ĐẢNG DÂN CHỦ NHÂN DÂN
  ĐẢNG DÂN CHỦ NHÂN DÂN 

  

    

 
 

Home | Tuyen Ngon | Dieu Le & Hoat Dong | Tai Lieu | Tham Khao | NguyenHoangLong | HuynhVietLang | TranHoangLe | TranNam | Dien Thu | DienThu 62 | English | Online Update | CLBDCVN | FreeCongDo


 
Dân chủ và Quyền lực Đa nguyên
   

Dân chủ và Quyền lực Đa nguyên

Huỳnh Việt Lang - ĐDCND

"Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân;
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
"
Nguyễn Trãi

Dân là đối tượng trực tiếp và cao nhất của chính trị. Bạo quyền luôn cần phải chế phạt. Trước khi các tư tưởng về nhân quyền và nhân quyền được khẳng định trên thế giới, tư tưởng yên dân là nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đã được khẳng định trong sử sách nước ta. Dân chủ là một nhu cầu tự nhiên và tự thân của con người, không hề là sản phẩm ngoại nhập. Dân chủ không đối kháng với quyền lực, dân chủ khiến quyền lực đuợc thực thi dân chủ hơn.

Quốc gia lấy quốc dân làm gốc là một chân lý đúng ở mọi nơi và mọi thời đại. Một nhà nước trưởng thành về chính trị không bao giờ xem quần chúng là những trẻ con ấu trĩ về chính trị ! Không lý gì, khi con người đang sống trong một thế giới đa văn minh, đa văn hoá, đa cực lại có thể chấp nhận một thể chế chính trị đơn cực cùng một tư duy chính trị nhất nguyên. Trong các chế độ dân chủ thực thụ, mọi người sinh ra đều hiển nhiên được hưởng các quyền dân chủ, bất kể trình độ dân trí của người đó đến mức nào.

Các hiểu biết về dân chủ đôi khi giống như cảnh ngắm đào nở ngày Tết. Thưởng đào phải lạnh, đốt lửa là tục. Càng lạnh càng hay, càng lạnh càng nhã. Việc này nhiều người quanh năm phất tay ra lệnh, mình khoác áo bông dày rất ư minh bạch. Chỉ có những kẻ suốt mùa ăn không no, mất nhà nên nằm vỉa hè – đương nhiên không thể hiểu được…

I. Trật tự hàng dọc

I.1. Quyền lực đảng trị

Dưới ách độc tài, sức mạnh chính phủ khá mờ nhạt trong thực tiễn xã hội. Các định chế có vẻ trung lập khác như hệ thống luật pháp, hệ thống giáo dục, tổ chức lao động… kể cả quốc hội cũng có số phận tương tự. Ở Việt Nam, thay vào đó là vị thế của một tập đoàn thống trị được mệnh danh là đảng cộng sản (ĐCS). Với tư cách là cơ sở ngoại vi của đảng, độ khả tín của các định chế này tỷ lệ nghịch với mức dính líu vào ĐCS. Mối liên kết trong xã hội được sắp xếp theo một trật tự hàng dọc, cùng người quản trò là ĐCS. Trật tự hàng dọc này đã cung cấp thứ đảng muốn chớ không phải thứ dân cần; cơ chế ấy chỉ biết đưa ra những biện pháp bảo vệ tập đoàn thống trị chớ không cung cấp được những viễn cảnh cho nhân dân vận động tiến lên. Trong trật tự hàng dọc này không hề có chỗ tồn tại cho hệ thống an sinh xã hội và chế độ phúc lợi. Các chính sách nhà nước bỏ mặc nỗi lo toan của các gia đình – viên gạch nền kết nên xã hội. Các công dân bị thải về nhà với tấm thân tàn ma dại, sau khi bị vắt kiệt sức lao động.

