài trận bão to, lũ lụt...những công trình xây dựng hạ tầng cơ sở “dởm” sẽ sụp đổ hàng loạt, kéo theo hàng ngàn người thiệt mạng, cả nước sẽ rơi vào cảnh bị tàn phá, thiệt hại rất khủng khiếp.

 

Cầu và hầm chui Văn Thánh mới vừa khánh thành xong thì đã thủng. Đường cống ngầm vừa đặt xuống đất thì có dấu hiệu bỉ rỉ rò. Hệ thống nước làm dối gây ra nạn chất dơ ngấm làm đường nước bị đen. Theo tin báo Thanh Niên, ngày 4/4, người dân ở đường Cao Thắng nối dài, P.12, Q.10 (TP.HCM) đã phát hiện hệ thống cống tròn đặt phía sau nhà bị lún, mối nối giữa 2 đốt cống lẽ ra phải có bê tông bịt lại, nhưng đơn vị thi công đã không làm, để hở rộng khoảng 5cm, khiến nước chảy tràn lan ra ngoài.

 

Đường Nguyễn Hữu Cảnh vừa thi công xong thì bị lún vì bỏ qua nhiều công đoạn quan trọng. Hiện tượng đúc cột tiêu bằng bê tông cốt tre thay vì cốt sắt. Hiện trạng Cầu Phả Lại thi công dối, rút ngắn tiến độ thi công để chạy theo thời gian nên đổ xi măng khô nhanh làm mặt đường bị nứt khi chưa hoàn tất. Nhiều công trình mới có khả năng bị hư hại, sụp đổ vì sử dụng xi măng dởm, trộn tỷ lệ cát cao hơn xi măng, hàng loạt hệ thống cầu đường không xây dựng theo đúng qui trình công nghệ xây cất, sử dụng thép xây dựng không đúng chất lượng và số lượng.  Công trình xây dựng nhà máy nước Cầu Đỏ (Đà Nng) tốn 380 tỉ đồng do VINACONEX 10 thi công, chưa hoàn tất đã nứt bể tùm lum, sụp đổ gây tai nạn giao thông làm thương vong rất nhiều người.

 

Nhà Nước mượn nợ - Đảng viên chơi gái, cá độ - Nhân dân trả nợ

 

Bắt đầu năm 2006, Việt Nam phải trả nợ khoảng 2 tỷ dollars cho các khoản nợ vay lãi nhẹ. Tổng nợ nước ngoài, theo Bộ Tài chính Việt Nam, chiếm 34% GDP năm 2005, tức khoảng 20 tỉ USD. Các “con nợ” này gồm hơn 65% là cơ quan nhà nước, số còn lại 35% gồm doanh nghiệp nhà nước và các công ty đầu tư kinh doanh.

 

Trong năm 2006-2010, VN phải trả nước ngoài 10-11 tỉ USD nợ. Gánh nặng trả lãi này sẽ là cái ách, tròng lên cổ dân tộc Việt Nam. Nạn nhân của những lãnh đạo lưu manh chính là những thế hệ tiếp nối, phải trả các khoản nợ khổng lồ cho những công trình quốc gia “dởm”. Giống như bọn giả dạng người tiêu dùng đi vay tiền ngân hàng. Tiền thì bọn lưu manh tiêu xài, nạn nhân bị giả danh phải còng lưng trả nợ. Người tiêu dùng là nhân dân Việt Nam, bọn lưu manh chính là những con sâu tham nhũng đảng viên cộng sản.  Cái nghịch lý của đất nước hiện nay là nhà nước CHXHCNVN muối mặt đi vay nợ  để đảng viên phung phí, chơi gái, cá độ….còn nhân dân Việt Nam thì đưa đầu ra trả nợ cho Đảng từ thế hệ này đến thế hệ khác.

 

Cái lõi của vấn nạn – Nhà nước độc tài, đảng trị

 

Độc tài đi ngược lại xu thế văn minh của nhân loại, độc tài làm cản trở tiến trình phát triển tự nhiên trong xã hội.

 

Độc quyền kinh tế gây ra nạn độc quyền mua bán, làm khuynh đảo giá cả thị trường, một mình một chợ nâng giá món hàng mà không ngại bị cạnh tranh, không sợ  tẩy chay vì khách không còn sự chọn lựa nào khác ngoài việc phải mua món hàng vừa dởm vừa đắt tiền. Độc quyền kinh tế dẫn đến tệ trạng sản xuất hàng ẩu, thiếu chất lượng, khinh thường khách hàng,  nâng cao gấp chục lần giá trị thành phẩm mà vẫn không sợ bị thua lỗ, dẹp tiệm, khánh tận vì không có đối thủ cạnh tranh.

 

Nếu được quyền chọn lựa, người tiêu dùng chọn độc quyền kinh tế, tự trói buộc quyền mua sắm của mình,  hay đa nguyên kinh tế - tự do chọn lựa nhiều mặt hàng tiêu dùng từ nhiều nhà sản xuất, rẻ bền và phù hợp giá trị hàng hóa nhờ quá trình cạnh tranh?

 

Độc tài, độc đảng gây ra nạn tha hoá quyền lực. Nhà nước cầm quyền đứng trên hệ thống pháp luật, tuỳ tiện ứng xử, cai trị đất nước và nhân dân hoàn toàn sai phạm mà không sợ các đảng phái đối lập dành mất quyền lãnh đạo. Độc tài, độc đảng hình thành hệ thống quan lại bám chặt vào quyền lực vì sợ mất  đặc quyền nên càng lúc càng phản động, đi ngược lại nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

 

Độc tài, độc đảng là bà đẻ của tham nhũng vì hệ thống cai trị dựa trên sự bao che và tuỳ tiện để bảo vệ đặc lợi cho đảng cầm quyền, tạo ra một tầng lớp cai trị lưu manh “hồng hơn chuyên” toa rập nhau, đứng trên các qui định của pháp luật và sử dụng pháp luật để biện minh cho vai trò nhà nước độc tài nhằm nuôi dưỡng tham nhũng.

 

Quyền chọn lựa thể chế chính trị qua cuộc bầu cử tự do, bình đẳng là quyền căn bản của nhân loại, đã được minh thị trong Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam đã ký kết và tham gia gồm :

 

- Ðược tham gia vào việc điều hành chính quyền, hoặc trực tiếp hoặc qua những đại biểu do mình tự do tuyển chọn.

- Ðược bầu cử và ứng cử trong những cuộc tuyển cử tự do và công bằng theo định kỳ, bằng phổ thông đầu phiếu kín, bảo đảm trung thực ý nguyện của cử tri.

- Ðược quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước.

 

Độc tài, độc đảng tìm mọi cách thủ tiêu quyền tự do chọn lựa vai trò lãnh đạo và sợ hãi tiến trình cạnh tranh chính trị. Vì vậy đảng csvn đã cưỡng đoạt quyền này của Nhân dân Việt Nam ngay từ lúc đảng giành được chánh quyền.

 

Nếu được quyền tự do chọn lựa, nhân dân Việt Nam chọn độc tài, độc đảng hay dân chủ, đa đảng?. Có ai tước bỏ mình quyền tự do chọn lưạ từ mặt hàng tiêu dùng cho đến đảng phái chính trị không? Có ông bà nhân dân nào thích phải sống suốt đời suốt kiếp với lãnh đạo bất tài, vô cảm, vô trách nhiệm, lưu manh, tham nhũng và hủ hoá không?


____________________________________________________


Đình Công
   

Công an dùng vũ khí siêu âm đàn áp công nhân biểu tình
Wednesday, February 15, 2006
dinhcong-GIADINH.jpg

Công nhân tụ tập đình công trước cơ sở của hãng giày Gia Ðịnh

dinhcong-GIADINH-2.jpg

Nhà tranh đấu dân chủ nhân quyền Phương Nam Ðỗ Nam Hải (áo thun trắng bên trái) chụp hình chung với một công nhân đình công tên Hoàng Long (bên phải)

