ĐẢNG DÂN CHỦ NHÂN DÂN
  ĐẢNG DÂN CHỦ NHÂN DÂN 

  

    

 
 

Home | Tuyen Ngon | Dieu Le & Hoat Dong | Tai Lieu | Tham Khao | NguyenHoangLong | HuynhVietLang | TranHoangLe | TranNam | Dien Thu | DienThu 62 | English | Online Update | CLBDCVN | FreeCongDo


 
Đã đến lúc phải chấp nhận đương đầu
   

Đã đến lúc phải chấp nhận đương đầu với cường quyền.

Nguyễn Hoàng Long - ĐDCND

Sau hơn nửa thế kỷ áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên đất nước ta. Đảng Cộng Sản đã làm cho Việt Nam trở thành quốc gia nghèo nàn và lạc hậu; con người Việt Nam trở nên sợ hãi và túng bần; còn dân tộc Việt Nam thì không có một con đường phát triển.

Mất dân chủ, tự do là nguồn gốc của mọi sự chậm tiến và suy vong. Độc tài đảng trị là nguyên nhân chính yếu tạo ra tham nhũng và khủng hoảng đất nước.

Tham nhũng, đục khoét công quỹ làm của riêng, làm cho tài nguyên quốc gia ngày càng bị kiệt quệ. Mỗi ngày, không biết bao nhiêu vụ án gây ra bởi những cán bộ đảng viên trung và cao cấp. Xã hội càng lúc càng xuống cấp, hàng loạt đảng viên đảng cộng sản Việt nam đã tham gia trực tiếp vào các vụ án hối lộ, cửa quyền, tham ô, xâm phạm, chèn ép và chiếm đoạt tài sản của nhân dân; cũng như những vụ án xâm phạm đạo đức xã hội khác hiếp dâm, bạo hành...

Tình trạng phân hóa xã hội càng lúc càng gay gắt. Đa số đồng bào phải vất vả, kiếm cơm từng ngày thì thiểu số tư bản đỏ, được thừa hưởng đặc ân, đặc lợi trong bộ máy nhà nước đã sống bê tha, trác táng. Giai cấp xã hội ngày càng mâu thuẫn, chênh lệch giàu nghèo ngày càng gia tăng, bất công ngày một trầm trọng. Trong khi, hơn 95% dân số, bao gồm thành phần lao động như công nhân, nông dân, trí thức, tiểu thương, thanh niên, sinh viên... thì nghèo, phải chạy ăn từng bữa. Kẻ đi làm thuê nước ngoài, người bán mình kết hôn với ngoại nhân. Ngược lại, thiểu số giai cấp lãnh đạo cầm quyền, thành phần đảng viên đảng CSVN mỗi ngày một giàu có, sống xa hoa, hưởng thụ, phung phí và lún sâu vào tội ác như đảng cướp trá hình.

Nhiều quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản: Liên bang Xô Viết, Ba Lan, Tiệp Khắc, Đông Đức, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi , Lỗ Ma Ni…đã từ bỏ thiên đường cộng sản. Không may cho dân tộc chúng ta, thiểu số lãnh đạo đảng CSVN vẫn tiếp tục ngụy biện, bám víu vào chủ nghĩa phản động như một phương tiện để che đậy bản chất độc quyền.

Đối với ngoại bang thì cúi đầu thần phục, đối với nhân dân thì trấn áp. Lãnh đạo đảng CSVN đang bị cuốn hút trong mê muội của quyền lực. Triệt để kiểm soát và tận dụng guồng máy đàn áp, cộng với chính sách ngu dân và nhờ vào lòng sợ hãi của quần chúng, đảng CSVN đã và đang tiếp tục chiếm giữ quyền lực. Trong khi xu thế của thời đại là Tự Do, Dân Chủ, Độc Lập, và Đa Nguyên, thì đảng CSVN đã ngoan cố đi ngược lại xu thế lịch sử. Họ không đếm xỉa gì đến tương lai đất nước và tiền đồ dân tộc. Quyền lợi của thiểu số đảng viên đảng CSVN là tối thượng, trên tất cả mọi thứ, kể cả quyền lợi của đất nước và dân tộc.

Để tiếp tục bảo vệ hệ thống độc đảng, độc tài. Đảng CSVN đã tiến hành những quan hệ ngoại giao và kinh tế bất minh. Đảng CSVN đã ký kết và nhượng bộ lãnh hải, lãnh địa, làm thiệt thòi và bất công, làm mất biết bao giang sơn gấm vóc mà tổ tiên đã dựng nên. Khiếp nhược trước ngoại bang, đánh mất tính độc lập dân tộc, đảng CSVN đã làm mất chủ quyền quốc gia, không đủ khả năng bảo vệ nhân dân và tổ quốc trước nạn ngang ngược gây hấn của nước láng giềng.

Áp đặt chính sách ngu dân, ngăn chận các luồng thông tin tự do tin tức và báo chí, kiểm soát chặt chẽ mọi phương tiện truyền thông đại chúng. Đảng CSVN đã làm cho cả dân tộc trong gần nữa thế kỷ qua bị mê muội, lạc lỏng và chậm tiến trước sức phát triển vượt bực về kinh tế và khoa học kỷ thuật của thế giới. Việt Nam ngày nay đã bị các quốc gia Á Châu láng giềng như Hàn Quốc, Đài Loan, Mã Lai Á, Phi Luật Tân, Thái Lan, Tân Gia Ba bỏ xa về mức độ dân trí, khoa học kỹ thuật và phát triển kinh tế.

Dựa vào bộ máy công an trị. Đảng CSVN liên tục khủng bố, trấn áp những người bất đồng chính kiến. Cả một bộ phận tiên tiến của dân tộc, gồm những cá nhân đã dám cất tiếng nói phản kháng đòi tự do, dân chủ, đòi tự do báo chí, đòi độc lập dân tộc, đòi tự do tôn giáo, tự do hành đạo như: Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, nhà báo Nguyễn Vũ Bình, Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Giang, Nhà văn Dương Thu Hương, Nhà văn Hoàng Tiến, Linh Mục Chân Tín, Mục Sư Nguyễn Hồng Quang, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Cưụ chiến binh và đảng viên Phạm Quế Dương, Nguyễn Khắc Toàn, Trần Dũng Tiến, Lê Chí Quang, Hoàng Minh Chính, Vũ Cao Quận, Giáo sư Trần Khuê, Phó tiến sĩ Hà Sĩ Phu, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Thượng toạ Thích Huyền Quang, Thượng tọa Thích Thiện Minh, nhà thơ Bùi Minh Quốc, giáo sư Nguyễn Đình Huy, kỹ sư Đỗ Nam Hải, giáo sư Nguyễn Chính Kết, luật sư Nguyễn Văn Đài…… hoặc bị cầm tù, đầy đọa với những bản án gián điệp tưởng tượng, hoặc ngày đêm bị giam lỏng, quản chế, theo dõi, trù dập và khủng bố.

Độc tài là một kiểu trá hình của nô lệ. Một thế hệ người Việt Nam bạc nhược, yếu hèn và cam phận. Cả dân tộc và đất nước sẽ phải gánh chịu hậu quả thảm khốc. Đã đến lúc không thể khoán trắng vận mệnh dân tộc và đất nước cho đảng CSVN. Đã đến lúc phải chấp nhận đương đầu với cường quyền.

Bằng tất cả mọi phương tiện, dầu phải gian khổ và hy sinh chúng ta quyết tâm dành lại quyền lãnh đạo đất nước về tay Nhân dân. Hãy vì tương lai của đất nước và dân tộc, tiếp tay, yểm trợ, tham gia Đảng Dân Chủ Nhân Dân để tranh đấu cùng đạt các muc tiêu mà bản Tuyên Ngôn Đảng đã phổ biến hôm 15/6/2005, gồm 9 điểm đấu tranh cụ thể sau :

  1. Sử dụng mọi phương tiện bí mật và công khai để vận động đồng bào tham gia đấu tranh vì mục tiêu: Tự do, Dân chủ, Công bằng và Thịnh vượng trong tinh thần bất bạo động.
  2. Đấu tranh đòi chính quyền độc tài thả ngay tức khắc và vô điều kiện các tù nhân chính trị.
  3. Đấu tranh với chính quyền độc tài đòi lại quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, tự do thân thể, tự do tín ngưỡng….. Mục tiêu đấu tranh là hình thành một lực lượng đối lập công khai, để kịp thời ngăn chặn những hành động của nhà cầm quyền gây tổn hại cho đất nước và cho nhân dân.
  4. Đấu tranh buộc chính quyền độc tài phải bảo vệ nền độc lập dân tộc, và bảo vệ quyền toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.
  5. Đấu tranh đòi cải thiện và bảo đảm chế độ an sinh xã hội, đặc biệt cho những tầng lớp khó khăn.
  6. Đấu tranh với chính quyền độc tài để cho các tổ chức đảng phái, các cá nhân đều được quyền tham gia đời sống chính trị một cách công khai và bình đẳng.
  7. Dựa vào sức mạnh nhân dân và sự ủng hộ quốc tế, đấu tranh buộc chính quyền độc tài thực hiện quyền ứng cử và bầu cử tự do để chọn lựa những người xứng đáng tham gia vào các cơ quan chính quyền. Tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý để chọn lựa chế độ chính trị phù hợp với ý nguyện nhân dân.
  8. Đấu tranh để mỗi người Việt Nam đều có quyền công dân. Không phân biệt nguồn gốc, dân tộc, giai cấp, chính kiến, đều được hưởng những quyền căn bản nêu trong các Công Ước Quốc Tế về Nhân Quyền và Dân Quyền.
  9. Đấu tranh với chính quyền độc tài sửa đổi Hiến pháp và Pháp luật để phù hợp với ý nguyện nhân dân, hướng tới việc xây dựng một nhà nước dân chủ và pháp quyền.

"Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại thành hòn núi cao."

Xin nguyện cầu hồn thiêng sông núi phù hộ cho chúng ta vượt qua mọi khác biệt, trở ngại.