Các định chế trong chế độ đảng trị không hề đại diện cho khát vọng của nhân dân về quyền tự do và tự quản. Quyền lực đảng trị đã xóa nhòa vai trò quyết định của chính phủ và nhà nước. Quyền lực đảng trị tập trung vào một nhóm/tập đoàn người có quyền lợi không gắn liền với cả dân tộc. Luật pháp thiết lập cách khiên cưỡng, trật tự xã hội bị xáo trộn lên. Nhân dân đang chết dần trong cái trật tự khốn kiếp ấy. Nhu cầu về trật tự vốn có trong cuộc sống nhân dân bị cơ chế đảng trị chối bỏ. Trật tự yên bình cần có của xã hội bị phá nát bằng các mệnh lệnh hành chính thông qua trật tự hàng dọc này. Chế độ cộng sản Việt Nam giản lược công bằng xã hội trong lãnh vực kinh tế. Ý tưởng này dẫn đến quyết định cho các đảng viên cộng sản (CS) làm kinh tế tư nhân. Họ lờ đi điểm mấu chốt của công bằng xã hội nằm ngay trong thể chế chính trị, họ mặc nhiên trao thêm một đặc lợi vào tập đoàn công chức đã giữ lắm đặc quyền.

Bạo lực không thể thao túng được chân lý. Nhà nước độc tài đã xử dụng bạo lực chính quyền để bảo vệ quyền lực đảng trị. Hành động xử dụng quyền lực bằng bạo lực gây ra những hệ quả vô cùng nghiêm trọng, làm băng hoại đạo đức xã hội, cổ võ chủ trương bức hiếp những người thân cô thế yếu. Bạo lực đảng trị đã bóp méo quá trình vận động hài hòa của xã hội. Dẫu giải thích khiên cưỡng như thế nào cũng không xóa nhòa được bản chất tàn bạo của nó: các quyền lực xuất phát từ bạo lực là một hình thức căn bản thực hiện sự khống chế giữa con người với nhau.

I.2. Tư duy chính trị đơn cực

Trong tình hình hiện nay, đường lối thiết lập trật tự theo chiều dọc ngày trở nên phản động, chúng kìm hãm sự phát triển và hội nhập của xã hội. Với nỗ lực nhằm duy trì sức mạnh của ĐCS, chính quyền độc tài đã duy trì mô thức tư duy chính trị đơn cực. Quyền công dân của người Việt Nam không có gì khác so với công dân tất cả các nước trên thế giới; không thể viện dẫn những lý do hoàn cảnh như dân trí, kinh tế, ổn định xã hội… mà áp đặt đảng quyền. Chính tư duy chính trị đơn cực là cách thức mong muốn khắc sâu thái độ chấp nhận thụ động của dân chúng.

Nhận thức luận đơn cực chỉ phù hợp với các chế độ chuyên chế, bởi thỏa mãn được các ý nguyện của thiểu số thống trị với đa số bị trị. Lối tư duy này hoàn toàn không phù hợp với đà phát triển đa dạng và đa nguyên của xã hội, chặn đứng khả năng chọn lựa của cuộc sống. Dân chủ đã bị đảng quyền thủ tiêu. Mặt khác, chính nhận thức luận đơn cực về quyền lực đã gây phân hóa xã hội. Trật tự xã hội bị chẻ nát vụn ra bởi hệ thống quyền lực dọc – áp đặt từ trên xuống của đảng CS. Cơ chế đảng trị cố gắng xóa sạch vai trò của hệ thống quyền lực hàng ngang – các cam kết trong xã hội dân sự.

Nhà nước hiện nay bị đánh mất vai trò đại diện quốc dân, rũ bỏ trách nhiệm bảo vệ khung trật tự vốn có cho xã hội. Chức năng đầu tiên của một nhà nước là đảm bảo trật tự xã hội bị thay bằng các nỗ lực bảo vệ trật-tự-đảng-muốn. Nhà nước đảng trị đang vươn bàn tay sắt vào mọi ngóc ngách cuộc sống, hòng bóp chết hoàn toàn tự do. Nhân dân trong trật-tự-đảng-muốn không còn là đối tượng được phục vụ mà trở thành đám đông bị thống trị. Nhà nước độc tài đã đánh mất những giá trị đạo đức hợp pháp trong mắt nhân dân. Nhà nước này đã chối bỏ trách nhiệm của mình trong việc dẹp đi những chướng ngại về chính trị và kinh tế giới hạn khả năng tự do và bình đẳng về nhân phẩm con người. Các định chế được thiết lập nhằm biến con người thành công cụ phục vụ cho ý chỉ của đảng. Chính lối mòn tư duy đơn cực đã dẫn đến những tranh luận không đáng có về mặt pháp lý trong thời gian qua. Sự tôn trọng những quyền tự do cơ bản của công dân là nền tảng pháp lý trong việc tồn tại và phát triển một nhà nước. Hoàn toàn sai lầm nếu vận dụng theo hướng ngược lại: xử dụng hệ thống pháp lý của một nhà nước như công cụ chế tài/triệt hạ các quyền tự do của công dân.