11 vụ đình công trong ngày 14 Tháng Hai 2006
Công ty giày Gia Ðịnh thuê công nhân vị thành niên. Nữ công nhân bị máy lột da đầu phải tự trả y phí và bị trừ lương
SÀI GÒN 15-02 (TH).- Cuộc đình công của công nhân nhiều xí nghiệp cả vốn trong nước lẫn ngoại quốc vẫn tiếp diễn ở khu vực Sài Gòn và khu vực phụ cận dù có những cuộc điều đình thúc ép làm việc trở lại, theo những tin báo chí tại Việt Nam.
Trong khi đó, một đảng chính trị cáo buộc rằng công an Cộng Sản Việt Nam đã dùng vũ khí siêu âm để đàn áp những cuộc biểu tình.
Theo tin tờ Người Lao Ðộng thì sáng ngày 15 Tháng Hai 2006, “hơn 400 công nhân công ty sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu Tân Bình (Titco) trụ sở ở quận Tân Phú, Sài Gòn, đã trở lại làm việc sau khi những cơ quan chức năng và đại diện liên đoàn lao động quận Tân Phú đến giải thích, thuyết phục.”
Ðây là cuộc đình công mới phát khởi ở công ty vừa kể và không thấy nêu tên trong số những cuộc đình công xảy ra trong ngày 14 Tháng Hai hoặc từ trước đó.
Trong khi đó, báo Tiền Phong trong bản tin ngày 15 Tháng Hai 2006 có tựa đề “Công nhân tiếp tục đình công” viết rằng “Nhiều doanh nghiện FDI (vốn đầu tư ngoại quốc) vẫn dây dưa, chưa thực hiện hay cắt giảm tiền phụ cấp khác làm công nhân tại những khu chế xuất ở thành phố Sài Gòn tiếp tục đình công.”
Tờ báo này viết tiếp rằng “Tính đến ngày 14 Tháng Hai 2006 tại Sài Gòn đồng loạt xảy ra 11 vụ đình công...” nhưng lại không liệt kê tất cả những công ty xảy ra đình công mà chỉ nêu tên một số như công ty giày Gia Ðịnh, Theodore Alexander, Hiro, Minh Phát, Perfect, Huê Phong.
“Cắt giảm chế độ, chậm áp dụng lương mới là nguyên nhân chính của đình công.” Tờ báo vừa kể nói. Qua lời kể của một số công nhân tại những xí nghiệp trên, công nhân bị ép làm thêm 40 giờ một tuần, bị trừ tiền cơm trưa, nghỉ không phép bị trừ tiền nhiều hơn tiền ngày làm công, đi vệ sinh “không thẻ trừ 5,000 đồng/lần...”
Một số công ty chấp nhận tăng lương cho công nhân theo lệnh của Hà Nội thì cắt những khoản phụ cấp khác.
Mặt khác, trong một thông cáo gửi đến báo chí đề ngày 12 Tháng Hai 2006 và cũng phổ biến trên một số diễn đàn Internet, đảng Dân Chủ Nhân Dân, một đảng chính trị hoạt động bí mật ở Việt Nam, vừa tố cáo rằng lực lượng công an Cộng Sản Việt Nam đã dùng loại võ khí siêu âm để đàn áp những cuộc đình công ở trong nước.
“Mới đây nhà cầm quyền Việt Nam đã cho phép Bộ Công An sử dụng những võ khí cao cấp nhằm giải tán những cuộc biểu tình của công nhân.” Bản thông cáo của đảng Dân Chủ Nhân Dân viết. “Vũ khí này được Cục Hậu Cần (H14) trực thuộc Bộ Công An mua lại từ Trung Quốc, sử dụng hệ thống siêu âm, đặt trên những loại ô tô di động để nhanh chóng có mặt ngay tại hiện trường, không mang biểu hiệu và sắc phục công an nhằm tránh bị phát hiện.”
Bản thông cáo này cho hay chi tiết kỹ thuật của loại võ khí này là “Hệ thống phát sóng cao cấp, có tầm phủ sóng phạm vi 200 mét, giống như một loại lựu đạn hóa chất làm tê liệt thần kinh để giải tán đoàn biểu tình. Khi máy phát sóng, những người nằm trong tầm ảnh hưởng bị cảm giác chóng mặt, buồn nôn, ủ rũ, khó thở, tức ngực có thể dẫn đến cái chết bất ngờ nếu bị yếu tim hoặc ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe.”
Bản thông cáo còn nói “vũ khí nằm trong loại này được quốc tế liệt kê là loại vũ khí giết người chậm dựa trên những ý niệm nguyên tử bao gồm tia laser, sóng radio, tia nhiệt, sóng từ trường v.v... vì khi sử dụng cũng có khả năng tàn phá không kém gì những loại vũ khí giết người nhanh.”
Ðảng Dân Chủ Nhân Dân cáo buộc rằng “việc cho phép sử dụng những vũ khí này để đàn áp công nhân đình công, biểu tình nhằm bảo vệ chế độ độc tài là hoàn toàn vi phạm nhân quyền, vi phạm thân thể con người và mang tác hại lâu dài không những đối với người bị đàn áp mà ngay cả nhân viên công an sử dụng cũng không thể tránh khỏi.”
Ngày Thứ Ba 14 Tháng Hai 2006, báo điện tử VNExpress nói rằng có khoảng 15,000 công nhân thuộc nhiều xí nghiệp khác nhau đã lãn công để đòi tăng lương và cải thiện chế độ làm việc. Trong trong số báo ra ngày 15 Tháng Hai 2006, VNExpress nói đã có “nhiều công nhân đình công quay lại làm việc.” Tuy nhiên, nguồn tin này lại cho hay cuộc đình công đã lan sang 2 công ty ở Biên Hòa nhưng “chỉ có quy mô nhỏ” và công nhân đã quay trở lại làm việc bình thường.
Mô tả về sự cư xử tồi tệ của xí nghiệp giày Gia Ðịnh, hai nhà tranh đấu dân chủ nhân quyền ở trong nước, Nguyễn Chính Kết và Ðỗ Nam Hải cho hay công ty này thuê mướn cả nhân công trẻ em từ 15 tuổi mà luật lệ lao động ở Việt Nam cũng cấm đoán.
“Nhiều công nhân dưới tuổi thành niên, có công nhân chỉ mới 15 tuổi (sinh 1991), và cũng có những công nhân hiện 18 tuổi nhưng đã làm việc ở công ty này từ 1 đến 3 năm.” Bản tin của hai ông cho hay. “Một thí dụ khác về phúc lợi xã hội và bảo hiểm tồi tệ của công nhân tại công ty giày Gia Ðịnh: làm việc thiếu an toàn lao động. Một nữ công nhân bị cuốn tóc vào bánh xe, da đầu bị lột hết. Nhưng công ty hoàn toàn tỏ ra vô trách nhiệm về vụ tai nạn này. Tự trang trải chi phí tai nạn lao động, nạn nhân bị khấu trừ lương để hoàn trả tiền tắc-xi và chi phí bệnh viện.”
Theo hai ông thì “chủ nhân của công ty Giày Gia Ðịnh là người Ðài Loan. Phía Việt Nam chỉ đóng góp mặt bằng và một số người tham gia quản lý công ty.”


____________________________________________________


V/v: Vũ Khí Siêu Âm
     

ĐẢNG DÂN CHỦ NHÂN DÂN
The People's Democracy Party
http://www.freewebs.com/dangdanchunhandan
dangdanchunhandan@yahoo.com


Ngày 12 tháng 2 năm 2006

Thông Cáo

V/v: Kêu Gọi Bộ Công an Từ Bỏ Ý Đồ Sử Dụng Vũ Khí
Siêu Âm Đàn Áp Công Nhân Đình Công

Trước các biến động đình công từ Công nhân mỗi lúc một lan rộng, có nguy cơ bùng phát đe dọa sự sống còn của chế độ độc quyền. Đồng thời bất chấp các trào lưu thế giới lên án về việc sử dụng phương tiện đàn áp tinh vi có tính vi phạm nhân quyền và đe doạ tính mạng con người. Mới đây nhà cầm quyền Việt Nam đã cho phép Bộ Công an sử dụng các vũ khí cao cấp nhằm giải tán các cuộc biểu tình công nhân. Vũ khí này được Cục Hậu Cần (H14) trực thuộc Bộ Công an mua lại từ Trung Quốc, sử dụng hệ thống siêu âm, đặt trên các loại xe ôtô di động để nhanh chóng có mặt ngay tại hiện trường, không mang biển hiệu và sắc phục công an nhằm tránh bị phát hiện.

Đây là hệ thống phát sóng cao cấp, có tầm phủ sóng trong phạm vi 200mét, giống như một loại lựu đạn hóa chất làm tê liệt thần kinh để giải tán đoàn biểu tình. Khi máy phát sóng, những người nằm trong tầm ảnh hưởng bị cảm giác chóng mặt, buồn nôn, ủ rũ, khó thở, tức ngực có thể dẫn đến cái chết bất ngờ nếu bị yếu tim, hoặc ảnh hưởng lâu dài đến sức khoẻ. Vũ khí nằm trong loại này được Quốc tế liệt kê là vũ khí giết người chậm dựa trên các ý niệm nguyên tử bao gồm “tia laser, sóng radio, tia nhiệt, sóng từ trường v.v..” vì khi sử dụng cũng có khả năng tàn phá không kém gì các loại vũ khí giết người nhanh.

Bác sĩ Barbara Hatch Rosenberg tường trình trên tờ Khoa Học Nguyên Tử, số Tháng 9 & 10 từ năm 1994 “những loại vũ khí này có thể làm mù mắt, phản ứng bất bình thường, giảm khả năng phán đoán, bị đau nhức, buồn nôn, tiêu chảy hay làm cho các bộ phận trong cơ thể bị ngưng hoạt động”. Quyết nghị của Hội Đồng Âu Châu A4-005/99 hồi tháng 1/99 đã kêu goị “chấm dứt và ngăn cấm các nghiên cứu và sử dụng vũ khí nằm trong bất cứ dạng nào có mục tiêu khống chế nhân loại”. Trong khi đó, ngay cả tại nước Nga, ông Yuriy Lopatin, chuyên gia về lãnh vực này cũng đã lên tiếng “kêu gọi cấm nghiên cứu và bán các trang thiết bị có tính khống chế nhân loại”.

Việc cho phép sử dụng các vũ khí này để công an đàn áp công nhân đình công, biểu tình nhằm bảo vệ chế độ độc tài là hoàn toàn vi phạm nhân quyền, vi phạm thân thể con người và mang tác hại lâu dài không những đối với người bị đàn áp mà ngay cả nhân viên công an sử dụng cũng không thể tránh khỏi.

Đảng Dân chủ Nhân dân khẩn thông báo đến Nhân dân trong và ngoài nước và kêu gọi các cơ quan Quốc tế Nhân Quyền sớm lên tiếng can thiệp, kêu gọi nhà nước Việt Nam chấm dứt ý đồ sử dụng các vũ khí trên để đàn áp Nhân dân Việt Nam.