Cầu cho chân cứng đá mềm.
Cầu cho Việt Nam sớm được Tự Do, Dân Chủ, Công Bằng và Thịnh Vượng.

-----------------------

It’s time to stand strong and see the true face of the VCP's brutal authority.

By Nguyen Hoang Long - (Thủy Tú Dch)

With over half century having passed since the Vietnam Communist Party (VCP) forcefully imposed its communist regime onto our country, Viet Nam has become a poor and underdeveloped nation. Under the VCP's regime, the Vietnamese people have endured more poverty, suffering and insecurity than ever before.

Without the promise of democracy and freedom anywhere on the horizon, Viet Nam is left wholly underdeveloped and at risk of social destruction. The absolute rule exercised by the VCP's ruling party is the sole cause of this downward spiral. 

The saying that "power tends to corrupt, and absolute power corrupts absolutely," holds all too true under the VCP's regime.

Fraud, corruption and conversion of public assets for personal gain by the VCP have denied Viet Nam of its legacy. With every day that passes, Government officials find ways to enlarge their own coffers at the expense of the common family. Hundreds of VCP members have directly participated in crimes such as corruption, influence peddling, bribery, and theft not to mention more heinous crimes like rape, violence and murder… As a consequence, Vietnamese society has sadly become even more deteriorated with each passing year.

Where the vast majority of the Vietnamese people work hard every day at poverty level wages in order to survive, an elite minority class of red capitalist, who enjoy privileges granted to them by their governmental connections, live an extravagant and bourgeois lifestyle. The sign of any third world country is the great disparity between the rich and the poor without a defined middle class. Viet Nam is a classic example of this. Social classifications are inverted. The gap between rich and poor is escalating, and the inequity between each class leaves the Vietnam weaker as a whole. 95% of the Vietnam's population, which comprises of laborers, farmers, intellectuals, small-business men, youths, students lead an existence that is at or below the poverty level. They are forced to find other means in order to merely subsist. Some must go overseas to work as laborers, while others have to marry foreigners. This is such contrast to VCP members who are getting richer and richer off the backs of the common man.

Many former communist countries such as Soviet Union, Poland, Hungary, Yugoslavia and Romania have realized the futility of communism. Unfortunately for our nation, the leadership of Vietnam Communist Party still holds fast to its unrealistic doctrines as a way to mask their true dictatorial nature.

Using its suppressive governmental apparatus to completely take control of power, combined with its obscurant policy as well as instilling fear in its citizens, the VCP has a death-grip on Viet Nam. While the world trend is moving toward Freedom, Democracy, and Independence, the VCP Government is an archaic monolith that refuses to recognize its out-dated existence. It does not care about the future of its country and its own people.

In order to protect this single-party dictatorship, the VCP has implemented and fostered many illegitimate diplomatic and economic relationships. It has signed numerous treaties relating to territorial and oceanic boundaries that although beneficial to VCP members and their financial interests have proved disadvantageous for Viet Nam by losing lands left by our forefathers. If threatened by foreign enemy, the VCP will be unable to defend our country's sovereignty.

By fiercely applying obscurantism, preventing freedom of speech and publication, and having absolute control of the mass media for over the past half century, the VCP has forced the nation into ignorance, isolation and underdevelopment in spite of the advanced development of economics and sciences occurring worldwide. Viet Nam today is far behind its neighboring Asian countries, such as South Korean, Taiwan, Malaysia, Philippines, Thailand and Indonesia in the numerous areas, including public education, science and economy.

Relying on its brutal security apparatus, the VCP continuously threaten and suppress the voices of its opponents. Many of our country ’s social reformists, those who dare to raise their voice to fight for human rights, democracy, freedom of speech and religion, such as Dr. Pham Hong Son, Journalist Nguyen Vu Binh, Dr. Nguyen Thanh Giang, Novelist Duong Thu Huong, Novelist Hoang Tien, Father Chan Tin, Minister Nguyen Hong Quang, Father Nguyen Van Ly, Veteran Party members Pham Que Duong, Nguyen Khac Toan, Tran Dung Tien, Le Chi Quang, Hoang Minh Chinh, Vu Cao Quan, Professor Tran Khue, Dr. Ha Si Phu, Dr. Nguyen Dan Que, Most Ven. Thich Quang Do, Ven. Thich Huyen Quang, Ven. Thich Thien Minh, Poet Bui Minh Quoc, Professor Nguyen Dinh Huy, Engineer Do Nam Hai, Professor Nguyen Chinh Ket, Lawyer Nguyen Van Dai … have been falsely accused as spies and either arrested, held under house arrest or indefinitely kept under strict surveillance and at risk of being threatened day or night.

Totalitarian dictatorship is nothing more than another face of slavery that, if not stopped, will destroy the Vietnamese people for generations to come. Now is the time for us draw a line and make our stand. The destiny of our country and our people cannot be left in the hands of the VCP. It’s time to stand strong and see the true face of the VCP's brutal authority.

By any and all means, and at any price, we must be determined to fight for our nation in order to give it back to the common family. For the future of our country and our people, let us extend our helping hands; let us be part of the People’s Democratic Party and fight for the objectives stated in the PDP Proclamation. This Proclamation, which was declared on 6/15/2005, includes the following 9 plans of action:

1. Use all means, public or underground, to mobilize our compatriots to get involved in the struggle for Freedom, Democracy, Justice and Prosperity, in the spirit of Nonviolence.

2. Struggle for the immediate release of all political prisoners.

3. Struggle for the Freedom of _Expression, the Freedom of Press, the Freedom of Association, the Freedom of Religion. The immediate objective is to constitute a front of opposition aiming to end the delinquency of power.

4. Struggle to defend the independence of the fatherland, to preserve the territorial integrity of the country.

5. Struggle to demand improvement and security in social life, especially for the underprivileged classes.

6. Struggle for the right of every citizen to participate in political life in an official manner and without discrimination.

7. Depend on the force of the people and international support, in order to organize free elections to choose fair representation. Organize a referendum so that the people can express their views in the choice of political system.

8. Struggle for equality of each citizen, without any consideration of origin, breed, class or opinion, according to the Universal Declaration of Human Rights of the Citizen.

9. Struggle for a change of Constitution and Laws to represent the real wishes of the people to bring Vietnam towards a State of democracy and justice.

“A lone tree is not thicker than a bush,

Three unified trees can make a forest.”

Let pray our forefathers helping us to strengthen our beliefs for overcoming differences and difficulties.

Let us stand firmly to crush the rock underneath.

Let hope for Vietnam to soon achieve Freedom, Democracy, Equality and Prosperity.
____________________________________________________


SỰ RA ĐỜI
   

SỰ RA ĐỜI CỦA CÁC LỰC LƯỢNG CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP.

Nguyen Hai Son/Nguyen Hoang Long

Chính trị là rường cột của quốc gia. Không có nền chính trị vững vàng, quốc gia không thể phát triển được. Ba mươi năm so với chiều dài lịch sử không phải là dài, nhưng cũng đủ thời gian để chứng minh rằng: Con đường mà quốc gia đó chọn lựa là đúng hay sai ?

Quốc gia là tập hợp những con người sống trong một lãnh thổ dưới sự cai trị của một thể chế chính trị. Không có một nền chính trị đúng đắn, quốc gia không thể theo kịp các quốc gia khác; đừng nói gì đến chuyện “sánh vai các cường quốc năm Châu”. Một quốc gia muốn ganh đua, phát triển cùng thế giới phải có một hệ thống chính trị hữu hiệu để thu dụng nhân tài, vật lực của quốc gia mình.

Nền chính trị Cộng sản sai từ gốc. Cái gì đã xuất phát sai thì về sau cũng không thể đúng được. Thiên đường CS được xây dựng trên giáo điều là con người sinh ra không để phục vụ nhân dân, phụng sự đất nước mà để chiến đấu, hy sinh cho lý tưởng CS. Nhưng, CS là một xã hội như thế nào thì không ai biết. Cái gì để nuôi sống con người và điều gì làm quốc gia hưng thịnh thì lý thuyết CS không bàn đến.

Hàng vạn chiến binh CS không sợ tù đày, chết chóc vì họ tin một ngày nào đó cái lý tưởng CS sẽ trở thành hiện thực. Lý tưởng CS đã thấm sâu vào tim óc của họ, đã tạo ra một khoái cảm mà họ cho là chủ nghĩa lạc quan cách mạng. Trong ngục tù họ hát vang bài Quốc tế ca; trước khi bị xử bắn họ ca bài ca cách mạng. Hoàn toàn không có bài hát ca ngợi tinh thần dân tộc.

Con người là nhân tố quyết định trong mọi thể chế chính trị. Không có con người, quốc gia không thể xây dựng được. Một con người bảo thủ, độc đoán không thể xây dựng một thể chế dân chủ, văn minh? Một con người tham lam, dốt nát không thể xây dựng một xã hội rộng lượng… Có thể ví lãnh đạo một quốc gia giống như ông cha một gia đình. Nhìn vào tính cách của người cha, chúng ta có thể nói gia đình đó đang ở tình trạng như thế nào và phát triển ra sao.

Tính cách của những người đứng đầu quốc gia phản ảnh thể chế chính trị mà quốc gia đó theo đuổi? Không có Lý Quang Diệu sẽ không có một Singapore hưng thịnh, không có Hồ Chí Minh sẽ không có nước Việt Nam Cộng sản … Cho nên, nhiều học giả phương Tây muốn tìm hiểu lịch sử hiện đại VN, họ lại đi nghiên cứu về lai lịch của Hồ Chí Minh. Họ muốn biết Hồ Chí Minh là một con người như thế nào ?

Nền chính trị tốt đẹp là nền chính trị thuận lòng dân, nhờ đó mọi người dốc hết sức mình cho công cuộc chấn hưng đất nước. Nền chính trị tốt đẹp là mảnh đất màu mỡ để phát triển nhân tài, còn một nền chính trị phản động sẽ giết chết người tài. Nền chính trị CS không tìm được người tài đã phản ảnh phần nào cái bản chất phản động của chế độ.