I.3. Tư duy chính trị đơn cực và phong trào dân chủ

Tư duy chính trị đơn cực giam giữ tâm trạng con người trong tình huống thời chiến: nếu không phải bạn thì là kẻ thù. Kiểu suy nghĩ này cũng gây ra những nguy hại không kém ngay trong hàng ngũ những chiến sỹ dân chủ, bởi nó gạt phăng những cơ hội đối thoại cần có giữa những người cùng chiến tuyến chống độc tài. Thực tiễn sinh động mà chúng ta đang bước vào phức tạp hơn trước nhiều bởi khả năng tương tác lẫn nhau trong thế giới ấy. Xu hướng đơn cực sẽ chống lại chính nhận thức dân chủ về các giá trị, thậm chí cả các nguyên tắc dân chủ. Quán tính của chính trị nhất nguyên dẫn đến tình trạng tập trung hóa quyền lực cao độ - một biểu hiện của chuyên chế. Quan điểm đấu tranh bạo động làm triệt tiêu ý nghĩa của cuộc sống, biến những người dân chủ thành các giác sỹ liều mạng trên đấu trường chính trị; bởi mục tiêu phấn đấu không vượt ra khỏi cá nhân họ, lý tưởng tranh đấu chưa thoát khỏi ý thức chính trị của tập thể mà họ là thành viên. Nhà nước phi dân chủ luôn nuôi dưỡng nhận thức luận đơn cực như một phản xạ có điều kiện để thủ tiêu đấu tranh. Những tư duy đứng đắn không thể hùa theo, tung hô lẻo mép những chủ trương được nhai mớm cho từ bộ máy nhà nước toàn trị.

Lối tư duy chính trị đơn cực không còn là cái khung/mô hình (paradigm) tham chiếu chủ đạo trước những biến động thời cuộc ở xã hội Việt Nam. Những người dân chủ ái quốc cần thực hiện cách mạng ngay trong chính cách nghĩ của mình về thực tại. Thực sự dân chủ là một hệ thống tư tưởng có nhận thức luận và triết học bao quát hơn, phản ánh đúng được mô hình xã hội cần vươn tới, nhất là đối với các nước kém phát triển. Cách mạng dân chủ cần những thay đổi nhất định về tri thức và tư duy trong việc cảm nhận các khái niệm xã hội. Chẳng thể hy vọng được gì từ cơ chế gồm những quan chức chẳng do ai bầu lên ngoại trừ tập đoàn chính trị.

II. Quyền lực dưới nhãn quan dân chủ

“Đời sống xã hội được duy trì bằng sự công bằng”
Aristote

II.1. Cuộc cách mạng dịch chuyển quyền lực

Khái niệm tiếm quyền, chiếm quyền hay cướp quyền thuộc hệ tư duy một chiều kiểu quyết định luận; khái niệm này không phản ánh hết được thực tiễn đa chiều của cuộc sống. Trong các chế độ dân chủ, quyền lực được giám sát và chế tài bởi luật pháp - tức cơ chế pháp trị. Căn cứ vào thực tế phân bổ thiếu cân bằng về quyền lực, khái niệm quyền lực đơn cực được các chế độ độc tài khuyếch đại thành một lý thuyết kinh điển bảo thủ. Trong chế độ độc tài CS, thuần tuý chỉ tồn tại cơ chế đảng trị. Để biện hộ cho vai trò độc tài lố bịch của mình, ĐCS luôn hô hào về một luật pháp phân biệt giai cấp. Trong khi nguồn gốc thực chất của quyền lực là sự tập trung vào tay những ai có chiến lược khai thác tối đa các nguồn lực mà họ có.