Việt Nam ngày 12 tháng 2 năm 2006
TV/TW Đảng Dân chủ Nhân dân
Nguyễn Hoàng Long


Demand Ministry of Police Abandon Plan Using Infrasound/Electromagnetic Energy Weapons to Quell Workers Strike

The recent upheavals of a many workers strike in Viet Nam with a danger of uprising would threaten the totalitarian regime. Moreover, in disregard of condemnation from the international communities on utilization of non-lethal weapons in a suppressive means willingly and intentionally causes harmful to human being’s life and violation of international humanitarian law. The Vietnamese authorities recently have authorized the Ministry of Police in utilization these non-lethal weapons to quell the workers strike. These so called “infrasound-electromagnetic energy weapons”, acquired from China, supplied by the Bureau of Logistics (H14), an agent of Ministry of Police, are placed on unmarked patrol car for quickly response, usually operating by plain-clothe policemen in avoiding of being discovered.

These non-lethal weapons under consideration utilize infrasound/electromagnetic energy carry high-power microwaves, with capability of coverage in a 200 meter sphere. The use of these weapons would be analogous using of a biochemical grenade agent on which to paralyze the nerves to disperse the demonstration. When the system fires these waves, anyone who stands in the strike-effect would experience these sickness symptoms: dizziness, nausea, difficult breathing, chest pain that might potentially die if problem with heart condition, or has a long-term effect in health. These kinds of weapons have been banned by the international bodies that listed as non-lethal weapons based on the concept of atomic, which constituted: laser beam, radio-frequency radiation, light pulsed, electromagnetic energy, etc. when used carrying a potential destruction, as deadly as lethal weapons.

There are a many examples in supporting the ban on these weapons from the international communities. However, the Vietnamese authorities still intend using them:

• Dr. Barbara Hatch Rosenberg has a report that posted on the Bulletin of Atomic Scientists, in September & October, 1994 “These weapons are said to cause temporary or permanent blinding, interference with mental processes, modification of behavior and emotional response, seizures, severe pain, dizziness, nausea and diarrhea or disruption of internal organ functions in various other ways”.

• The European Parliament Resolution A4-005/99 on January, 1999 has announced “calls for international convention introducing a global ban on all developments and deployments of weapons which might enable any form of manipulation on human beings.”

• Mr. Yuriy Lopatin, a Russian state expert in this infrasound field, also announced “banning illegal development and sale of mind-control devices”

The fact that the Vietnamese authorities allowed police to use these illegal, non-lethal weapons to suppress workers on strike to continue protecting the authoritarian regime is absolutely in violations of human rights and human beings. In their strike characteristics, they would cause long-term effects seriously, not only to the suppressed victims but also unavoidable to the suppressors, policemen who operating these weapons.

The People's Democracy Party, therefore, urgently announces to people at home and abroad and asking the international human rights organizations promptly intercede, demand the Vietnamese government immediately stop the intention in using these illegal and deadly weapons to suppress the people of Vietnam.

Viet Nam 12 February 2006
The People's Democracy Party
Central Committee Member
Nguyen Hoang Long


____________________________________________________


Đại Hội X Đảng CSVN
   

Nhân một bản góp ý với văn kiện Đại hội X :

 

Hãy vượt lên chính mình !

* bản góp ý có chất lượng       * kiên trì theo cái ’’mù mờ ‘‘ ?

* Tổ quốc và Dân tộc        *  kịch bản nào đây

Bùi Tín

 

Bản góp ý của ông Dương Trung Quốc cho các văn kiện dự thảo của Đại hội X đảng CS Việt nam chỉ có 3 trang. Ông Dương Trung Quốc là Giáo sư Tiến sỹ môn lịch sử, hiện là Tổng thư ký Hội khoa học Lịch sử Việt nam, đồng thời là đại biểu Quốc hội khoá XI hiện tại, cũng là uỷ viên đoàn chủ tịch Mặt trận Tổ quốc. Ông nhận tập văn kiện dự thảo Đại hội X và được mời góp ý. Ông là người ngoài đảng.

 

* thẳng thắn đáp lại thịện tình : ông Dương Trung Quốc cảm kích khi nhận được lời mời góp ý của đảng. Ông là một trí thức loại hàng đầu của đất nước. Không phải trí thức nào cũng được đảng mời góp ý. Ông đánh giá đó là ‘’thiện tình‘’ của đảng đối với ông. Và ông đáp lại – như ông nói - bằng sự ‘’thẳng thắn‘’.

Ông thẳng thắn nói rằng các văn kiện chưa có tính thuyết phục. Nghĩa là nếu ông  là đảng viên các văn kiện này ông sẽ không chấp nhận. Vì sao ? vì ‘’chủ nghĩa Mác – L꒒ và ‘’chủ nghĩa xã hội’’ mà đảng hô hào phải kiên định giữ vững thì nay chỉ còn một thiểu số rất nhỏ quốc gia còn gắn bó. Ông thẳng thắn cho rằng đây là kiểu ‘’kiên định’’ của các nhà nho e ngại đụng chạm đến những tín điều họ đã trót dấn thân phụng sự.

Ông thẳng thắn nêu rằng các văn kiện đề cập nhiều đến nguy cơ ‘’diễn biến hoà binh‘’ song lại không lưu tâm gì đến nhiệm vụ bảo toàn chủ quyềnlãnh thổ của Đất nước. Ông cảnh báo chủ quyền và lãnh thổ đang bị gậm nhấm bằng rất nhiều thủ đoạn thâm hiểm. Chuyện bán đất, bán biển đấy ! Nhục chưa !

 

Về chống tham nhũng, ông chỉ rõ chỉ có những người có quyền, quan chức mới lợi dụng quyền lực để bòn rút của công. Tệ tham nhũng trước hết khu trú trong đội ngũ đảng viên. Ông cũng nói thẳng rằng việc kê khai tài sản minh bạch gặp khó khăn chỉ vì chưa có sự gương mẫu từ trên cao.

Ông Dương Trung Quốc ‘’không bình luận’’ - một cách lịch sự để nói là không tán thành –  việc chỗ nào cũng treo cờ đảng – búa liềm - bên cạnh cờ đỏ sao vàng, cùng với khẩu hiệu ‘’đảng CS quang vinh muôn năm‘’ , thay cho việc trước đây nhân dân thường nêu cao khẩu hiệu ‘’Tổ quốc trên hết‘’ cùng với bàn thờ Tổ quốc ở các cơ quan và cả gia đình. Ông gián tiếp phê phán thái độ ngạo mạn và cưỡng ép của đảng, lấn lướt tinh thần dân tộc và lòng yêu nước của nhân dân.

 

Cuối cùng ông lên án thái độ chia rẽ địa phương của cơ quan lãnh đạo đảng, như Bộ chính trị 15 người thì cứ phải chia Bắc, Trung, Nam mỗi vùng 5 người, rồi chọn Dung Quất làm nơi xây dựng cơ sở lọc dầu lớn dù các điều kiện kinh tế thiên nhiên không thuận, phản ánh một não trạng địa phương rất lạc hậu, tai hại.

 

Ba trang góp ý của ông có chất lượng cao. Ông nói thẳng ra rằng các văn kiện Đại hội X là không thể nuốt nổi, phải từ bỏ hẳn chủ nghĩa Mác – Lê và chủ nghĩa xã hội, phải đặt dân tộc và tổ quốc lên trên hết, không được để chủ quyền và lãnh thổ đang bị gặm nhấm, các cán bộ cao nhất hãy gương mẫu kê khai tài sản, và từ bỏ óc địa phương ! Ông nghĩ theo tư duy của kẻ sỹ, không cảm thấy mang ơn ai và phải trả ơn ai hết, dù ông thừa biết trước rằng rất có thể họ không chấp nhận một lời góp ý nào của ông và còn trả thù ông, như ông sẽ mất chức đại biểu Quốc hội khoá XII (sẽ bàu vào giữa năm 2007).

 

Lời kết luận của ông nói lên thái độ thật tâm :‘’ Tôi biết rằng những ý kiến đóng góp của tôi có thể đụng vào những « vùng nhạy cảm ». Nhưng khi đảng đã tin mà hỏi thì chẳng có lẽ gì mà không trả lời một cách thật tâm ‘’.  Sự thật là họ không tin mà vẫn hỏi. Hỏi rồi không cần nghe trả lời. Hàng ngàn, vạn câu trả lời có chất lượng, họ đều cho vào sọt rác, cả nghĩa bóng và nghĩa đen. Tôi từng nói : tôi đã nghĩ 2 tháng ròng để cân nhắc rằng đây là thái độ vô văn hoá và vô giáo dục của bộ chính trị. Họ từng mời các nhà cách mạng lão thành, các Học viện, các Viện nghiên cứu, đoàn chủ tịch Mặt trận, Ban thường trực Quốc hội, vài ngày nữa  cả hơn 400 đại biểu Quốc hội đang họp cũng ‘’được mời ‘’ góp ý, hoàn toàn là trò đùa ‘’dân chủ ‘’. Cái thói ‘’mục hạ vô nhân ‘’.