Hệ thống cai trị của CS rất chặt chẽ. Tất cả các tổ chức, đoàn thể đều ở trong vòng kiểm soát của họ. Mọi cá nhân và tổ chức đều bị ràng buộc lẫn nhau, không thể thay đổi hoặc cải cách được. Guồng máy CS có nhiều ban bệ, nhiều chức vụ dẫm đạp lên nhau; do đó chức quyền thì nhiều nhưng làm việc không hiệu quả.

CS đang nắm trong tay quyền lực, nhân lực, và tài nguyên. Nhưng do chính sách sai lầm nên không kích thích được sản xuất, không thúc đẩy xã hội phát triển; họ lại còn phải nuôi cả một bộ máy cồng kềnh và không có năng lực. Một nền sản xuất thô sơ, một đội ngũ công chức đông đảo kèm theo đồng lương thấp kém nên các viên chức CS phải kiếm thêm tiền bằng cách ăn hối lộ, ăn cắp, ăn xén…

Lý thuyết CS cho rằng tư tưởng quyết định hành vi, nhưng vật chất lại quyết định ý thức. Như vậy, vật chất quyết định hành vi con người ?

CS luôn lấy tư tưởng Xã hội Chủ nghĩa (XHCN) làm định hướng cho những chính sách của mình. Mục tiêu của họ là lật đổ chế độ tư bản vì cho rằng bản chất của tư bản là bóc lột. Những ý tưởng ưu việt về công bằng XHCN không thể thực hiện được bằng các chính sách kinh tế, nên họ dùng chuyên chế vô sản để thực hiện sự cào bằng. Đảng đã dùng quyền lực của mình để can thiệp vào các mặt của đời sống xã hội. Vì vậy, chế độ CS đã sinh ra một kiểu bất công khác, không dựa trên quy tắc và luật lệ xã hội mà dựa trên quyền lực của đảng.

Những bất công mà chế độ CS tạo ra còn nặng nề, sâu xa và nguy hại hơn rất nhiều so với những tồn tại trong chế độ tư bản. Nhân loại sẽ mất rất nhiều thời gian và công sức để sửa chữa những hậu quả này. Khi chưa sống với CS, nhiều người có thể cho rằng xã hội CS là một thiên đàng; nhưng nếu đã sống rồi, họ sẽ thấy xã hội CS ngu dốt, man rợ và tàn bạo.

Chính sách CS chỉ áp dụng trong những quốc gia có trình độ sản xuất lạc hậu, lôi kéo những con người ít học. Khi xã hội phát triển đến một mức độ nào đó, dân trí được nâng cao, con người ta sống sung túc tiến bộ hơn; cái lý thuyết CS mặc nhiên bị vất bỏ.

Ở những nước có nền sản xuất nhỏ và trình độ thấp, mô hình doanh nghiệp vừa và nhỏ là phù hợp với thực tế của đất nước đó. Nhưng do cái bệnh thành tích và duy ý chí, CS bao giờ cũng “thổi to” cái hình thức của mình hơn so với hoàn cảnh. Không có bệnh thành tích, cái vỏ bọc ngoài, thì CS không thể tồn tại.

Doanh nghiệp quốc doanh ôm một mớ tiền, xây một trụ sở thật to nhưng làm ăn không hiệu quả. Hiệu quả là gì? Đơn giản là ít nhân lực, ít vốn, ít chi phí… nhưng hoạt động sinh lợi nhiều. CS chưa bao giờ tính toán hiệu quả bằng những phương pháp khoa học. Do vậy, còn CS lãnh đạo thì đất nước chỉ rơi vào nghèo nàn, tụt hậu chứ làm sao mà tiến lên được. Ngay cả nước Nga, trước cách mạng tháng Mười, là một cường quốc phương Đông, nhưng sau một thời gian theo CS thì họ đã xuống hạng.

Những ai đã sống trong chế độ CS sẽ nhận thấy một điều là CS không có nền tảng cho sự phát triển. Sự áp đặt đã giết chết tính cách, nền kinh tế chỉ huy đã làm tàn lụi sức sáng tạo. Cho nên, càng đầu tư làm ăn càng thua lỗ, càng mở rộng sản xuất càng giảm khả năng cạnh tranh… Bài học mía đường, bài học đánh bắt xa bờ, bài học cà-phê chè ở các tỉnh Trung du Bắc bộ… đã để lại những kinh nghiệm đau thương. Tất cả những hậu quả này là do chính sách cải cách nửa vời, là do theo đuổi nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa…

Đảng muốn mở cửa hội nhập để thoát ra khỏi tình trạng bế tắc hiện nay; nhưng nhiều quan chức đảng không muốn thay đổi. Có người lại muốn quay lại thời bao cấp; cái thời mà con người ta cần phải hô khẩu hiệu thật nhiều, thì mới được đánh giá là có tinh thần theo Đảng.

Do vậy có thể nói, những gì CS phải đối mặt ngày hôm nay là hậu quả của những chính sách cai trị của họ ngày hôm qua. Mỗi địa phương, mỗi cộng đồng đều chịu những hậu quả của nó; và chắc chắn, Hà Nội chưa bao giờ tính trước được những khó khăn này. CSVN đã biến thái rất nhiều so với những lý thuyết CS chính thống, và cũng khác xa những gì mà các chính khách phương Tậy dự đoán. Hậu quả của xã hội VN có thể tóm tắt từ ba nguyên nhân sau đây:

  1. Ngu dốt, tham lam và đạo đức giả.
  2. Tư tưởng bề trên của các quan chức trong guồng máy đảng (cường quyền).
  3. Không có một cơ chế để kiểm soát hoặc giám sát quyền lực (lộng quyền).

Trong lịch sử nhân loại, không thấy một thể chế chính trị nào khoan dung đối với những người trong guồng máy của mình, nhưng lại xử phạt nghiêm khắc dân chúng. Ngay cả chế độ phong kiến ngày xưa, quan có thể bị xét xử một cách nghiêm minh để làm gương.

Trong xã hội CS, cùng một tội danh nhưng quan và dân được xét xử dưới hai hình thức khác nhau và theo hai mức án khác nhau. Sự công bằng đã biến mất ngay chính trong hoạt động tố tụng; và hậu quả là nền tư pháp quốc gia bị bẻ gãy. Đây là khiếm khuyết chung cho những chế độ độc tài, và là nguyên nhân dẫn đến sụp đổ.

Độc tài kích thích sự bạo ngược, bạo ngược giết chết tự do, và mất tự do là con đường dẫn đến suy tàn. CSVN không phải là đế chế nhưng sự bạo tàn của họ còn hơn cả đế chế; sự bạo tàn nhằm khuất phục những kẻ chống đối và tiêu diệt những tư tưởng đối lập.

CS là những con người cực kỳ bảo thủ; quan điểm bảo thủ đã ăn sâu vào tâm thức của họ nên rất khó thay đổi. Những lời phát biểu của ông Lê Đăng Doanh trước cán bộ cao cấp ở Hà Nội vào cuối năm 2004 chỉ làm cho quan chức đảng mơ hồ về những thay đổi sắp xãy ra, còn thay đổi ra sao thì họ không thể mường tượng đựơc.

Trước đây, những họat động trong guồng máy đảng là bí mật; không ai biết chuyện gì đang xảy ra và con số chính thức của nó là bao nhiêu? Chuyện nội bộ đảng không bao giờ được công khai; ai muốn công khai là có ý đồ chống đảng. Hôm nay, những chuyện kín đáo như vậy lại bày ra trước bàn dân thiên hạ, làm cho quan chức CS rất lúng túng.

Một thể chế chính trị sai lầm sẽ dẫn đến những hệ lụy về kinh tế. Một nền kinh tế bệ rạc sẽ phát sinh những vấn nạn xã hội. Những bất công của xã hội VN có nguồn gốc từ chính trị, do đó muốn giải quyết những vấn đề của xã hội VN không có cách nào khác là phải “bứng” cái gốc rễ chính trị thối nát đi.

Từ những phân tích ở trên để thấy rằng: VN cần phải thay đổi cấp bách và triệt để. Có nghĩa là phải thay đổi tận gốc rễ chính trị, chứ không phải thay đổi kinh tế, giáo dục hay xã hội. Những từ ngữ như là “cải cách kinh tế”, “cải cách hành chánh”, “đổi mới tư duy”… chỉ là những trò bịp bợm vẽ vời. Những trò này chỉ làm cho đất nước càng đi vào ngõ cụt.

Ai cũng biết, CS không bao giờ từ bỏ quyền lực của mình. Ngay cả chuyện đơn giản nhất là từ chức để bảo vệ danh dự mà họ còn không làm được, thì việc từ bỏ quyền lực chỉ là chuyện hoang đường. Từ chức có nghĩa là mất tất cả! Từ bỏ quyền lực là một tấn bi kịch mà những người CS kiên cường nhất không bao giờ dám nghĩ tới.

CS cố ngụy tạo cho thế giới thấy rằng; họ muốn xóa đi đói nghèo của đám dân đen, nhưng thực tế họ đang làm cho đám quan chức ngày thêm giàu có; có nghĩa là bất công xã hội ngày càng gia tăng. Họ cho rằng; dưới sự lãnh đạo của đảng, đất nước VN sẽ trở nên hùng cường. Đây chỉ là trò ngụy biện nhằm đeo bám quyền lực.

Một hệ thống chính trị gồm những con người không chịu trách nhiệm trước dân chúng, nhưng cũng không muốn từ bỏ quyền lực thì quốc gia đó sẽ về đâu ?

Ở một quốc gia dân chủ luôn có đảng cầm quyền và đảng đối lập; đây là sự cân bằng ở thượng tầng kiến trúc. Trong một cuộc bầu cử dân chủ, nếu một đảng phái thắng cử, họ có một thời gian để thi thố đường lối của mình. Nếu đường lối lãnh đạo mang lại lợi ích cho xã hội thì quần chúng sẽ tiếp tục ủng hộ, còn không thì “xin mời” xuống cho người khác lên làm.