Quyền lực là một hiện tượng cơ bản trong cuộc sống con người đã tạo nên xã hội. Hệ thống chính trị dân chủ không hề nảy sinh theo kiểu đương nhiên từ bất kỳ quy luật nào của lịch sử, càng không thể xuất phát từ ý chí của các tập đoàn thống trị tự bầu. Trong một thể chế dân chủ thực thụ, quyền lực chính khách thể hiện qua số lượng cử tri mà họ khả dĩ nắm được. Cách thức nắm quyền lực của các cán bộ thuộc chế độ độc tài có khác, họ không cần phiếu bầu; họ tự bầu cho mình bằng bạo lực. Do đó các quan chức này không màng đến sự ủng hộ của dân chúng. Tức nền tảng của thể chế toàn trị là một khoảng chân không, quan không cần dân và dân đừng hòng níu áo được quan. Không ít suy nghĩ cho rằng những vướng mắc, suy hoại trong thực tế chỉ là các trục trặc phải có trên bước đường phát triển; có thể sửa chữa, tu bổ thì vẫn có thể “tốt đẹp” lại như cũ. Đó là ảo tưởng. Đương nhiên là tương lai thì sẽ khác quá khứ, nhưng đây là một quá khứ không thể tiếp diễn, cần dứt khoát đoạn tuyệt. Hành trình đi đến tương lai của nước nhà là một tư duy của dân chủ đa nguyên – tư duy tạo cơ hội lựa chọn cho tất cả công dân trong quốc gia này.

Chủ trương đấu tranh bất bạo động với mục tiêu trao quyền về tay nhân dân không hề phù hợp với khái niệm quyền lực đơn cực. Đa nguyên là một thuộc tính nội hàm trong lý luận dân chủ, nên cũng thể hiện nhất quán trong quan niệm về quyền lực. Quyền lực không đơn giản chỉ có trong cơ cấu công quyền, quyền lực ẩn chứa trong mọi cơ chế từ nhóm đến tổ chức đang tồn tại trong xã hội. Chính khả năng tuyên truyền, kháng cự, phát triển sâu rộng trong nhân dân là chiến lược tăng cường quyền lực xã hội của các tổ chức đấu tranh dân chủ. Đến một hạn mức nhất định, hệ thống công lực sẽ thay đổi theo một kịch bản chuyển quyền. Quá trình chuyển đổi quyền lực sẽ công nhiên diễn ra trong xã hội, bất chấp ý chí bảo thủ của một thiểu số phản động nào đó. Chuyển đổi quyền lực của cách mạng dân chủ còn là một quá trình tái phân bổ quyền lực trong xã hội mà người thụ hưởng chính là nhân dân. Cách khác, cách mạng dịch chuyển quyền lực là một cơ hội vận động lớn giúp mọi công dân trong quốc gia tham gia tích cực hơn vào đời sống xã hội. Quá trình này tái xác lập chủ thể quyền lực, công dân là cơ sở nền tảng của mọi thiết chế quản lý xã hội.

Do không có diễn biến cướp/giành quyền nên tránh tối đa được tình trạng bạo động vô bổ. Tức ngoài các nguyên nhân nội tại, chế độ độc tài còn sụp đổ vì sự khống chế từng bước của dân chủ đối lập. Dưới nhãn quan dân chủ, bản chất của cuộc cạnh tranh chủ quyền quốc gia cần phải xác định: giữa những công dân trong một quốc gia không hề có một cuộc chém giết thuần tuý. Chỉ là quá trình kiên trì vận động bằng nhiều phương pháp, hình thức và nội dung khác nhau. Qua cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ của lực lượng yêu nước, cơ chế dân chủ sẽ từng bước được thiết lập trên lãnh thổ Việt Nam. Sẽ chẳng ngạc nhiên nếu đến một ngày nào đó, một nhà nước ngầm sẽ tồn tại song hành với nhà nước độc tài hiện nay.