 

* vượt lên chính mình : đã hơn một năm nay, từ khi bộ chính trị mời góp ý vào văn kiện Đại hội X, đã có hàng ngàn, vạn ý kiến được phát biểu, lẽ ra báo Nhân Dân phải lựa chọn và công bố lên, để xem sự góp ý tập trung vào những điểm nào ? những ý nào được tán đồng nhiều, những ý nào bị bác bỏ nhiều. Thế mới là công nhận lợi ích của việc góp ý. Nhưng bộ chính trị và báo Nhân dân không làm, vì họ sợ. Vì xem ra phần lớn ý kiến đều bác bỏ những nội dung cơ bản nhất của các văn kiện. Cho nên nhiều trí thức, đảng viên lão thành tự mình công bố trên mạng internet những ý kiến, kiến nghị, góp ý của mình. Đó là nhà nghiên cứu Đặng Quốc Bảo, nhà kinh tế Lê Đăng Doanh, nhà toán học Phan Đình Diệu, giáo sư Trần văn Hà, cụ Nguyễn văn Thi (Năm Thi), cụ Nguyễn Đoàn, cụ Nguyễn văn Bé, các tướng Võ Nguyên Giáp, Chu Huy Mân, Nguyễn Quyết, Nguyễn Trọng Vĩnh, Lê văn Hiền, Đoàn Y Thành, Nguyễn Nam Khánh, Phạm Hồng Sơn, các đại tá Như Thiết, Vi Hùng, Anh hùng công an Nguyễn Tài, cán bộ Văn phòng Quốc hội Trần Quốc Thuận, luật sư Trần Lâm, nhà ngoại giao Nguyễn Trung, các nhà báo Trần Đình Bá, Nguyễn Trần Thiết, và gần đây là 27 trang của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt, là ‘’con hùm xám đường số 4 ‘’ Đặng Văn Việt, giáo sư sử học Dương Trung Quốc. Bộ chính trị và báo Nhân dân càng ù lỳ, nhu nhược, nhắm mắt, bịt tai bao nhiêu thì những tiếng nói trung thực, tâm huyết và đầy trí tuệ càng vang to để thức tỉnh các đại biểu đi dự đại hội đảng các cấp bấy nhiêu. Các nhân vật trên đây đã vượt lên chính mình, vượt qua căn bệnh giáo điều cố hữu của đảng, từ bỏ cái tệ vâng dạ với mọi sự dạy bảo của đảng để được yên thân, tự mình ngẩng cao đầu khẳng định giá trị và trách nhiệm của mình.

 

Chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa xã hội là 2 vấn đề bị công luận bác bỏ rõ ràng nhất với lý do là : chủ nghĩa Mác – Lênin đã hoàn toàn phá sản ở châu Âu và ở Liên xô là quê hương chính của nó, còn chủ nghĩa xã hội thì chưa hình thành nội hàm hoàn chỉnh của nó, còn phải nghiên cứu, phác hoạ và hoàn chỉnh dần trong tương lai. Không thể kiên trì một con đường đã hoàn toàn thất bại, và cũng không thể kiên trì một kiểu mẫu xã hội còn mù mờ như ảo ảnh.

Nhiều chính kiến yêu cầu cấp bách xây dựng ngay một nền dân chủ đa nguyên đa đảng, chấm dứt độc quyền chuyên chính của một đảng duy nhất - một mình một chiếu - nắm trọn cả quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, nắm trọn quyền tư duy và truyền thông – báo chí trong xã hội. Duy trì độc quyền toàn trị của đảng CS ( có hơn 2 triệu đảng viên) với cái công cụ tệ hại Ban tư tưởng và văn hoá, là  miệt thị đến cùng cực đối với 80 triệu nhân dân, coi nhân dân là ngu dốt không có khả năng tự mình suy nghĩ, viết, nói,  là đi ngược với xu thế hoà nhập với thời đại.

 

Không phải ngẫu nhiên mà 2 bài luận văn gần đây của ông Nguyễn Phú Trọng về các văn kiện Đại hội X và của ông Đỗ Mười về ‘’ Định hướng xã hội chủ nghĩa cho đất nước ta ‘’ bị các nhà nghiên cứu trong, ngoài nước phê phán nặng nề, phản bác dứt khoát , triệt để đến vậy.

 

* Khi bộ ba này bừng tỉnh : Bộ chính trị đang đứng trước sự lựa chọn có tính chất quyết định. Thảo luận kỹ lại và tiếp thu những lời khuyên răn và can gián quý báu của những trí tuệ và tâm huyết trong và ngoài đảng, hay vẫn cứ một mực ù lỳ nhu nhược buông trôi.

 Từ trong nước, các chiến sỹ dân chủ điểm mặt cả 14 vị trong bộ chính trị và cầu mong sự hình thành khẩn cấp một hạt nhân vài ba vị bừng tỉnh. Anh em dân chủ nghĩ đến ông Lê Hồng Anh, sinh năm 1949, 56 tuổi, trẻ nhất trong bộ chính trị, bộ trưởng bộ công an. Tin từ trong gia đình ông và bạn bè cũ ở Kiên Giang, gần đây ông tỏ ra chán nản về tình hình chính trị bê bối khó xoay xở. Ông tỏ mong muốn về nghỉ. Ông là Trưởng ban kiểm tra trung ương, được điều sang làm bộ trưởng công an khi ông Lê Minh Hương mất chức sau vụ án Năm Cam. Ông lên làm đại tướng không có một ngày học quân sự. Ông làm bộ trưởng công an cũng không qua một lớp học vỡ lòng hay sơ cấp cũng như trung cấp nào về ngành an ninh, tình báo, cảnh sát và phản gián, những ngành mà dù có thâm niên 10, 20 năm vẫn còn là chưa đủ bản lĩnh. Đã vậy bộ công an do ông Lê Minh Hương để lại cho ông đầy vấn nạn hiểm nghèo. Các kiêu binh của Tổng cục 2 được ‘’thái thượng hoàng‘’ họ Lê và họ Đỗ khuyến khích lộng hành phá nát bộ công an đến mức không còn có nguyên tắc và pháp luật nào nữa. Ông Lê Hồng Anh là người mong muốn lập lại trật tự của bộ, nhưng ông cũng nhận rõ sự bất lực của mình. Trong cuộc họp Trung ương lần thứ 12 (tháng 7/2005), ông được giao nhiệm vụ  : cầm đầu ‘’ Ban đặc biệt về xử lý các vụ án Sáu Sứ, T4 và Tổng cục II’’, gồm có 5 người ( 4 vị khác là Trưởng ban nội chính trung ương đảng Trương Vĩnh Trọng, Viện trưởng kiểm sát tối cao Hà Mạnh Trí,hai thứ trưởng công an Nguyễn Khánh Toàn và Nguyễn Văn Hưởng). Nếu ông nhận ra trách nhiệm to lớn của mình, chọn người cộng tác có công tâm, khôn khéo hình thành một hạt nhân lành mạnh trong bộ chính trị, thì ông có thể làm nên đại sự cho đất nước. Nhiều người mong ông : cờ đến tay, hãy phất cao, phất mạnh, góp phần giải quyết một vấn nạn cực lớn.

Người thứ hai anh em trong nước mong chờ sự bừng tỉnh là ông tổng bí thư Nông Đức Mạnh. Tuy ông từng từ chối chức này vì cảm thấy đuối sức, nhưng nay ông đã có đến 4 năm kinh nghiệm. Bà con người các dân tộc Việt bắc mong ông có dịp đến thăm mộ và hồi phục danh dự cho Thượng tướng Chu Văn Tấn, ‘’con hùm sám Bắc Sơn ‘’, lãnh tụ các dân tộc Việt bắc, bị lao tù hồi 1978 và chết trong tủi nhục. Cho đến nay, ông không đứng hẳn về phe phái nào trong đảng sẽ giúp ông có tiếng nói khách quan, coi trọng lẽ phải và luật pháp, ngay thẳng trong việc xử lý các vụ việc phức tạp. Dấn thân cho công lý quang minh, ông Mạnh sẽ có thể để lại hình ảnh một tổng bí thư sáng suốt, có công tâm, gỡ được rối trong một hoàn cảnh rất hiểm nghèo. Ông sẽ tự mình cải chính nhược điểm do dự, nhu nhược, thiếu kiên quyết mà dư luận thường nhận xét về ông.

Người thứ ba mà anh em trong nước nghĩ đến là ông Phan Diễn, thường trực ban bí thư trung ương đảng, có chức vụ như là phó tổng bí thư. Ông sống tương đối giản dị, không có điều tiếng gì. Ông hay đọc sách báo và chịu suy nghĩ. Nhiều người cho rằng ông có tác phong thư lại, hay ngồi bàn giấy; đây là nhược điểm có thể khắc phục. Ông từng chất vấn ông Nam Khánh và đôi co với ông Đoàn Duy Thành, sau đó ông thanh minh rằng  ‘’do sức ép ‘’, ‘’vì nhận thức chưa rõ ‘’.

 

Một khi hạt nhân ngay thẳng trong bộ chính trị hình thành, anh em dân chủ trong nước cho rằng thủ tướng Phan Văn Khải – mà quan điểm chính trị rất gần với cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt – cũng như ông Nguyễn Minh Triết, bí thư thành uỷ Sài gòn sẽ đồng tình cao.

Tiếp đó, các ông Trương Tấn Sang, Trương Quang Được, cho đến ông Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Văn An, đều là uỷ viên bộ chính trị, cũng có nhiều khả năng ngả theo.