Một đảng lãnh đạo dở mà cứ tham quyền cố vị thì chắc chắn đất nước sẽ rơi vào khủng hoảng và tụt hậu. Cái tội dở mà làm dai!

Hoạt động chính trị có mục tiêu là mang lại công bằng cho tất cả mọi người và trên mọi lãnh vực.

Trong một xã hội dân chủ-đa đảng, dân chủ về mặt xã hội và đa đảng về mặt chính trị; những đảng phái chính trị có một cơ hội để trình bày những quan điểm của mình. Đó là sự công bằng. Sự công khai và minh bạch trên chính trường sẽ tạo điều kiện công khai và minh bạch trong các hoạt động xã hội khác.

Chính trị sẽ mở đường đi tìm sự công bằng thông qua tiếng nói của mình. Nhưng CS không bao giờ tạo cơ hội cho sự công bằng, dù chỉ là công bằng trong lời ăn tiếng nói. Vậy thì những nhà hoạt động dân chủ sẽ làm gì ?

Trước đây, CS dựa vào ba dòng thác cách mạng của thời đại để tiến công và giành thắng lợi. Hôm nay, những người không cộng sản cũng biết khai thác những suy yếu của CS để giành ưu thắng cho mình:

  1. Sự sụp đổ của hệ thống Xã hội Chủ nghĩa trên toàn thế giới.
  2. Những yếu kém nội bộ bộc lộ, khi CS mở cửa hội nhập.
  3. Chính quyền CS không có khả năng giải quyết những xung đột trong nước ngày càng gia tăng.

Chính trị là đức tin về sự công bằng. Niềm tin chính trị là niềm tin mạnh mẽ và lớn lao nhất. Vì niềm tin này, nhiều người cầm súng chiến đấu và hy sinh.

Trước đây, những chiến sĩ Việt Cộng tin rằng; Đế quốc Mỹ là những tên xâm lược, chủ nghĩa Cộng sản sẽ chiến thắng trên toàn thế giới… do đó họ không ngại gian khổ, chết chóc để chiến đấu cho lý tưởng. Lý tưởng CS thì cao xa, còn thân xác thì bé bỏng. Cho đến một ngày, họ nhận ra cái lý tưởng mà họ một thời tôn thờ và chết cho nó, chỉ là cái bánh vẽ. Đức tin đã hoàn toàn sụp đổ!

Chính trị là thống soái, là thượng tầng kiến trúc mà mỗi quốc gia phải xây dựng cho bằng được. Không có tư tưởng chỉ đạo, mọi chính sách kinh tế-xã hội không thể thực hiện được. Và quốc gia có nguy cơ sụp đổ.

Một xã hội thiếu niềm tin chính trị, xã hội đó sẽ dẫn đến khủng hoảng. Xã hội miền Nam trước đây là một ví dụ. Miền Nam được xây dựng trên quyền lực của một số tướng lĩnh; quyền lực và sự giàu sang của họ có được là nhờ vào sự can thiệp và viện trợ quân sự của Mỹ. Khi người Mỹ rút đi đã để lại một khoảng trống chính trị. Cho nên, khi nghe tin CS sắp chiếm một nơi đang sinh sống, họ đã vội vàng từ bỏ nó. Hành vi này đã tạo nên một sự bất an trong binh sĩ và dân chúng. Cuối cùng, sự bỏ chạy của họ đã tạo nên cơn hỗn loạn thật sự khi CS có mặt ở miền Nam vào năm 1975.

Nhiều người than phiền rằng; con người VN hôm nay không có lòng tự hào dân tộc và không tôn trọng danh dự Tổ quốc. Điều này cũng đúng thôi, bởi vì đâu có còn Tổ quốc mà để tự hào. Tất cả những gì của dân tộc, đều đã bị hy sinh cho lý tưởng Cộng sản hết rồi.

Hơn lúc nào hết, trong lúc này, chúng ta cần phải định nghĩa thế nào là lòng yêu nước. Yêu nước là yêu đám dân nghèo không tên, không tuổi? Yêu nước là yêu nơi ta được sinh ra và nuôi lớn? Yêu nước là yêu mồ mả tổ tiên ông bà? Yêu nước là yêu kỷ niệm thời thơ ấu; cây đa đầu làng, dòng sông trưa hè, góc phố quạnh hiu?...

Lòng yêu nước có thể được diễn tả theo cách riêng của mỗi người, nhưng tất cả đều hướng về cội nguồn thiêng liêng. Chúng ta có thể đánh giá lòng yêu nước của một dân tộc thông qua tinh thần cộng đồng của người dân nước đó ?

Cho đến nay, lòng yêu nước của nhân dân VN vẫn tiếp tục bị ngộ nhận và lợi dụng. Ông Lê Duẩn đã từng định nghĩa: Yêu nước là yêu Chủ nghĩa Xã hội. CS dạy cho học sinh yêu những cái to tát, vĩ đại và mơ hồ, chứ không phải yêu những điều gần gũi và thân thương. Hậu quả ngày hôm nay, nếu có hỏi một sinh viên: Thế nào là lòng ái quốc? Anh ta sẽ không trả lời được, và hình như chính quyền không muốn nhắc đến chuyện này. Lòng ái quốc là một danh từ cao đẹp, đến nỗi, nó được giành để đặt tên riêng cho một người.

Yêu thì ai cũng hiểu rồi! Nước là nước non, là giang sơn Tổ quốc… Yêu nước có nghĩa là thương nòi. Thương dân là khi thấy dân đau khổ, phải xót xa căm giận ?

Những con người sống trên đầu trên cổ dân đen, những con người làm cho đất nước ngày càng nghèo nàn, tụt hậu; đó là bọn phá nước hại dân ?

Yêu nước là tìm ra một con đường để đưa đất nước thoát ra khỏi cảnh đói nghèo, lạc hậu và tủi nhục. Con đường đó có thể là lãnh đạo nhân dân đứng lên lật đổ độc tài; lật đổ những thế lực đã đưa dân tộc vào con đường suy vong, không lối thoát.

Bất cứ xã hội nào cũng có tầng lớp đại diện cho sự thống trị của xã hội đó. Thời trung cổ thì có tầng lớp tăng lữ, quý tộc; thời phong kiến thì có quan lại, địa chủ; thời tư bản thì có ông chủ, chính khách; thời CS thì có các quan chức Đảng… Nhưng bất cứ thời nào cũng có dân; những người lao động lương thiện, chiếm đa số và làm nên bộ mặt của xã hội đó.

Khi quyền lợi của dân chúng và giai cấp thống trị mâu thuẩn sẽ phát sinh những bất ổn xã hội. Và những bất ổn này phải được giải quyết bằng các biện pháp chính trị.

Chính trị là đỉnh cao của nghệ thuật cai trị và là khoa học của mọi khoa học. Những con người ưu tú nhất của quốc gia mới có khả năng theo đuổi con đường chính trị. Chưa thấy một công trình xã hội học nào nghiên cứu: Tại sao những người hành nghề luật sư, bác sĩ thích lao vào con đường chính trị? Có lẽ do quan niệm về sự công bằng và chí hướng của họ?

Trong xã hội CS, sự giàu có xuất phát từ quyền lực hoặc gắn liền với quyền lực. Một tầng lớp quan chức giàu có đông đảo sống trên đầu trên cổ đám dân đen nghèo khó làm cho xã hội mất cân bằng. Những bất ổn xã hội sẽ làm cho vị thế của quyền lực bị chông chênh, và thay đổi chính trị sẽ xóa sổ một tầng lớp lãnh đạo độc tài. Điều này đã từng xảy ra ở những nước theo chế độ CS.

Khi giàu có con người ta sợ mất của, sợ chết… Sự giàu có và quyền lực của tầng lớp thống trị, lẽ ra, được dùng để xây dựng thành lũy chống lại sự đối kháng. Nhưng ngược lại, họ ôm của cải bỏ chạy trước khi sự đối kháng đến. Sự giàu sang không được xây dựng trên nền tảng chính trị sẽ làm chế độ mau sụp đổ hơn. Nguyên lý này cũng đúng cho hoàn cảnh của CSVN hiện nay.

Để kêu gọi đầu tư, Hà Nội cho rằng, VN là một quốc gia có nền chính trị ổn định nhất. Nhưng thật ra, hệ thống chính trị CS là mong manh và dễ sụp đổ nhất.

Ngày 29 tháng ba vừa qua, nhân dịp mit-tinh kỷ niệm 30 năm ngày “giải phóng” thành phố Đà Nẵng. Ông bí thư Ủy thành phát biểu rằng: “Thành tựu mà đảng bộ và chính quyền thành phố đạt được trong ba mươi năm qua là được lòng dân…” CS mà được lòng dân thì chỉ có ông Bí thư này phát biểu. Đây là cái kiểu nói “cả vú lấp miệng em”. Có được lòng dân hay không thì phải hỏi dân, chứ làm sao ông ta có thể chủ quan nói được? Ông ta cũng biết rằng; ý dân là ý trời, cho nên cần phải nói chặn ngọn trước. Đây là đòn chính trị áp đảo, để người dân khỏi phải mất công suy nghĩ là CS đã cho họ được những gì trong ba mươi năm qua ?

Thượng bất chính, hạ tắc loạn. “Chính” ở đây, không chỉ là tính chính trực của tầng lớp lãnh đạo, mà còn là sự chính nghĩa của chế độ và tính đúng đắn của hệ thống chính trị. Xã hội Việt Nam hiện nay bầy hầy, nhếch nhác và hỗn loạn là do cái sự bất minh, bất chính ở thượng tầng...

Cuộc chiến tranh Việt Nam đã kết thúc nhưng sự hòa hợp, hòa giải vẫn chưa thấy. Một dân tộc không có hòa hợp, thì dân tộc đó không thể đồng tâm nhất trí để xây dựng đất nước. Hà Nội không có một giải pháp chính trị cho những xung đột trong quá khứ. Họ chỉ muốn giải quyết nhanh chóng mọi xung đột bằng biện pháp bạo lực, do đó mâu thuẩn ngày càng chồng chất và kéo dài đến ngày nay.