II.2. Nhận thức dân chủ đa nguyên

Mọi sự vật hiện tượng không chỉ có hai mặt mà là nhiều mặt. Tư duy đa nguyên là một phần của nền văn hóa công dân trong xã hội dân chủ. Chỉ có tư duy đa nguyên mới dung nạp được hiện trạng có nhiều cách nhìn và quan điểm giải pháp khác nhau cho thực tiễn Việt Nam. Chỉ có nhà nước/đảng/chính thể nào đó độc tài – không hề có nhân dân độc tài. Tư duy đa nguyên cung cấp những thông tin cần thiết trong việc định vị các tập hợp dân chủ về tương quan lực lượng. Trong xã hội đa nguyên, chính phủ chỉ là một thành phần trong kết cấu xã hội bao gồm nhiều định chế khác nhau: các đảng phái, các hiệp hội, các đoàn thể nhân dân tự nguyện, các tổ chức phi chính phủ… Xã hội này sẽ dung nạp được phương thức dân chủ trực tiếp, góp phần chi phối hoạt động của bộ máy nhà nước, hạn chế hình thức dân chủ đại diện. Một khi bộ máy nhà nước hoạt động dưới áp lực của các định chế dân chủ trực tiếp thì quốc gia đẩy lùi được tình trạng nghèo đói, tham nhũng, bất công…

Trong cuộc đấu tranh dân chủ hiện nay, xác định vị thế của lực lượng dân chủ đang và cần ở đâu trong thời cuộc quốc gia là một vấn đề quan trọng. Chúng ta không thể sa đà trong mê trận tư duy đơn cực. Với nhận thức luận dân chủ đa nguyên, quyền lực gắn liền với các giá trị con người. Không có con người vô giá trị, chỉ có những cá nhân thiếu cảm nhận về giá trị bản thân. Nhận thức luận đa nguyên là phương tiện cần thiết để tiếp cận các hoạt động ủng hộ dân chủ. Tiến trình phổ cập tri thức dân chủ sẽ là công cụ hữu hiệu có thể đập tan được chế độ chuyên chế cách bất bạo động. Đa nguyên là đặc tính khẳng định căn bản nhất của nền dân chủ đại chúng.

Thực chất của thể chế dân chủ đa nguyên không phải lúc nào cũng hiệu quả, nhưng đây là biện pháp tốt nhất ngăn chặn được tình trạng lạm quyền và độc tài trong đời sống xã hội. Chỉ có nhận thức dân chủ đa nguyên mới có khả năng huy động được đa số nhân dân để xây dựng hiện tại, sáng tạo trong tương lai; tiến hành được cuộc cách mạng dân chủ toàn dân, toàn diện. Nhận thức dân chủ đa nguyên giúp lực lượng dân chủ sáng tạo ra cơ hội khắc phục thực tiễn, chớ không đơn giản là thụ động đối phó thực tiễn.