 

Khi hạt nhân tích cực của bộ chính trị đạt đến đa số 9 trên 14 người thì nhiều vấn đề dư luận trong đảng và trong xã hội nóng lòng trông đợi sẽ nối tiếp xảy ra. Vụ án Sáu Sứ, T4, Tổng cục II được xử lý, - khối ung thư được mổ sẻ, các văn kiện trình Đại hội X được sửa chữa bổ xung, nhân sự cho Đại hội X sẽ được lựa chọn xứng đáng, bầu cử Quốc hội khoá XII sẽ không còn kiểu chán ngấy và không chính danh vì ‘’đảng chọn dân bầu ‘’. Quá trình hội nhập với thế giới dân chủ sẽ không còn trục trặc gay go…

 

Đảng CS Việt nam ưa học kinh nghiệm của đảng CS Trung quốc. Vậy thì đây. Hãy học thái độ kiên quyết xử lý nhóm 4 uỷ viên bộ chính trị  sau khi nhóm này lộng quyền  nhất vào năm 1976 là : Giang, Trương, Vương, Diêu,- được gọi là ‘’lũ 4 tên ‘’, tạo điều kiện cho Trung quốc bước vào thời kỳ đổi mới sau đó. Tình hình đất nước Trung quốc sẽ ra sao nếu cứ nhu nhược ù lỳ với ‘’lũ 4 tên’’ ?

 

* kịch bản nào đây ? Trên đây là một kịch bản có khả năng xảy ra, với điều kiện một số uỷ viên bộ chính trị đang có quyền lực hiểu ra vấn đề, có công tâm và ý chí dám vượt lên chính mình, tập họp lại thành một hạt nhân trung tâm rồi thu hút thêm một số uỷ viên bộ chính trị khác để tạo nên một đa số vững chắc thuận lợi. Việc này sẽ cô lập nhóm giáo điều, bảo thủ, phạm pháp và vi phạm điều lệ đảng, đang bị phần lớn đảng viên vạch mặt và cả xã hội khinh thị, lên án. Nhóm này sẽ bị cô lập cao độ và bị xử lý cùng với những kẻ phạm pháp khác trong các vụ án nghiêm trọng đã nêu.

 

Có thể có những kịch bản khác, trên đại thể là cái thiện chống lại cái ác, tiến bộ đẩy lùi thoái hoá, yêu nước thương dân đẩy lùi thái độ vô trách nhiệm ích kỷ cá nhân. Những kịch bản này chỉ có thể trở thành hiện thực khi có thêm thật nhiều tiếng nói ‘’vượt lên chính mình ‘’ như đã nhắc đến trên đây, nhân bàn về bản góp ý của giáo sư Dương Trung Quốc. Và rất cần đến nhưng tiếng nói ngay thật trung thực nữa của đồng bào, của tuổi trẻ trong và ngoài nước, dồn dập công khai góp ý với các văn kiện cực kỳ bảo thủ giáo điều đã được đưa ra.

Cuộc họp lần thứ 13 của ban chấp hành trung ương đảng sẽ họp vào cuối năm 2005 hoặc đầu năm 2006, và tại cuộc họp này ‘’ Ban đặc biệt về xử lý các vụ án Sáu Sứ, T4, Tổng cục II ‘’ sẽ phải trình ra bản báo cáo cụ thể của mình. Nhóm -   (phải gọi là một ‘’nhúm ‘’ mới đúng ) - giáo điều bảo thủ trong bộ chính trị vẫn chủ trương ‘’khoanh lại ‘’, bóp ngẹt vụ án, theo cái nếp nghĩ kiểu Staline và Mao Trạch Đông thời xa xưa : ta là Chúa tể, ta là Vua, ta là Đảng, ta là Nhà nước, ta là Chân lý. Ta muốn gì được nấy. Đây là một sự thách thức ngạo mạn mang đúng dấu ấn của 2 vị thái thượng hoàng cứ muốn làm ‘’cha’’ cái đảng CS khốn khổ này ngay cả sang thời đổi mới, dù cho nhị vị không còn chút quyền lực nào.

Già néo ... đứt giây ! Để xem ! Tại cuộc họp trung ương 13 sắp tới chẳng lẽ gần 150 vị trung ương đều vô cảm và bất động, trốn bỏ trách nhiệm của mình ?

 

Vỉa hè Hànội và Sài gòn đang đánh cá cược rất lớn về sự ngả ngũ của các vụ án ly kỳ trên đây.

 

Lại tiền ! Thật ra nó liên quan đến chuyện to lớn hơn rất nhiều : tiền đồ đất nước Việt nam ta, tiền đồ nhân dân Việt nam ta giữa một thế giới đang chuyển động với tốc độ cao về phía trước trên mọi mặt.

 

Bùi Tín

Paris, tháng 11-2005. 

----------------

DƯƠNG TRUNG QUỐC
Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

ĐÓNG GÓP Ý KIẾN VĂN KIỆN ĐẠI HỘI X

Kính gửi : Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam

Tôi đã nhận được giấy mời (kèm theo những dự thảo văn kiện) tham dự Hội nghị đóng góp ý kiến cho những văn kiện chuẩn bị cho Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước hết tôi ghi nhận tinh thần cầu thị của Đảng, vai trò đại diện của Mặt trận Tổ quốc. Tôi là người ngoài Đảng, vả lại đã có lần tôi được Viện nghiên cứu của Ban Tổ chức Trung ương mời đến phát biểu ý kiến, nên tôi chỉ xin nói một vài điểm rất ngắn sau khi đọc những dự thảo văn kiện này một cách thẳng thắn để đáp lại thiện tình của Đảng và Mặt trận. Cũng vì đang tham gia Kỳ họp thứ 7 của Quốc hội nên tôi không phát biểu trực tiếp mà viết thành văn bản để gửi đến các cơ quan có trách nhiệm tổng hợp.

1. Cảm nhận về sự kiên định trước những vấn đề mang tính nguyên tắc như mục tiêu "xây dựng Chủ nghĩa xã hội", "Chủ nghĩa Mác-Lê nin", "Đảng tiên phong của giai cấp công nhân" v.v.... Nhưng tính kiên định (một phẩm chất quan trọng của một chính đảng) chưa đi đôi với tính thuyết phục (cả về thực tiễn và lý luận). Cho nên tôi cảm thấy sự "gồng mình" hơn là một "tín tâm" ("tín tâm" là một khái niệm của Bác Hồ thể hiện lòng tự tin của chủ thể và niềm tin của mọi người vào chủ thể). Ngay văn kiện tổng kết về lý luận đổi mới tuy có tầm khái quát cao nhưng vẫn chưa giải đáp một cách thuyết phục về những vấn đề lý luận cơ bản, mới chỉ tổng kết được những kinh nghiệm thực tiễn của quá trình Đổi mới, được diễn ra như một quá trình sửa chữa sai lầm bằng những giải pháp tình huống mà phần lớn bắt nguồn từ những sáng kiến từ phía nhân dân và cấp dưới, chứ chưa thấy một tầm nhìn "lý luận soi đường". Tôi lấy một ví dụ : tại Đại hội VII ta bắt đầu đề cập tới khái niệm về "tư tưởng Hồ Chí Minh" thì rồi sau đó mới tập trung triển khai nghiên cứu xem "tư tưởng Hồ Chí Minh" là gì ?... Hay ví như khi nói đến "Chủ nghĩa xã hội" hay "định hướng Xã hội chủ nghĩa" giờ đây chỉ bao hàm một nội hàm duy nhất là : "dưới sự lãnh đạo (tuyệt đối, toàn diện) của Đảng Cộng sản Việt Nam". Cách thể hiện từ Đại hội VIII và hoàn thiện hơn ở Đại hội IX khẩu hiệu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh" mới là những nguyên lý phổ quát của mọi xã hội, chưa phải là lý luận của một hệ tư tưởng chính trị ... Đương nhiên, tôi cho rằng đó là điều dễ hiểu trong bối cảnh khủng hoảng chung của các tư tưởng đã từng một thời mang tính chính thống nhưng cũng rất giáo điều, vào lúc mà trên phạm vi toàn cầu những quốc gia còn gắn bó với định hướng chính trị ấy (Chủ nghĩa xã hội, Chủ nghĩa Mác-Lê nin) chỉ còn là một thiểu số rất nhỏ. Điều đó dễ mang lại cảm nhận hai chiều : sự kiên định/sự chậm thay đổi (bảo thủ) ? Vấn đề không phải là từ bỏ cái cũ để tiếp nhận cái mới mà vấn đề là ở nền tảng lý luận (khoa học) của sự kiên định chưa đủ tạo ra lòng tin vững chắc. Ở đây sự kiên định còn có dáng dấp của các nhà nho e ngại đụng chạm đến những tín điều đã dấn thân phụng sự và có thể là những lợi ích nhất thời (?)...

2. Một nội dung hết sức quan trọng đối với một chính đảng là định danh bản chất chính trị của mình. Điều lệ của Đảng (cả hiện hành và sửa đổi) đều có nội dung : "Đảng Cộng sản Việt Nam ... là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam". Vậy thì về ngữ nghĩa, giai cấp công nhân có phải là một thành phần của nhân dân lao động hay không và nhân dân lao động có phải là thành phần của dân tộc Việt Nam hay không và lợi ích của các thành phần khác như trí thức hay doanh nghiệp ... là như thế nào? Với vai trò phù hợp với Hiến pháp hiện tại là Đảng giữ địa vị độc quyền lãnh đạo đất nước thì có cần thiết phải đặt thứ tự ưu tiên về tính đại diện cho các thành phần khác nhau như vậy hay không. Vả lại trên thực tế thì dường như vị thế của giai cấp công nhân không phải là như vậy. Khái niệm công nhân giờ đây lại cũng có nhiều thay đổi, nội hàm "người làm thuê" ngày càng phổ biến. Điều lệ Đảng lại còn hướng tới việc cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân, sử dụng người làm thuê thì hiểu tính đại biểu như thế nào. Ngoài xã hội đã có ý kiến phê phán về cách nói quen miệng là "cán bộ và nhân dân", vậy thì cán bộ không phải là nhân dân hay sao, nói như vậy chính là đã tách cán bộ thành một đẳng cấp riêng nằm ngoài nhân dân (?); cũng như vậy giai cấp công nhân có phải là nhân dân lao động và có phải là thành phần của dân tộc hay không?. Phải chăng không nhắc đến giai cấp công nhân thì không còn là Đảng Cộng sản? Tại sao ta không nói thẳng và nói đơn giản : "Đảng ... là đại biểu trung thành cho quyền lợi của dân tộc". Nói như thế vừa thấy quyền lực và trách nhiệm của Đảng với cả dân tộc. Đó là một vinh quang rất nặng nề và Đảng phải phấn đấu để xứng đáng và cáng đáng nổi cái vai trò ấy trước dân tộc và lịch sử.