CS tự vỗ ngực rằng; họ đã giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, non sông đã thu về một mối… Không ai nhận thấy sai lầm là họ đã thống nhất đất nước bằng biện pháp quân sự. Không có một giải pháp chính trị, Hà Nội đã tạo nên một lực lượng chống đối từ nơi khác, không phải trong lãnh thổ VN mà từ hải ngoại. Đối với lực lượng này, họ còn khó đối phó và giải quyết hơn là chính phủ miền Nam trước đây.

Những ngày cuối tháng tư năm 1975, nhiều người hy vọng một giải pháp chính trị cho miền Nam. Nhưng CS miền Bắc đang ở thế thắng trận thì ngu gì họ tìm kiếm hòa bình? Ngay cả Pháp và Trung quốc cũng muốn tìm một giải pháp chính trị cho Đông Dương vào thời điểm đó, nhưng làm sao mà có được?

Khi những giá trị về tự do, dân chủ và công bằng được Hà Nội sử dụng như những trò lừa bịp trắng trợn, thì lòng tin của dân chúng đã bị tổn thương một cách nghiêm trọng.

Hơn lúc nào hết, những người yêu nước VN phải ý thức được thân phận của dân tộc mình. Sự bất mãn của dân chúng đã lên đến tột đỉnh, và sự thối rữa của xã hội đã đến mức rã rời. Do vậy, cần phải có một lực lượng chính trị để hướng dẫn sự phản kháng của dân chúng thành những hành động có mục đích, tập trung lực lượng, và cuối cùng là giật bỏ “cái mặt nạ CS”.

Trong hoàn cảnh hiện nay, tầng lớp CS chóp bu có chấp nhận một giải pháp chính trị hay không, là tùy họ. Nhưng sự ra đời của các chính đảng đối lập là tất yếu; bởi vì các lực lượng này không chỉ giải quyết những vấn đề của xã hội Việt Nam hôm nay, mà còn giải quyết những khúc mắc do lịch sử để lại.

Lịch sử đã cho chúng ta một số phận, không có sự chọn lựa nào khác; một số phận vinh quang và tuyệt đẹp.

Việt Nam ngày 19/05/2005.


____________________________________________________


NĂM GÃY GÁNH…
   

NĂM GÃY GÁNH…

Nguyen Hai Son/Nguyen Hoang Long

“Mã đề, Dương cước anh hùng tận
Thân, Dậu niên lai kiến thái bình.
”

Khi còn là một thanh niên ỷ mình sức dài vai rộng, gánh một bó lúa thật to. Đòn gánh yếu quá chịu không nổi và cuối cùng gãy làm hai. Sau này thấy ai gánh nặng, nhiều người nhắc nhở rằng: Coi chừng gãy gánh! Những cuộc hôn nhân không hạnh phúc phải chia lìa, bà con ta nói rằng: Gãy gánh giữa đường.

Báo cáo tại Quốc hội về nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 2005, ông Phan Văn Khải đưa ra con số tăng trưởng kinh tế năm 2005 là = hoặc > 8.5%. Ông ta nói rằng: trong những năm qua, nền kinh tế tăng trưởng không đạt yêu cầu. Do vậy, năm này phải gánh cho 4 năm thì mới hoàn thành kế hoạch năm năm và như thế mới thực hiện được nghị quyết Đại hội lần IX của Đảng đề ra.

Một năm gánh cho mình không nổi, huống hồ gì gánh cho bốn năm. Tham vọng như vậy là gánh cả cái di họa CS.

Liền sau đó, ngày 05/12/ 2004, theo chỉ thị của Ban bí thư; bà Trương Mỹ Hoa thay mặt Hội đồng thi đua khen thưởng Nhà nước tổ chức một cuộc họp bất thường tại TP.HCM. Tiêu điểm của cuộc họp nhằm quán triệt tinh thần thi đua với quyết tâm hoàn thành kế hoạch đề ra. Mục tiêu kinh tế là con số 8.5%, và mục tiêu chính trị là năm có nhiều ngày lễ lớn. Thời gian thi đua là từ ngày phát động phong trào cho đến cuối năm 2005. Nhiều ông Phó chủ tịch kiêm trưởng Ban thi đua của các Tỉnh, Thành đã đặt bút ký vào sổ vàng cam kết… Như vậy là cuộc đua đã bắt đầu!

Xin nhắc lại rằng; Hội đồng thi đua Khen thưởng là nơi đánh trống gõ dùi, hối thúc các phong trào thi đua; và sau đó sẽ họp hành liên miên để tổng kết, phát giấy khen bằng khen. Một việc làm mang tính hình thức và khoa sáo hơn là ra sức làm việc.

Nhìn vào những sự kiện trên, chúng ta thấy nền kinh tế VN vẫn mang nặng tính tập trung quan liêu. Trước khi tiến hành công việc, người ta đặt trước chỉ tiêu, làm lễ hạ quyết tâm; rồi sau đó mới bắt tay làm việc. Đến khi làm không nổi thì sinh ra báo cáo láo. Hậu quả, nhiều công trình chỉ có nền móng với những đống bê tông và cột thép đâm tua tủa dang giữa trời từ năm này qua năm khác. Những công trình chào mừng lễ hội thì thi công cẩu thả, làm bừa làm ẩu, ăn cắp vật tư; sau khi khánh thành là bắt đầu lún nứt… Đây là căn nguyên của bệnh thành tích không thể nào chữa được. Ở nước ngoài, hình như, không có cái chỉ tiêu này mà chỉ có dự báo. Ví dụ, dự báo tăng trưởng kinh tế của Singapore năm 2004 là 4.8% ...

Thế giới đang thay đổi từng ngày, làm sao có thể lập kế hoạch cụ thể được, trong khi bản thân lại quá cứng nhắc trong cách giải quyết vấn đề. Những mệnh lệnh từ trên đưa xuống chỉ áp dụng được trong nền kinh tế chỉ huy, còn khi đã bước vào nền kinh tế thị trường thì những mệnh lệnh ở trên chỉ trói buộc sức sáng tạo bên dưới và làm kìm hãm sự phát triển xã hội mà thôi.

Nhìn vào những tham vọng của CS, chúng ta có thể nói rằng, Hà Nội đang lên dây cót nhằm tháo gỡ những bế tắc hiện nay. Họ đã chích doping chăng? Trong lịch sử Đảng CSVN, năm 2005 là năm khá đặc biệt. Một năm có quá nhiều sự kiện, nỗ lực, sự dồn nén; những tham vọng cần đạt được cũng như những rủi ro không thể tránh khỏi.

Năm 2005 là năm quên mình đi để sống cùng thiên hạ.

Năm 2005, CSVN đứng trước áp lực phải thay đổi, áp lực này phát sinh trong quá trình hội nhập. Cứ mỗi bước tiến ra bên ngoài đảng phải tự thay đổi mình. Mục tiêu mà đảng đề ra là cuối năm 2005 phải gia nhập WTO. Điều kiện đầu tiên để gia nhập WTO là phải đàm phán với các quốc gia khác để sửa đổi luật lệ và chính sách cho phù hợp với quyền lợi đa bên.

Xã hội CS là một xã hội khép kín, giống như xã hội Bắc Triều tiên hiện nay. Người dân sống trong xã hội đó không được biết những gì đang xãy ra “bên ngoài”. Bên ngoài ở đây là bên ngoài môi trường họ đang sống và những điều mà họ cần phải biết; chứ không nhất thiết là thế giới bên ngoài, nước ngoài. Khi một xã hội đi từ khép kín đến cởi mở, người dân trong nước cũng thay đổi tầm nhận thức của mình. Một điều thực tế là xã hội VN đã cởi mở, dễ chịu hơn cách đây mười năm; nhưng để theo kịp các nước xung quanh thì VN cần phải cởi mở nhiều hơn nữa và cần một thời gian nữa. Trong bối cảnh các nước trong khu vực đã tiến một bước rất dài thì VN còn đi chập chững, trong hoàn cảnh thế giới đang thay đổi như vũ bão thì VN vẫn cứ chậm chân. Tính bất cập và chần chừ của VN là do tại cơ chế.

Một điều dễ nhận thấy là những lực cản trong quá trình thay đổi không nằm ở bên ngoài mà nằm chính bên trong nội bộ đảng. CSVN vẫn còn lấy mục tiêu CNXH để định hướng phát triển đất nước, cho nên họ sẽ rất khó khăn khi phải hội nhập với thế giới bên ngoài. Cứ mỗi bước đi, họ ngoảnh lại nhìn xem mình có bị chệch hướng không? Đi như vậy thì làm sao đi nhanh được? Những quan điểm cố hữu của CNXH về phương thức sản xuất và đấu tranh giai cấp sẽ cản trở các mục tiêu của kinh tế thị trường. Chưa nói đến chuyện CSVN vẫn còn xem Mỹ và phương Tây là những kẻ thù luôn tìm cách chống phá họ.

CSVN gia nhập WTO trong thế bị động và chậm chạp, đến nổi các nhà thương lượng phải nhắc nhở là VN phải “nhanh chân” hơn nữa; nếu không sẽ mất cơ hội. Nhưng chính phủ và các doanh nghiệp nhà nước vẫn cứ thủng thẳng, trù trừ. Họ đã tiên liệu được những khó khăn, yếu kém khi phải bước vào sân chơi mới, do vậy không một quan chức nào muốn cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.

VN phải gia nhập WTO trong một thế chẳng đặng đừng. Vì quen thói xin-cho nên họ không muốn thay đổi lề thói cũ đã ăn sâu vào tim óc của họ. WTO là một cuộc chơi sòng phẳng, ai cũng bình đẳng trong cuộc chơi này. Nếu anh muốn thọt tay vào túi người khác thì cũng để cho người khác thọt tay vào túi của anh. Ai nhanh tay hơn, giỏi giang hơn sẽ lấy được nhiều. VN gia nhập WTO sau Trung Quốc, cho nên sẽ bất lợi hơn trong việc cạnh tranh với hàng hóa của TQ trên thị trường thế giới, cũng như thương mại song phương qua biên giới hai nước.