II.3. Một nền độc tài đang hấp hối

Chất lượng cuộc sống phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố; kinh tế cùng với môi trường, an ninh, giáo dục… chỉ là một trong các thành tố cấu thành nên chất lượng ấy. Sự phát triển đảm bảo tính bền vững chất lượng cuộc sống bao hàm cả yếu tố chính trị. Giữa đường lối con người quản lý nhau - hệ thống chính trị và tạo ra của cải - hệ thống kinh tế không hòa hợp thì sẽ dẫn đến một tất yếu: hệ thống này sẽ triệt tiêu hệ thống kia. Những gì đang diễn ra tại Việt Nam hôm nay không phải là cuộc đấu đá chính trị giữa cánh hữu với cánh tả, giữa bảo thủ và cấp tiến… mà là một cách mạng quốc gia giữa đa số nhân dân ủng hộ dân chủ và thiểu số cầm quyền độc tài. Việc giản lược các nhu cầu xã hội là hành động võ đoán. Không có một mô hình quyền lực cân bằng nếu không bắt nguồn từ những cơ chế cân bằng quyền lực. Hệ thống độc tài sẽ sụp đổ vì không tiêu thụ nổi quan điểm cân bằng quyền lực, dẫu chỉ ở mức khái niệm. Bằng quy định điều 4 trong Hiến pháp, cơ cấu đảng trị cộng sản đã ngang nhiên tước bỏ chủ quyền của quốc gia. Đại đa số công dân Việt Nam bị đẩy ra rìa những quyết định của một nhà nước đơn thuần, tất cả lệ thuộc vào những suy nghĩ được ban phát từ bộ chính trị đảng cộng sản. Mớ hổ lốn duy vật Marxist được bao biện thành một thứ chân lý dở hơi. Thực tiễn đã cho thấy rằng, một nền kinh tế thị trường không thể khớp với mô hình dân chủ tập trung. Thể chế đảng trị là một biểu hiện thiếu sự sòng phẳng về chính trị (political accountibility) .

Trên lý thuyết, chế định tập trung dân chủ của nhà nước độc tài hiện nay là hình thức dân chủ siêu đại diện. Nền dân chủ thực thụ không dung nạp được các phó bản như: dân chủ điều khiển, dân chủ siêu đại diện… Một khi công lý không còn được tôn trọng, tình trạng bất an sẽ lan tràn không ngừng trong xã hội. Do đó, không có gì quá khoa trương khi cho rằng: chế độ cộng sản độc tài Việt Nam đang hấp hối. Ý chí của chính quyền và nguyện vọng nhân dân đã lệch pha trong tiến trình phát triển ở VN, nguy cơ bị sa lầy về chính trị ngày trở nên lớn đối với chế độ độc tài VN.

Đa nguyên trở thành một đòi hỏi cấp thiết của chính trường Việt Nam. Trong cuộc đấu tranh này, lực lượng dân chủ đã nắm được chính nghĩa, song phần cần được thể hiện nhiều hơn, chính là tín nghĩa. Các thông điệp phát lên lời kêu gọi ủng hộ dân chủ, thực tiễn Việt lại đòi hỏi hơn vậy: mọi công dân Việt hãy có những hành động dân chủ thiết thực hơn. Trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, tri thức là biến số khả dĩ nhất làm thay đổi cán cân quyền lực chính trị trong xã hội, hoàn toàn phù hợp với cách thức đấu tranh bất bạo động của xu hướng dân chủ hóa Việt Nam. Cội nguồn của quyền lực từ tri thức có tính cách dân chủ hơn cả. Dùng quyền lực tri thức đấu tranh cùng bạo lực chính trị có thể giúp những kẻ yếu đuối, nghèo hèn đều có thể nắm lấy cái quyền mà mình vốn có.

Phụ lục:

Quốc hội VN – Ngôi mộ gió của nền dân chủ

Liệu Quốc hội – “Cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất”, kể cả một nhà nước có thể làm được gì một khi bị đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của một đảng ?! Một Quốc hội (QH) thiếu văn hóa nghị trường. Tình hình dân chủ trong QH VN như hàng trăm, hàng ngàn nấm đất trên bãi tha ma dọc theo bờ biển nước ta, không có hài cốt người bên dưới, người đời gọi là mộ gió. QH hiện nay là ngôi mộ gió của nền dân chủ nước ta. Bão phản kháng bất công trào lên trong sóng mắt nhân dân. Chưa bao giờ các quyền hạn công dân bị xem thường như hiện nay. Các cuộc họp QH vừa qua là các vở hài kịch nực cười nhất trên thế giới chinh trị thế kỷ XXI này, bởi các bộ trưởng đều do Bộ Chính trị quản lý – các bộ trưởng có quyền muốn trả lời sao cũng đặng – vì cả QH chợ trời kia cũng không thể cách chức được họ. Báo chí nhà nước lại nhao nhao lên đặt vấn đề trách nhiệm. Ngộ nhỡ nếu có một tuyên bố: chẳng ai phải chịu trách nhiệm - thì làm gì được nhau ?!