3. Trong khi trình bày về chiến lược phát triển của Đất nước, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn gắn kết với nhau. Sau bao nhiêu năm chiến tranh chúng ta đã và đang có cơ hội hòa bình và hội nhập. Phải khai thác triệt để cơ hội ấy, song hành với ý thức cảnh giác củng cố an ninh quốc phòng đúng với nguyên lý dựng nước đi đôi với giữ nước ... Tôi thấy văn kiện đề cập nhiều tới nguy cơ diễn biến hòa bình song không lưu tâm đến (hình như không có câu chữ nào) đề cập tới nhiệm vụ bảo toàn chủ quyền và lãnh thổ của Đất nước. Đây là một nguy cơ tiềm ẩn và diễn ra hàng ngày hàng giờ nếu chúng ta không cảnh giác và rất dễ mất cảnh giác. Thực tế đang diễn ra cho thấy đang có những nguy cơ bị "gậm nhấm" bằng rất nhiều thủ đoạn thâm hiểm, kiên trì và mưu đồ lâu dài. Không thể không nêu lên nhiệm vụ củng cố toàn diện sức mạnh phát triển và phòng thủ biên cương và hải đảo. Mặt khác, cũng cần đầu tư cho việc nghiên cứu, giáo dục để sẵn sàng ứng phó với những vấn đề có liên quan đến lịch sử hình thành và chủ quyền của dân tộc Việt Nam trên lãnh thổ lịch sử của mình. Đương nhiên đây không phải là nội dung mà văn kiện phải đề cập tới. Nhưng một tinh thần cảnh giác, một ý thức về vấn đề chủ quyền phải là kiên định và thường trực...

4. Khi Đảng nhận trọng trách là người độc quyền lãnh đạo dân tộc thì bên cạnh ý thức về quyền lực cũng tỷ lệ thuận với ý thức về trách nhiệm. Bên cạnh việc tăng cường thiết chế về pháp luật thì rất quan trọng là tính gương mẫu. Cụ Hồ là một biểu tượng. Nhân dân nhìn vào những người đảng viên từ những nhà lãnh đạo bên trên và những đảng viên xung quanh mà gây dựng lòng tin của mình. Đảng đã tỏ ra nghiêm qua một số vụ việc, nhưng chưa đủ. Ví dụ : chống tham nhũng là một nhu cầu đang bức xúc, thì ai cũng biết rằng với người dân thường hay người không có chức vụ thì chỉ có thể làm phương hại đến tài sản công bằng hành vi "ăn cắp". Chỉ có những người có quyền, quan chức mới lợi dụng quyền lực để bòn rút được của công, tức là tham nhũng. Trong cơ chế hiện nay phần lớn (có thể là tuyệt đại đa số) người có quyền (chức vụ) phải là đảng viên. Do vậy tệ nạn tham nhũng trước hết khu trú trong đội ngũ đảng viên, là một vấn nạn trước tiên thuộc về Đảng. Chống tham nhũng cũng chính là bảo vệ Đảng, làm trong sạch cũng là làm tăng thêm sức mạnh của Đảng. Tôi đã phát biểu vấn đề này ở Quốc hội một cách thẳng thắn vì đó là sự thực. Nếu văn kiện Đảng dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật ấy và thể hiện quyết tâm "tắm sạch" thì lòng tin nhân dân sẽ được củng cố và Đảng sẽ mạnh. Mặc dù tôi biết rằng đây là một điều không dễ chút nào. Chống tham nhũng trong Đảng hay ngoài xã hội là một công việc cực kỳ khó khăn. Ai cũng biết thế. Nhưng nếu nói rằng việc kê khai tài sản một cách minh bạch như nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước đã ban hành là khó khăn thì theo tôi không hẳn là thế. Bởi vì chưa có sự gương mẫu từ trên cao mà thôi. Nếu chúng ta mạnh dạn làm tốt hai điều : kê khai tài sản minh bạch và cải tiến chế độ lưu thông và thanh toán tiền mặt (điều mà phần đông các quốc gia đã làm) cộng với phát huy sự giám sát của tổ chức Đảng và nhân dân thì sẽ khắc phục được rất nhiều...

5. "Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm" là khẩu hiệu (cùng với việc cắm Đảng kỳ bên cạnh và ngang bằng với Quốc kỳ) giờ đây gần như đã được quy chuẩn hóa ở mọi nơi trang trọng nhất ở mọi cơ quan, công sở. Việc đặt ở vị trí cao sự tôn vinh Đảng cầm quyền là một chủ trương mà tôi không bình luận. Nhưng tôi rất nhớ đến một câu khẩu hiệu mà Bác Hồ đã nêu lên và được nhân dân hưởng ứng đã mang lại một sức mạnh tinh thần ngay sau khi cách mạng thành công. Đó là khẩu hiệu "Tổ quốc trên hết". Hồi đó ở các cơ quan và cả gia đình, người ta làm "bàn thờ Tổ quốc" và bao giờ cũng có một khẩu hiệu đặt ở vị trí cao nhất là "Tổ quốc trên hết".

Ý thức về "Tổ quốc trên hết" còn góp phần khắc phục tính cục bộ "vùng miền" đang ngày càng trở nên nặng nề. Thống nhất đất nước là một mục tiêu mà dân tộc chúng ta đã hy sinh không biết bao nhiêu xương máu để phấn đấu. Đất nước đã thống nhất rồi mà cái nếp hằn lịch sử Trung - Nam - Bắc ngày càng sâu. Lẽ ra phải là phẳng tấm bản đồ thì hình như sự thể lại đang diễn ra ngược lại. Vua Quang Trung hay vua Gia Long lên ngôi (trong hoàn cảnh đương thời) đều đưa Kinh đô vào Phú Xuân để tìm cách cân bằng một quốc gia trải dài từ Bắc xuống Nam. Vua Minh Mạng hạ thấp uy thế của Bắc Thành và Gia Định thành cũng chỉ vì lo nạn cát cứ và ly khai. Vị vua này còn "cấm quần không đáy" với mong muốn thống nhất cả tập quán văn hóa sau mấy thế kỷ Nam Bắc phân tranh... Việc điều chuyển các quan chức như cách làm của ta bây giờ ("luân chuyển cán bộ") được thực hiện rất triệt để nhằm xóa nhòa ranh giới địa phương cục bộ... Những chính sách cụ thể đó đúng hay sai có thể các sử gia còn bình luận, nhưng không ai không nhất trí và đề cao cái mục tiêu thống nhất quốc gia phải là sứ mạng của mọi triều đại, mọi chế độ...

Sau này, ngay lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đâu có thành lập Đảng mà đúng ra là Cụ đã thống nhất 3 tổ chức Cộng sản hình thành từ 3 miền và đang chứa đựng những nhân tố tranh giành quyền lực. Theo tôi thành công lớn của Cụ Hồ là rất sớm nhận ra cái nguy cơ lịch sử tiềm ẩn mang tính chất một di sản tiêu cực của lịch sử ấy để luôn có ý thức khắc phục bằng tinh thần Đoàn kết và Thống nhất, tạo nên sức mạnh của Đảng cũng như của Dân tộc. Đó là một bài học rất lớn.

Mặc dầu Đảng luôn luôn nêu cao tinh thần đã kế thừa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng trên thực tế tôi thấy tình trạng cục bộ dường như vẫn nặng nề và ngày càng nặng nề. Quan tâm đến sự phát triển cũng như đến quyền lợi của mọi vùng miền của đất nước là rất cần thiết. Nó cần được thể hiện trên chiến lược phát triển chung của đất nước nhưng tôi cứ băn khoăn với việc có cần thiết sự phân công các nhà lãnh đạo cứ phải tuân thủ theo cái nếp "chia đều" như vậy không, và như thế thì bao giờ ta có được một vị "nguyên thủ" theo đúng nghĩa về thiết chế quyền lực, điều mà nước nhỏ như Lào, nước lớn như Trung Quốc đều gần gũi ta đã làm được? Liệu có nhất thiết trong cơ quan lãnh đạo cao nhất là Bộ Chính trị cũng phải chia đều chằn chặn 5 + 5 + 5, liệu có phải chọn địa điểm xây nhà máy lọc dầu ở Dung Quất mới là quan tâm đến lợi ích miền Trung khi nền kinh tế nước nhà đã thống nhất và Nhà nước hoàn toàn có khả năng điều tiết những lợi ích của quốc gia (?) v.v...

Tôi rất lo từ những vết hằn của lịch sử. Không là phẳng tấm bản đồ Tổ quốc, những vết hằn ấy sẽ thành nếp gấp, rồi không cảnh giác, những nếp gấp ấy sẽ thành nếp gãy thì...đại họa cho Dân tộc. Do thế mà "Tổ quốc trên hết" dù có trưng thành khẩu hiệu hay không thì vẫn phải làm cho nó ăn sâu vào tâm thức của mỗi người Việt Nam trong hay ngoài Đảng...