Để gia nhập WTO, người ta tính rằng phải sửa đổi cả hàng trăm bộ luật và nghị định để phù hợp với luật pháp quốc tế. Đây là một công việc mà những người làm luật của VN biết chắc là không thể cáng đáng nổi.

Luật pháp là cái xương sống của các thể chế chính trị. Dân chúng dựa vào luật pháp để sinh sống, làm việc và cạnh tranh buôn bán… Trước đây, Đảng là luật pháp, luật pháp là Đảng. Đảng cho ai hạnh phúc thì người đó hạnh phúc; đảng muốn ai đau khổ thì người đó phải đau khổ. Hôm nay, đảng đứng trước một lựa chọn là hội nhập hay tiếp tục tụt hậu. Đảng chọn con đường hội nhập, khác với con đường của Cộng sản Bắc Triều tiên đang đi. Muốn vậy, Đảng phải hối hả làm luật để thiên hạ còn đến làm ăn với VN. Nhờ vào quá trình hội nhập mà luật pháp được cải thiện và công dân VN sẽ được bảo vệ và xét xử theo luật pháp quốc tế, chứ không phải theo luật pháp của Đảng.

Đưa cuộc sống vào luật là trách nhiệm của những nhà làm luật. Nhưng Quốc hội VN còn phôi thai, và cách làm luật của VN thì nhiêu khê. Khi bàn về Luật điện lực mấy ổng cãi nhau là thời gian nông dân phải trả tiền điện cho Công ty điện lực là ba tháng hay sáu tháng? Chuyện này có vẻ rảnh! Sử dụng điện là hợp đồng dân sự giữa nông dân và Sở điện lực, cứ để cho họ tự dàn xếp với nhau chứ mắc mớ gì mấy ông phải can thiệp. Nếu nông dân không trả tiền theo đúng thời hạn hợp đồng thì sẽ bị cắt điện, còn nếu căng thẳng quá thì đưa nhau ra tòa phán xử. Mấy ông lo cho dân cái kiểu này chỉ có bắt chẹt nông dân mà thôi. Năm nào mất mùa không trả được tiền điện, chắc nông dân phải chạy ra thành phố trốn nợ? Dân lo cho mấy ông tiền bạc ra thủ đô làm luật là để dân nhờ, chứ không phải gây thêm khó khăn cho dân.

Nhìn vào cách làm luật của VN là biết ngay là cách làm của những tay a-ma-tơ. Mỗi đại biểu Quốc hội phải ôm đồm nhiều việc, vừa là Chủ tịch Ủy ban vừa là Phó bí thư, nay lại kiêm thêm đại biểu quốc hội. Một năm hai mùa, đến hẹn lại lên, xách cặp ra thủ đô làm luật. Vừa không chuyên lại thiếu kiến thức tổng quát; vừa đứng trên vai trò của chính quyền để làm luật. Do đó, luật lệ không được người dân ủng hộ, không sát thực tế và không áp dụng được. Hậu quả, nhiều bộ luật đã sửa đổi nhiều lần và hôm nay còn tiếp tục sửa đổi.

Đưa luật vào cuộc sống là công việc của chính phủ; nhưng bộ máy nhà nước hiện nay quá cồng kềnh, yếu kém và hư hỏng. Hãy nghe ông Khải phát biểu như khóc, tại hội nghị Tổng kết tư pháp toàn quốc năm 2004: “Nhiều người nói với tôi có vụ trưởng, vụ phó nhận công văn giấy tờ đút vào hộc tủ cả tuần chả xem. Chuyên viên nhận được giấy tờ có khi “bỏ quên”, thiếu trách nhiệm…” Với một bộ máy gồm những con người tắc trách và chây lười như vậy, làm sao họ có thể hội nhập thành công với thế giới bên ngoài?

Một bộ máy bệ rạc nhưng lại có quá nhiều tham vọng. CS là những con người kiêu ngạo, thích vỗ ngực xưng tên. Yếu nhưng bao giờ cũng thích ra gió. Không biết ông Khải đang quản lý, điều hành bộ máy hay là bộ máy đang dẫn dắt, lôi kéo ông ta? Chưa bao giờ lãnh đạo CS lại lâm vào thế bế tắc như hiện nay.

CSVN chưa chuẩn bị xây dựng một nền kinh tế thị trường; họ không có lý thuyết về thời kỳ quá độ, thời kỳ muốn thoát ra khỏi nền kinh tế chỉ huy. Nếu thị trường là chiến trường thì cho đến hôm nay, họ vẫn chưa tìm ra một vị tổng tư lệnh để có thể dàn binh bố trận nhằm mang lại thắng lợi trong một cuộc chiến tranh thương mại với thế giới bên ngoài.

Kim ngạch xuất khẩu của VN năm qua đạt mức kỷ lục: 26 tỉ đô la. Giá trị xuất khẩu phần lớn nhờ vào việc tăng giá dầu thô trên thị trường thế giới và số mặt hàng xuất khẩu sang thị trường Mỹ gia tăng. Điều này nói lên rằng xuất khẩu VN chỉ dựa vào tài nguyên thiên nhiên và những sản phẩm có hàm lượng chất xám thấp. Do vậy rất dễ bị cạnh tranh và mất thị trường vào tay các nước có cùng mặt hàng xuất khẩu, nhất là Trung Quốc.

Khi bước vào sân chơi mới, điều khó khăn lớn nhất của CSVN là phải thích ứng với những thay đổi của thế giới. Trong môi trường này, không có sự can thiệp bằng thư tay hay lệnh miệng của quan chức Đảng. Cho nên có thể nói; WTO là công cụ hất đổ vai trò lãnh đạo của Đảng và trả lại quyền lợi chính đáng cho người dân VN. Gia nhập WTO là một lộ trình bước gần đến nền dân chủ thông qua con đường thương mại. Lộ trình này không nằm ngoài tính toán của những người dân chủ trong nước.

Năm 2005 là năm vừa bồng em, vừa xay lúa, vừa tổ chức hội hè…

Năm 2005 là một năm có quá nhiều sự kiện, lễ kỷ niệm đối với Đảng CSVN: Cách mạng tháng 8 thành công, 60 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa… Những sự kiện này phải được tổ chức linh đình, hoành tráng để dân chúng thấy được công trạng của đảng. Dù tốn kém mấy cũng phải làm cho ra trò.

Chính phủ chỉ đạo: năm 2005 là năm sắp xếp doanh nghiệp, tăng cường thanh tra tất cả một số bộ ngành và các công trình xây dựng trọng điểm. Mấy năm trước không chịu làm, năm nay nước đến chân mới nhảy. Khi các doanh nghiệp nhà nước, tổng công ty… biết mình sắp bị kiểm tra sẽ tìm cách đối phó, sửa lại giấy tờ hồ sơ. Họ đâu còn thời giờ mà tính chuyện làm ăn. Tâm lý ai cũng vậy; cứ nghe nói thanh tra, kiểm soát là phải dừng lại để xem xét lại mình. Lần này không phải thanh tra cho có, mà thanh tra để vào WTO.

Năm 2005 là năm đại hội các cấp để đến đầu năm 2006 là Đại hội Đảng lần X. Đây là thời gian phê bình, tranh công đổ tội, đấu đá tranh giành quyền lợi. Rồi còn phải thay đổi nhân sự, chạy chọt ghế giếc, phải xuống địa phương để tổ chức đại hội cơ sở … Nói chung, năm 2005 là năm có nhiều biến động về nhân sự từ địa phương cho đến trung ương. Xin nhắc lại nhân sự là yếu tố quyết định sự thành bại của mọi sự nghiệp. Không có một đội ngũ nhân sự vững vàng, giỏi về chuyên môn, thiếu khả năng đối phó với những bất trắc, CSVN chắc chắn sẽ thất bại trên con đường cải cách.

Cuối năm 2004, nợ xấu ngân hàng đã lên trên 20%. Nếu tập trung giải quyết nợ xấu không để phát sinh thêm thì ngân hàng phải thắt chặt tín dụng. Như vậy các doanh nghiệp sẽ khó khăn hơn khi vay tiền, điều này sẽ dẫn đến một hệ lụy là nền kinh tế bị trì trệ. Tiền bạc đang chôn trong đất, chôn trong các công trình không phát huy hiệu quả. Nghị định 181 về đất đai làm những công ty chạy quy hoạch, phân lô bán nền nhà chết ngắt. Tiền bạc đầu tư dàn trải, chỉ số lợi nhuận trên vốn thấp, sản xuất kém cạnh tranh, sự tăng giá cơ học của các sản phẩm chiến lược như điện, than, sắt thép… sẽ làm suy yếu nền kinh tế. Các bộ ngành vẫn cương quyết giữ thế độc quyền kinh doanh, hậu quả làm cho sản phẩm của nền kinh tế thiếu sức cạnh tranh trong hòan cảnh hội nhập.

Nhiều người đang nghi ngờ về tính hiệu quả trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng quốc doanh. Nhiều công ty kiểm toán cho rằng; nếu kiểm toán thì kết quả số dư trong ngân hàng sẽ là số âm. Đó là lý do giải thích tại sao các ngân hàng quốc doanh không muốn các công ty kiểm tóan nước ngoài vào làm việc và không muốn cổ phần hóa, mặc dù đã quá thời hạn mà chính phủ đặt ra.

Chính sách càng thắt chặt thì buôn bán càng khó khăn và kinh tế bị đình trệ. Khi một chính sách mới đời ra đời, người làm ăn khôn ngoan bao giờ cũng dừng lại để xem xét tình hình. Nhà đất đã đóng băng, nhiều tỉnh thành hạ giá đất thấp hơn giá thường giao dịch làm nhiều nhà đầu tư đất đai kẹt cứng. Bán không được mà giữ không xong, nhất là tiền bạc là của vay ngân hàng. Giá đất ở VN cao chót vót, giá ảo của một nhu cầu ảo trong một thị trường ảo. Những giá trị ảo này được những cái đầu tham nhũng đầy ảo tưởng thổi phồng lên.