1.
Cơ cấu của QH hiện nay có số đại biểu chuyên trách chưa đến 25%, phần còn lại là kiêm nhiệm. Đã kiêm nhiệm tất vi phạm tình trạng xung đột lợi ích. Trong cấu trúc đại biểu QH hiện nay, đa số họ là quan chức thuộc bộ máy nhà nước đại diện cho lợi ích của cơ quan hành pháp - họ không có thời gian đại diện cho quyền lợi cử tri. Có thể nói trắng phớ ra: đây là một QH có đa số đại biểu hoạt động theo kiểu nghiệp dư ! Cuộc họp QH vừa qua phản ánh tương đối đủ về cách thức hoạt động của nền chính trị VN. Ngoài việc đưa ra những nguyên tắc, nội dung chung chung mà muốn thực hiện như thế nào lại là quyền của cơ quan hành pháp qua các nghị định, thông tư hướng dẫn; QH chưa thực hiện đúng chức năng của một định chế lập pháp. Có thể xác định rằng, có đến 75% số đại biểu của QH hiện nay đang ở tình trạng thiếu tư cách dân cử ở mức nghiêm trọng: vi hiến. Bởi trong hiến pháp đương thời không hề có một dòng nào đề cập đến việc cho phép/quy chế đại biểu QH kiêm nhiệm các chức vụ công cử hay dân cử nào khác.

2.
Điều cực kỳ quan trọng cần đặt ra là QH hiện nay đang đại diện cho ai. Trong văn bản Luật tổ chức Quốc hội: các nhiệm vụ và quyền hạn của QH không đề cập đến chức năng đại diện cho nhân dân (1). Vậy QH là một đại hội đảng CS mở rộng do các thành viên thiếu tư cách dân cử nhóm họp. Chỗ họ ngồi không từ việc tự ứng cử mà từ đảng CS cầm quyền đề cử ra. Thực trạng này được chứng minh rõ nét qua tỷ lệ đảng viên CS trong QH: 89,75% (447/498) (2), trong khi số lượng đảng viên CS chỉ chiếm khoảng 4% trong tổng số cử tri cả nước. Ngay cả vị trí chủ tịch QH cũng không phải do QH đề cử mà là một ủy viên bộ chính trị được chỉ định. Lá phiếu bầu của công dân như chọn một bóng ma vì không mấy cử tri biết mặt đại biểu của mình. Cần phải thấy rằng, tất cả các bộ trưởng đều do ĐCS cử nên việc các bộ trưởng trả lời chất vấn quốc hội theo kiểu họ chỉ chịu trách nhiệm với đảng là điều dễ hiểu. Điểm gặp nhau giữa người chất vấn và người bị chất vấn là cả hai bên đều “băn khoăn, trăn trở và bức xúc”; cụm từ này một lần nữa vang vọng trong phát biểu từ chức của Thủ tướng Khải. Đặc điểm chung này xuất phát từ thành phần giống nhau: họ đều là đảng viên CS. Các đồng và cốt nhất loạt đổ lỗi cho cơ chế.

3.
Vậy cơ chế ở đây là gì ?! Thực ra, công tác tổ chức cán bộ không phải là “nguyên nhân của mọi nguyên nhân” như Thủ tướng Khải phát biểu trong diễn văn từ chức. Nguyên nhân chính của mọi sự thoái hóa đang diễn ra trong xã hội VN chính là cơ chế đảng cử và… đại biểu quốc hội - đảng viên bầu ! Cơ chế này không do bất cứ người dân nào viết ra – mà là từ các quan chức đảng. Một khi hoạt động bỏ phiếu bầu các công chức bị xem thường đến mức chỉ còn là một cuộc bỏ phiếu không chọn lựa thì không thể bàn đến sự tham gia của công dân vào việc tổ chức xã hội. Chế độ toàn trị gạt phắt đi các cuộc bầu cử công bằng, không tạo nên quyền kiểm soát và đối trọng về quyền lực. Quốc hội do một tập đoàn độc quyền lựa chọn không phải là quốc hội dân chủ.