Tôi biết rằng những ý kiến đóng góp của tôi có thể đụng vào những "vùng nhạy cảm". Nhưng khi Đảng đã tin mà hỏi thì chẳng có lẽ gì mà không trả lời một cách thật tâm.

Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2005

Dương Trung Quốc
Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam
Đại biểu Quốc hội khóa XI


____________________________________________________


Câu Lạc Bộ Dân Chủ
   

Sức Mạnh của Nhân Dân

Năm 1930, đảng CSVN thành lập; năm 1945 đảng nắm chính quyền ở Miền Bắc. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đảng chiếm được Miền Nam. Hơn 75 năm trôi qua, trong bất cứ hoàn cảnh nào, đảng CSVN luôn tìm mọi cách tiêu diệt các đảng phái đối lập. Những tiếng nói ngược lại với chính sách của đảng, dù chỉ bày tỏ quan điểm cá nhân cũng có thể bị đảng khai trừ, kiểm điểm, trù dập.

Đảng CSVN không chấp nhận đối lập chính trị dưới bất cứ hình thức và thời điểm nào. Chế độ độc tài, toàn trị kiểu Staline bao trùm cả nước Việt Nam, đảng là hiện thân của thống soái chính trị. Đảng tự cho mình cái quyền cầm cân nẩy mực, tuyệt đối quyền uy, nhưng uy tín thì ngày càng giảm sút . Chế độ chính trị ở nước ta như một thứ biến thái của chủ nghĩa phong kiến quan lại, nó không thể thích hợp trong thời đại ngày nay; thời đại của toàn cầu hoá, dân chủ và tự do.

Hiện nay, đảng CSVN đã suy yếu, biến chất và phân hoá trầm trọng. Nhiều đảng viên phản tỉnh, nhận ra rằng đảng đã phản bội họ, phản bội quyền lợi của dân. Những đảng viên đang nắm giữ vị trí lãnh đạo, bị quyền lực làm hư hỏng, thoái hoá đã và đang gây nên một sức cản lớn đối với trào lưu dân chủ.

Hơn lúc nào hết, quyền lực đảng CSVN đang bị thử thách. Một bộ phận lớn nhân dân đã mất niềm tin vào đảng. Nội bộ đảng đang bị chia rẽ trầm trọng, họ quay lai kình chống nhau, tìm cơ hội để triệt thoái, và thậm chí thủ tiêu nhau. Thanh gươm bảo vệ đảng là lực lượng công an và quân đội, không còn là một khối thống nhất. Nguy cơ một cuộc đảo chính nội bộ, hoặc một cuộc cách mạng nhân dân có khả năng thành hình; lúc đó hai lưỡi gươm trên sẽ quay lai bảo vệ nhân dân thay vì bảo vệ Đảng.

Trong bối cảnh như vậy; các đảng phái chính trị ra đời và hoạt động đối lập với đảng CSVN là một nhu cầu cấp bách. Các đảng phái đối lập, dù có thể bị đảng cộng sản đàn áp, chưa hoạt động công khai được, nhưng chắc chắn sẽ đóng vai trò như những viên đá lót quan trọng cho con đường tiến tới một xã hội Việt Nam dân chủ giàu mạnh.

Ba năm trước đây, nhà báo Nguyễn Vũ Bình chỉ vì công khai xin thành lập Đảng Tự Do-Dân Chủ đã bị toà án của đảng kết án với tội danh “gián điệp”. Những Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Khắc Toàn,... còn đang bị giam giữ trong tù với một chế độ hà khắc, nhưng họ vẫn giữ vững niềm tin về một ngày mai tươi sáng:


Tự Do-Dân Chủ sẽ chiến thắng độc tài-toàn trị.

Hôm nay, khắp đất nước Việt Nam đã xuất hiện rất nhiều những chiến sĩ đấu tranh cho Tự Do-Dân Chủ. Trong thời gian qua, họ đã học được bài học xương máu. Bên cạnh một số đã xuất hiện công khai. Phần nhiều vẫn còn hoạt động ngầm. Họ không ra mặt, không xuất đầu lộ diện. Cuộc cách mạng mà họ áp dụng mang một hình thái mới lạ máy vi tính thay cho súng đạn; chiến trường không phải là rừng núi mà là mạng Internet chằng chịt; tuyên ngôn, truyền đơn là những bức thư điện tử rực lửa. Họ là những chiến sĩ du kích ở thế kỷ 21 đấu tranh cho Tự Do-Dân Chủ. Các phương tiện của thời đại văn minh đang được áp dụng trong cuộc cách mạng đòi tự do, dân chủ cho nhân dân, và được tiến hành từng bước có hệ thống.

Cuộc cách mạng dân chủ ở Ukraina, Kyrgyzstan vừa qua đã tiếp cho chúng ta thêm sức mạnh chính nghĩa. Nếu vượt qua nỗi sợ hãi; những con người bị áp bức, không một tấc sắt trong tay có thể tràn xuống đường, để đòi quyền làm người, quyền đạt được hạnh phúc, quyền được sống trong tự do, dân chủ và công bằng. Ở thời nào cũng vậy, nhân dân phải chủ động tự mình kiến tạo nên cuộc sống của chính mình.

Nhân dân chính là người làm nên lịch sử !

Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam


____________________________________________________


Sponsors
   
____________________________________________________


Trần Hoàng Lê
   

Sửa Sai Quá Khứ và Chấn Hưng Đất Nước

 

 

Trần Hoàng Lê - TU/Đảng DCND

Kính thưa quý v !

Vi
t Nam chúng ta đã tri qua my ngàn năm lch s. Nhng di nh ca quá kh hn đã không ít ln tri dy trong tâm thc -lch s ca mi người dân Vit. Gi cho chúng ta nhiu suy nghĩ, cm giác. Đó là ni bâng khuâng v hình nh ca t tiên cái thu "mang gươm đi m cõi". Đó là lòng căm phn khi gic ngoi xâm dày xéo quê hương. Đó là ni xót xa đau đớn khi chính người Vit chém giết nhau, ca nhng: lon 12 x quân, đàng trong- đàng ngoài, Tây Sơn- Chúa Nguyn, Nhà Lê- Nhà Mc, Bc cng sn- Nam cng hoà,…
.

Ph
i nói, dân tc chúng ta đã để mt mát quá nhiu thi gian và mt lượng con người khng l cho chiến tranh. Bi thế, nhng t hào v chiến thng ngoi xâm ch như mt nim vui mng m che lp bao tâm hn con người khi biết xót xa trước nhng mt mát y. Mi người Vit cn phi dũng cm phi đi vng sáng o mng để nhìn thng vào s tht yếu kém ca lch s đất nước mình và ý thc vươn lên bù đắp cho nhng khong thi gian đã mt trong quá kh. Tôi hoài nghi nhng người luôn v ngc t hào v mt b dày lch s dân tc. Cái t hào – hào nhoáng y đã ru ng con người, ru ng tim năng đất nước ghê gm biết nhường nà
o !

Cha
ông ta đã có nhng bước trượt dài. Dân tc sinh ra không ít người có đầu óc ln như Nguyn Trãi, Nguyn Bnh Khiêm, Ngô Thi Nhm, Nguyn Trường T, Phan Bi Châu, Phan Chu Trinh, v.v… Nhưng, nhng đề xut ca h không được gii cm quyn ngu dt thc s coi trng. Vì thế, dân tc Vit Nam đã b l mt nhng cơ hi ci cách hoc canh tân đất nướ
c.

D
ù cho người bn láng ging ca chúng ta là Nht Bn có nm được cơ hi canh tân trong ci cách Minh Tr, nhưng v cơ bn, Nht Bn, cũng như Hàn Quc, đều nh hưởng đậm đà ca văn hoá, li sng Khng giáo và đi lên t kinh tế tiu nông. Vì vy, sc tri dy ca hai nước bn y đủ để động viên chúng ta tin tưởng vào sc mnh ca ý chí t thân trong hin ti và tương lai. Ý chí y giúp chúng ta mnh dn sa li nhng sai lm ca quá kh
.

Ch
úng ta không ph nhn nhng thành tu ca cha ông. Nhưng nht quyết không nên da vào nhng đim không đủ sc đỡ để làm đòn by tinh thn trong hin t
i.

Th
ế k 20, nhng người mnh danh là cng sn đã dn dt dân tc đi qua nhiu sai lm ln không th tha th. Tiếp ni ca ngàn năm phong kiến là thi Pháp thuc, ri chiến tranh liên miên, ri chính sách ngu dân thi bình, Đảng cng sn đã dìm đất nước trong nước mt, máu, và tăm ti. Vì l đó, sut thế k 20 chúng ta cũng không có được mt cơ hi canh tân nà
o.

Ước mơ hưng thnh đất nước, sa sai quá kh phi thường trc trong mi người dân Vit. Đặc bit là tng lp thanh niên, trí thc, doanh nhân. Phi biến nó thành ni nim đau đáu, thúc gic con người bt tay vào hành động vì mt ngày mai tươi sáng cho tin đồ dân t
c.

Nhưng, mi li kêu gi canh tân, hưng khi đất nước s ch là vô nghĩa, trước s trơ l độc đoán ca lãnh đạo ĐCS Vit
Nam.