Sự ổn định chính sách kinh tế vĩ mô là tiền đề cho sự ổn định xã hội. Nhưng chính sách CS thay đổi xoành xạch. Ngay cả cái chuyện hộ khẩu và cấp số nhà đã phức tạp và bất cập lắm rồi, huống chi là những vấn đề xã hội phức tạp khác.

Tình hình nội bộ rối ren như vậy nhưng ông Trời lại không thương. Hạn hán năm nay kéo dài trên diện rộng đã làm cho cuộc sống người nông dân trở nên khốn đốn. Từ năm ngoái đến đầu năm nay, Tây nguyên và Nam trung bộ hạn hán chưa từng có; rừng cà-phê cháy trụi, trâu bò chết khát… Mới cuối mùa mưa mà nước đã cạn; mọi năm, nếu có hạn phải ra hết tháng Giêng.

Miền Bắc, con sông Hồng cạn khô đáy, mực nước xuống thấp chưa từng xãy ra trong 60 năm qua. VN là nước nông nghiệp; cho nên khô hạn là đồng nghĩa với mất mùa, đói kém. Hậu quả là người nông dân phải rời bỏ ruộng vườn của mình để vào thành phố kiếm sống. Tình trạng nhếch nhác ở các đô thị sẽ gia tăng. VN sẽ đối phó ra sao với những vấn đề xã hội gay gắt do thiên nhiên gây ra?

Quy luật thiên nhiên là nắng hạn chừng nào thì mưa rào chừng đó. Cơn bão Damrey đã đổ bộ vào các tỉnh duyên hải Bắc bộ, gây vỡ đê ngập lụt. Mặc dầu thiệt hại về nhân mạng không đáng kể, nhưng những thiệt hại sau bão là rất lớn. Hàng ngàn héc-ta ruộng lúa bị ngập mặn, hàng trăm héc-ta nuôi trồng bị mất trắng, tài sản của người nông dân trong phút chốc đã bị dòng nước cuốn phăng… Khó khăn nhất là đồng bằng Bắc bộ đã bị mặn hóa; một diện tích lớn lúa, hoa màu không thể canh tác trở lại.

Thiên tai thật là khủng khiếp, nhưng thiên tai không đáng sợ bằng nhân tai. Hàng ngàn hộ nông dân ở Nghệ An trồng lúa lai nhưng khi lúa trổ thì bông trắng phau như những bông lau. Bởi vì các quan chức nông nghiệp ở địa phương đã lừa nông dân để bán lúa giống dỏm.

Giá dầu thế giới tăng, giá xăng trong nước tăng thêm 1000 đồng một lít, đây là lần thứ ba tăng giá nhiên liệu trong năm 2005. Giá nhiên liệu tăng sẽ ảnh hưởng đến giá cả và đời sống nhân dân, nhưng chính phủ VN lại tuyên truyền là giá nhiên liệu tăng không làm tăng giá hàng hóa. Đúng là duy ý chí. Các hãng vận tải không muốn làm mếch lòng chính quyền, cho nên không thông báo mà cứ im lặng tăng giá cước vận chuyển. Để bù vào chi phí vận chuyển, người đi buôn cần phải tăng giá hàng hóa, vì thế chính phủ muốn kiềm chế thì giá cả hàng hóa vẫn cứ tăng. Sự áp đặt chủ quan của tư duy quan liêu sẽ làm các quan chức CS khó quản lý giá cả trong một nền kinh tế thị trường thực sự.

Ngày 15 tháng 12 năm ngoái Tổng cục thống kê vội vã tuyên bố rằng; chỉ số tăng giá của năm 2004 là 9.5% (chỉ số tăng giá cũng có nghĩa là lạm phát). Không ai dám nói là lạm phát của VN năm 2004 đã vượt trên hai con số. Họ muốn chận đứng chỉ số tăng giá của năm 2004 ở đó, phần tăng giá tiếp theo sẽ được cộng dồn vào năm 2005. Như vậy, năm 2005 sẽ chịu đựng từ những món nợ xấu từ những năm trước cộng lại. Ở đây, không tính đến chuyện những con số thống kê của VN là không đáng tin cậy.

Bất cứ một nhà nước nào cũng đưa người làm công ăn lương vào bậc thang đi lên trong bảng thang lương của họ, nhưng với tình trạng lạm phát như hiện nay sẽ đưa họ vào bậc thang đi xuống. Và kết cục là loại bỏ những con người ở bậc thang cuối cùng. Đây là một tai họa cho xã hội. Những con người thất nghiệp biết đi đâu về đâu trong một chế độ bảo hiểm xã hội quan liêu và tham nhũng? Khi vị Bác sĩ làm công việc của Y tá thì đương nhiên người Y tá bị thất nghiệp, điều này đang xãy ra ở VN.

CSVN xây dựng nền kinh tế mang nặng tính hình thức và tuyên truyền hơn là hiệu quả.

Bài học đánh bắt xa bờ, bài học mía đường chưa học thuộc. Hôm nay, chính phủ VN lại cảnh báo lãng phí các công trình xây dựng sân bay, bến cảng tràn lan. Có hai bến cảng chỉ cách nhau 30 km! Các công trình đầu tư được chấp thuận không phải vì lợi ích kinh tế của quốc gia, của khu vực mà vì danh lợi cá nhân. “Danh” là vì địa phương khác có công trình thì ta cũng có. “Lợi” là vì có công trình là có tiền chia chác với nhau. Vì vậy mới có chuyện chạy dự án, chạy công trình… Ai đã nghe nói đến thành phố có tên là Nhơn Trạch chưa? Một thành phố nằm giữa hai nhánh sông Đồng Nai và Sài Gòn, một ốc đảo của tỉnh Đồng Nai, chưa có một chiếc cầu nào bắt qua nhưng vẫn gọi là thành phố. Người nông dân chỉ vào đám ruộng sình lầy nhiễm mặn của họ và nói đó là đất thành phố.

Ai đã đến thành phố mới này sẽ thầm khen trình độ lão luyện của “cò”. “Cò” ở VN thật là tuyệt vời. Trình độ những người làm công việc lốp-bi bên Mỹ còn thua xa “cò” ở VN. Cò ở trung ương biến một vùng đất hoang vu thành thành phố, cò địa phương lôi kéo bà con có tiền ở Hà nội, Sài gòn về bán đất ruộng. Ai đã lỡ mua đất Nhơn Trạch thì cứ việc “ngậm bồ hòn”.

Lực lượng lao động VN có tay nghề kém. Bệnh thành tích đã phá hủy kỹ năng lao động của họ. Theo dõi thao tác của một công nhân VN sẽ biết được trình độ của anh ta. Ra đường thấy quá nhiều chuyện lãng phí; chẳng hạn con bu-lông bắt ở những cột đèn đường còn dư thừa cả tấc, một con như vậy có thể làm được hai con. Tính cả nước hàng triệu con bù-lông là bao nhiêu tiền? Sự lãng phí nhiều khi xót cả ruột.

Lao động VN không được trang bị kiến thức về vệ sinh và an tòan lao động. Nhiều vụ tai nạn lao động thương tâm xãy ra làm tàn phế cả đời. Công nhân làm việc trong những môi trường nắng nóng, ô nhiễm, thiếu ánh sáng, thiếu trang bị… Tai nạn lao động ngày nào cũng được báo chí đưa tin.

Ngày 14 tháng 6 năm 2004, tại diễn đàn kinh tế tổ chức ở Hà Nội; phòng thương mại Hoa Kỳ bày tỏ quan điểm mạnh mẽ rằng; “Chúng tôi bày tỏ sự quan ngại trước tình hình thiếu minh bạch; trách nhiệm tài chính còn thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, luồng đầu tư nước ngoài hạn hẹp, thâm nhập thị trường yếu, sự trì trệ trong việc cấp phép. Tình trạng tham nhũng tràn lan trong mọi lãnh vực và cơ chế bất hợp lý cản trở đầu tư, hạn chế công ăn việc làm và kìm hãm tăng trưởng kinh tế…” Tình hình tồi tệ như vậy nhưng họ vẫn đề ra những mục tiêu cao ngất ngưỡng thì quả là phi lý. Ngay cả những chuyên gia kinh tế của Đảng cũng cho rằng; con số 8.5% là khó có thể thực hiện được.

Tham nhũng đã làm cho nguồn lực quốc gia bị cướp phá không thương tiếc và tài sản xã hội phân phối không công bằng. Do vậy người lao động dù có đổ mồ hôi cực nhọc cũng không thay đổi được cuộc sống của mình. Sự bất công xã hội đẻ ra sự phân hóa, ngược lại sự phân hóa làm tăng thêm bất công. Người giàu càng giàu thêm, người nghèo lại quá nghèo. Các khẩu hiệu công bằng của CNXH bị phá vỡ. Các chính sách để san bằng giàu – nghèo chưa ra đời. Việc đánh thuế trên những người có thu nhập cao và việc miễn giảm học phí cho học sinh nghèo không được thực hiện.

Năm 2005 là năm có nhiều ngày lễ lớn. Tục lệ của CS là lễ hội linh đình, tuyên dương công trạng, cờ xí rợp đường… Mùa lễ lạc nhưng cũng là mùa gieo cấy. Ăn bữa giỗ lỗ bữa cày. Vừa ăn chơi, vừa làm cật lực thì không phải là bản lĩnh của những người CS.

Năm gãy gánh.

Năm 2005 là năm bộc lộ rõ rệt những yếu kém và bất cập của CS, một phần là do hội nhập, phần khác là những sai trái dồn nén từ những năm trước. Vì quá chú trọng đến ổn định chính trị, chính quyền tự trói tay mình trong việc giải quyết những vấn đề nóng bỏng của xã hội. Ở một nước CS, những bất trắc xã hội cứ dồn nén lại, cho đến một ngày đổ xòa ra; cũng giống như cái mụt nhọt đã đến giai đoạn chín muồi, chỉ cần đụng nhẹ là bung mủ.

Năm 2005, CSVN có quá nhiều vấn đề. Vừa phải chấn chỉnh guồng máy, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước; vừa phải ra sức tuyên truyền để ổn định chính trị; vừa sửa đổi luật lệ và quy định để hội nhập. Một năm với quá nhiều tham vọng.

Sự yếu kém hiện nay của CSVN là ở hệ thống chính trị và nhân sự, chứ không phải ở luật lệ hay công nghệ. Thiếu con người chứ không phải thiếu kỹ thuật, thiếu đường lối chứ không phải thiếu biện pháp, thiếu phương pháp hành động chứ không phải thiếu tiền...

Nếu là một người biết cách tổ chức thì họ sẽ làm như thế này: Năm 2005 là năm tranh tra kiểm toán toàn bộ các bộ ngành-công ty, sắp xếp lại đội ngũ nhân sự, cấu trúc lại bộ máy để đến tháng 2/2006 đại hội Đảng toàn quốc… và cuối năm 2006 là gia nhập WTO. Đằng này họ dồn “hằm bà lằng” hết vào năm này.

Trước khi ra trận, người chỉ huy phải huấn luyện quân đội, sắp xếp lại đội ngũ của mình; đằng này CSVN vừa chấn chỉnh đội hình vừa tiến quân. Trên đuờng hành quân, nhiều người bỏ hàng ngũ để “kiếm chác” theo kiểu riêng của họ. Những viên chức đảng đang ở trong tâm trạng bất an để thực hiện công việc của mình.

CSVN không thể dự báo những nguy cơ tiềm ẩn về mặt kinh tế, chính trị cũng như về an ninh, quốc phòng. Thế giới không ngừng thay đổi, bất cứ quốc gia nào cũng chịu nhiều áp lực phải đối phó với những vấn đề chưa từng xãy ra trong quá khứ. Cách đây hơn ba năm, không một ai nghĩ rằng khủng bố có thế tấn công nước Mỹ; nhưng hiện nay, khủng bố được đưa vào chương trình nghị sự của các quốc gia và ngân sách dành cho chống khủng bố không phải là nhỏ.

Thế giới đang đứng trước những sự kiện làm chi phối cảm xúc và thay đổi hành vi của chúng ta. Những quốc gia dự báo tốt, chuẩn bị tốt có thể đối phó được với những bất trắc; còn ngược lại họ sẽ trở thành nạn nhân của những cuộc khủng hoảng.

Con người là nhân tố quyết định của công cuộc. Con người CS chủ quan duy ý chí, không nhận thức được mình và thế giới xung quanh? Họ không bao giờ chịu nghe ý kiến đóng góp của người khác. Nếu ai đó nói một điều thực tế gây bất lợi cho họ thì họ bỏ tù ngay tức khắc, mà không cần phải xem xét. CSVN vẫn không chịu thay đổi tư duy trước một thế giới hội nhập; đó là bản chất cố hữu của họ, bản chất này sẽ cản trở sự phát triển.

Lâu nay, CSVN cứ chằm hăm là làm thế nào để bảo vệ được sinh mệnh của Đảng mà quên mất là Đảng đang mất dần sức sống và đang bị bao vây tứ phía. Có quá nhiều lực lượng vô hình (intangible forces) làm “chảy máu” Đảng. Lực lượng này đang nằm trong chính nội bộ của họ. Mấy ngày hôm nay, ông Trần Đức Lương lên gân cót rằng: cần phải xác định lập trường tư tưởng, kiên quyết chống lại các thế lực quốc tế câu kết với các lực lượng trong nước chống Đảng, nhà nước và nhân dân ta… Cái kiểu nói của ông ta làm cho người nghe có cảm giác bạo lực, lật đổ đang nằm ngay sau lưng họ rồi. Nhiều chuyện nhờ có Đảng nói nên mới biết, chứ đọc báo thì chẳng bao giờ thấy đề cập đến.

Quyền lực của CS đang nằm ở Bộ Chính trị (BCT) mà BCT là lãnh đạo tập thể. Nhiều thầy thối ma! Không ai có thể biết Bộ Chính trị họp vào lúc nào và bàn về những vấn đề gì? Một chính phủ thông minh là một chính phủ phải biết rằng; một mình họ không thể giải quyết được tất cả những vấn đề kinh tế- xã hội. Do vậy, chuyện dân chuyện nước, họp kín làm gì cho khổ. Họ họp kín là nhằm bảo vệ quyền lợi nội bộ của tập đoàn cai trị mà thôi.

Nếu đại hội lần thứ10 của Đảng tổ chức vào đầu năm sau, mục tiêu của Đảng là làm thế nào để dân chúng thấy được sự độc đảng nhưng cuộc sống của dân chúng vẫn tốt đẹp. Với mục tiêu như vậy thì mô hình Singapore là hợp lý nhất. Đảng sẽ định hướng đường lối của VN theo mô hình Singapore? Năm 1965, dưới ngọn cờ của Đảng nhân dân hành động (PAP), ông Lý Quang Diệu đã xây dựng Singapopre thành quốc gia hùng mạnh và bây giờ ông ta trao quyền lại cho con trai là Lý Hiển Long. Đảng thèm khát một thể chế chính trị tuyệt vời như vậy; vừa độc đảng, vừa nắm mọi quyền lực nhưng vẫn trở nên hùng cường… Có một dịp, ông Khải hỏi ông Gok Chok Tong, cựu thủ tướng Singapore, rằng: Liệu 15 năm nữa VN có bằng Singapore hôm nay không ? Ông Gok trả lời rằng: Cái này, còn tùy thuộc các ông! Nếu là tôi, tôi chỉ mĩm cười. Tôi cười cái thật thà của ông Khải!

Cuối năm ngoái, ông Khải nói chuyện không vui là nhiều cán bộ tham nhũng phải ra trước vành móng ngựa. Đầu năm nay, ông ta lại nói chuyện buồn là guồng máy tư pháp bê bết quá. Theo thuyết duy lý của người phương Đông là “quá tam ba bận”. Ba lần như vậy thì chắc chắn lần sau cũng như vậy, chẳng thể thay đổi được nữa.

Làm chính trị xin đừng để cảm xúc chi phối mình, đừng để tình cảm riêng tư biểu hiện qua sắc mặt mà hãy ra sức chăm lo công việc. Sai lầm của ông Khải là bộc lộ cái vui-cái buồn ra trước mặt quan chức địa phương. Lời than phiền của ông ta sẽ làm cho nhiều người bất an, bởi vì nhìn vào đâu cũng thấy thối rửa.

Trong trường hợp cấp dưới gây hậu quả không tốt cho bộ máy, người lãnh đạo không nên than phiền mà chỉ có cách chức. Than phiền thì được nỗi gì? Viên chức Đảng sai trái đang ngồi ở dưới, nhưng một chốc nữa thôi, sau buổi họp này, họ lại trở về với chính con người của họ: Vô trách nhiệm, gây khó khăn cho dân chúng, ăn hối lộ và cản trở hoạt động của guồng máy…

CS là những con người nói một đường, làm một nẻo. Họ nhân danh những điều cao cả và tốt đẹp chỉ là để che đậy những tham vọng cá nhân và trục lợi. Khi đương nhiệm họ vẽ vời tương lai với những điều tốt đẹp, khi về hưu họ kể về quá khứ với những điều trăn trở; còn ở thì hiện tại họ chẳng làm được gì; thậm chí lại là những tên bán nước hại dân. Hiện nay, quan chức CS coi sự sống-chết của họ mới là quan trọng, chứ bộ máy thì nghĩa lý gì. Ai có giỏi thì cải cách đi, còn họ đánh bài chuồn. Hệ thống CS thế giới còn sụp đổ thì sá gì cái bộ máy rệu rã của CS Việt Nam.

Việc xây dựng bộ máy nhân sự là điều kiện tiên quyết trong mọi công cuộc. Dù một quốc gia chỉ có 3 triệu dân hay là 1.3 tỷ dân, dù quốc gia đó thuộc thế giới thứ nhất hay thế giới thứ ba, dù cho đó là việc làm đường giao thông hay xây dựng hệ thống y tế… thì con người vẫn là nhân tố quyết định sự thành bại. Nếu không xây dựng được một bộ máy công chức tâm huyết, bản lĩnh và giỏi giang; quốc gia đó có nguy cơ thất bại. Sai lầm lớn nhất của CS là trên con đường tiến hóa; Đảng đã giam cầm, xua đuổi, bắn bỏ những người con VN ưu tú nhất mà chỉ giữ lại những thành phần bất hảo, phá hoại… CS đã xây dựng nên một xã hội mà những con người lương thiện không thể nào sống nổi.

Cách đây 60 năm là năm Ất Dậu, nhiều người lớn tuổi vẫn còn nhớ đến nạn chết đói kinh hoàng giết hại hơn một triệu người VN. Nhiều xác chết trên đường làng, bờ đê, bãi tha ma… những xác người ốm tong ốm teo, giơ xương má hóp, khô đét đen thui. Nhiều người giật mình, năm này cũng là năm Ất Dậu. Nhiều dấu hiệu cho thấy nội bộ của CS đã lủng củng lắm rồi; trên nói dưới không nghe, Dân kêu than Đảng làm ngơ, mạnh ai nấy làm, sống chết mặc bây tiền thầy bỏ túi… Đảng đang mất dần quyền lực và co cụm lại. Tình trạng vô chính phủ ngày càng trở nên trầm trọng.

Năm 2005 là năm mà bản chất thối nát của chế độ CS bộc lộ rõ nhất; một năm mà những sai lầm, yếu kém, mâu thuẩn, khó khăn, bất lực không thể che đậy; và cũng là năm mà CS không thể chịu đựng nổi áp lực phải thay đổi. Các quan chức Đảng thờ ơ mệt mỏi, tâm lý bất an, hàng ngũ tơi bời… nhưng gồng gánh, tham vọng cho nhiều thì chỉ có nước gãy gánh mà thôi!

Sài Gòn ngày 30/09/2005


____________________________________________________

This Site has been designed for 800x600 resolution and Macromedia Flash Player 5. ________________________________________________________________________________ 

 
 Â© 2005 All Rights Reserved.
 

 

 

Create a free website at Webs.com