Nếu làm mt phép phn chiếu gia nn văn hoá Vit Nam hin nay vi các nn văn hoá tiên tiến trên thế gii, ai cũng thy ngay được s cai tr bao năm qua ca Đảng cng sn, vi nhng sai lm ti li đối vi nn văn hoá, đã biến nn văn hoá Vit Nam tr nên què qut, thiếu sc sng. Dân chúng bc nhược v tinh thn, đặc bit là ý thc chính tr. Nhân cách, phm giá con người b quyn lc chà đạp. Kinh tế thì nghèo nàn, lc hu thuc loi nht thế gii. Người dân Vit, nói chung, đi đâu cũng phi cúi đầu vì ni nhc ca đói nghèo. Dân phi sang Nht Bn, Hàn Quc, Đài Loan, Malaysia, Lybia,… theo con đường xut khu lao động để kiếm miếng ăn bng đủ các ngh t th mc, th gò hàn,… đến móc cng, dn nhà v sinh, bc m và c ăn trm, buôn lu. Nhưng s nhc thay, ngoi t thu được t con đường xut khu lao động li là mt trong nhng khon đóng góp ln nht cho ngân qu nhà nước ! Vì sao dân chúng li phi chu đói kh, nhc nhã như thế này ?!…

Để có được t do phát trin chúng ta không th ngi ch bt c mt ân hu nào mà phi ch động đấu tranh không mt mi cho quyn li ca chính mình và ca cng đồng. Đã đến lúc, qun chúng phi quyết tâm bt phá ra khi mi s s hãi cá nhân và mi o ép ca chính quyn.

 

Khi hàng nghìn người thc tnh đoàn kết li s đủ sc động viên đồng bào làm mt trn cung phong cun trôi đi b máy độc tài, xây dng mt k nguyên mi cho Vit Nam.

L
ch s cha ông đã gi gm li cho con cháu ý chí qut cường chng gic ngoi xâm, Nhưng li không d li chút kinh nghim nào trong vic chng cường quyn. Chúng ta hãy biến "ý chí qut cường chng gic ngoi xâm" thành "ý chí qut cường chng li nhng thi nát, bo tàn ca chế độ cm quyn".

Không th nào khác được, mc tiêu canh tân đất nước phi được dn dt bi nhng người đứng đầu có trình độ và có đầu óc ci cách, da trên nn tng mt xã hi dân ch tiến b
.

Trong b
i cnh lch s hin nay ca nhân loi, lc lượng quyết định v thế ca mt quc gia trên thế gii là nn khoa hc và kinh tế tri thc. Không có lý do gì để Đảng cng sn vi tư cách là đảng ca giai cp vô sn li được phép nm gi chính quyn, dn dt dân tc, kéo lùi bánh xe lch s, cn tr nhng bước tiến l
n.

Nh
ng người dân Vit Nam nhit tình và tâm huyết, hãy đoàn kết to nên mt sc mnh mi để n lc chn hưng đất nước.

Trần Hoàng Lê
Uỷ ban Vận động Tự do Tù nhân Chính trị tại Việt Nam

Thường Vụ TU/Đảng DCND

Vit Nam 6/2003



Nhà đối lập Việt Nam, Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn bị tuyên án nặng nề

(Ông Trn Hoàng Lê tr li phng vn báo Digital Freedom Network)

Shravanti Redy, Digital Freedom Network


(Ngày 19 tháng 6 năm 2003) - Nhà đối lp Vit Nam, Phm Hng Sơn, bác sĩ Y khoa vi văn bng Cao Hc Qun Tr Kinh Doanh va b tuyên án 13 năm tù cng thêm 3 năm qun chế ti gia trong phiên toà kéo dài ít hơn na ngày ti Tòa án Nhân Dân Hà Ni.

Trong cu
c phng vn vi Digital Freedom Network, ông Trn Hoàng Lê, đồng sáng lp y Ban Vn Động T Do cho Tù Nhân Chính Tr ti Vit Nam cho biết: "ti gián đip ch là mt s ba đặt trng trn". "Bn án va ri nm ngoài sc tưởng tựơng ca tt c mi người, tôi thc s bun và tht v
ng".

B
bt ngày 27 tháng 3 năm 2002 ch vì ti đã dch và chuyn gi các bài viết trên mng internet. Sơn đã b giam ti tri giam B14, chính quyn không cho gp mt v và hai con t đó đến nay. Phm Hng Sơn hoàn toàn ph nhn các cáo bu
c.

Theo t
chc nhân quyn Human Rights Watch, bn cáo trng viết ngày 10 tháng 4 cáo buc Sơn ti gián đip, da theo điu 80 b lut Hình S vì "Sơn đã ch động liên lc qua đin thoi và email vi nhng thành phn cơ hi phn động trong và ngoài nước". Các trao đổi qua email ca Sơn đã b cáo buc đầy ry trong bn cáo trng. Sơn b vu cáo đã s dng email để "dch và gi các tài liu chng đảng, chng nhà nước ra hi ngoi" và đã "nhn các email t thành phn đối lp nước ngoài" để tho lun v cách thc thay đổi chế độ hin th
i.
"
Đây là nhng nhân vt mà nhà cm quyn Hà Ni cho là thành phn phn độ
ng".

Ông Trn cho biết như vy. Bên cnh vic gán ghép Sơn ti đã viết bài phê bình, góp ý v chính sách chính tr và các nhân vt cao cp trong Đảng. Sơn thc s b bt vì đã dám dch bài "Thế nào là Dân Ch ?" đăng trên trang nhà ca Tòa Đại S Hoa K. Sơn cũng b cho là có ti vì đã viết bài "Nhng Du Hiu Đáng Mng Cho Nn Dân Ch Vit Nam", mt bài viết ch đơn thun trình bày v các ý tướng dân ch, tán thành mt nn chính tr đa nguyên, dân ch và đa đả
ng.

Trong b
c thư ng gi ngày 30 tháng 5 năm 2003, y Ban Vn Động T Do cho Tù Nhân Chính Tr ti Vit Nam đã minh th là Hiến pháp nước Cng Hòa Xã Hi Ch Nghĩa Vit Nam, điu 69 đã xác nhân công dân "quyn t do din đạt và phát biu ý kiến". Vit Nam cũng đã cam kết thc thi Công Ứớc Quc Tế v quyn Dân S và Chính Tr, trong đó đòi hi nhà cm quyn không được tùy tin bt, giam gi và phi tôn trng quyn khác bit chính kiến (quan đim chính tr), cũng như quyn t do ngôn lun ca công dâ
n.

Ông Trn Hoàng Lê cho biết, y Ban Vn Động T Do cho Tù Nhân Chính Tr ti Vit Nam đã được thành lp hi năm ngoái ngay ti Vit Nam. Mc đích ca y Ban là n lc để vn động t do cho nhng tù nhân chính tr đang còn b giam gi như Sơn và nhiu người khác. y Ban đã liên tc vn động, phn đối các v giam gi tùy tin và nhng bn án dành cho các nhân vt đối lp vì đã bày t chính kiến qua phương tin truyn thông đin t. Trong đó có Lê Chí Quang, b tuyên án 4 năm tù và Nguyn Khc Toàn b 12 năm tù. Ông Trn tiết l, "y Ban s tiếp tc làm hết sc mình để vn động t do cho nhng tù nhân chính tr ti Vi
t Nam".

Phiên Tòa:


Theo Trn Hoàng Lê: "phiên tòa không có công bng", "ngày t lúc bt đầu v án cho đến nay, mi chuyn luôn được tiến hành mt cách du diếm". Ông Trn cho biết, phiên toà không có lut sư hin din vì Phm Hng Sơn đã quyết định t bào cha cho chính mình. Bà Vũ Thúy Hà, vơ ca Sơn đã được mi ti phiên toà, nhưng vi tư cách là nhân chng, không phi là thân nhân ca b cáo. Bng nhng th đon như vy, Hà Ni ngăn chn bà Hà quyn được gp mt chng. Truc khi toà bt đầu hi bà Hà v nhng cáo buc, thì công an đã đưa ông Sơn ra khi phòng x án. K t lúc Phm Hng Sơn b bt đến nay đã hơn mt năm, bà Hà đã b nhà cm quyn Hà Ni t chi quyn gp mt thân nhân đang b
giam.

M
c dù phiên toà đã không có nhng cuc phn đối bên ngoài. Nhưng đã có nhiu người t tp trước cng tòa gm bn bè và thân nhân ca Sơn, các phóng viên nước ngoài và các quan chc ngoi giao thuc văn phòng Đại s Hoa K, Úc và Canada. Theo ghi nhn ca Hip Hi Phóng Viên Không Biên Gii, công an đã bao vây khu vc bên ngoài tòa án, ngăn chn không cho phóng viên cũng như bt c ai vào tham d. Nhiu nhân viên ngoi giao thuc các quc gia Bc M, Úc và Âu Châu cũng đã b t chi dù trước đó h đã chính thc gi thư ghi danh đòi được tham d phiên tò
a.

B
n án đã làm nhiu người tht vng. Thc tế cho thy cn phi làm áp lc mãnh m hơn na nếu mun Phm Hng Sơn được tr t do. Trn Hoàng Lê cho biết: "Mc dù Sơn có th kháng án, nhưng khó thay đổi kết qu bn án vì h thng tòa án ca Vit Nam không da vào Hiến Pháp, Lut Pháp và nhu khi căn c vào quyết định ca cá nhân cùng vi nhng lý l rt tùy tin". Theo tin t hng thông tn Reuter, Sơn có 15 ngày để làm đơn kháng á
n.

Vn Động T Do cho Bác sĩ Phm Hng Sơn:


Theo Trn Hoàng Lê, "trường hp x Sơn va ri rt đin hình". Vi h thng báo chí b kim soát, "không mt ai dám ct tiếng nói, tin tc thì b kim duyt, báo chí th