Một trò hề nổi cộm trong kỳ họp quốc hội này là cách thức vận dụng thời gian. Trong đợt chất vấn vừa qua, yếu tố thiếu thời gian được vị chủ tịch QH đưa ra liên tục để ngắt các cuộc đối chất và gạt bỏ bớt số đại biểu đăng ký chất vấn. Để rồi cuối cùng, vị chủ tịch QH này tuyên bố: thời gian chất vấn hoàn thành trước kế hoạch… một buổi (3).

4.
Trong thời gian tới, các chương trình tranh đấu sẽ được tiến hành sát sườn hơn. Thúc đẩy tăng cường dân quyền và tác động đến cuộc bầu cử quốc hội năm 2007 sắp tới là một trong những mục tiêu hoạt động của lực lượng dân chủ Việt Nam.

Chính trị là một lãnh vực sinh hoạt nhân sự chớ không phải thuần tuý lý sự, đó là một trong những ranh giới đầu tiên phân biện giữa chính trị và triết học; do đó không nên đưa ra những sứ mệnh lịch sử, trách vụ quốc tế giao, kim chỉ nam ngoại lai … nào đó nhằm bao biện cho các chủ trương vô lý của một tập đoàn thống trị. Con đường dân chủ hóa đất nước chắc chắn không phải là một xa lộ cao tốc được vạch sẵn vào tương lai. Có những ổ gà, thậm chí ổ voi gây trắc trở, thậm chí làm sụp hầm những bánh xe dân chủ thiếu thận trọng.

Chính quyền hiện nay nên chấm dứt trò chơi trịch thượng kẻ cả. Lực lượng dân chủ VN tranh đấu với những thành phần khốn cùng, bị bóc lột và bạc đãi đến cùng cực trong xã hội Việt hôm nay. Những ai từng quặn thắt ruột gan cùng những nỗi đau đời sẽ hiểu được chân giá trị của tự do và dân chủ. Giữa nỗi đau thương trầm thống đồng bào mình, những người yêu chuộng dân chủ Việt cất lên tiếng nói lương tâm. Ngày mai, có thể nhiều người trong số họ sẽ bước vào những lao tù tăm tối, song họ vẫn quyết tâm đứng lên chống lại bạo quyền. Một trong những mục tiêu chúng ta muốn có là nền dân chủ đại chúng (mass democracy). Khả năng của mỗi cá nhân, cơ hội tham gia vào đời sống xã hội chỉ có thể nảy nở và phát triển trong nhận thức luận đa nguyên. Công bằng xã hội chính là công lý mà mọi công dân trong một quốc gia luôn phấn đấu để đạt được. Chính đa nguyên trong chính trị là con đường tốt nhất dẫn đến công bằng xã hội.

Nếu ngày mai không đến… thì hôm nay vẫn là một ngày cần thiết dành cho đấu tranh dân chủ tại Việt Nam.

Sài gòn, ngày 30/06/2006.

Nguồn tham khảo:

1/ Alvin Toffler (1990), Power Shift, NewYork. Có đọc thêm bản dịch của Khổng Đức - Thăng trầm quyền lực. NXbản Thanh niên – 2002.

Chú thích:

1/ Theo điều 2 của Luật số 30/2001/QH10 về tổ chức quốc hội ban hành ngày 25/12/2001, các nhiệm vụ và quyền hạn của QH bao gồm trong ba chức năng chính: 1/ chức năng lập pháp; 2/ chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; 3/ chức năng giám sát. Mới đây nhất, trong suốt hai bài phát biểu trước và sau khi nhậm chức, người chủ tịch QH mới là Nguyễn Phú Trọng đều không nhắc đến chức năng đại diện của QH.

2/ Theo bài “3 thách thức của Quốc hội” của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt, đăng trên báo Tuổi trẻ, bản điện tử ngày 08/01/2006. Riêng về tổng số đại biểu QH tính đến thời điểm tháng 06/2006 có thay đổi, theo trả lời của ông chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng với báo SGGP chiều ngày là: 493 người.

3/ Kế hoạch dự trù cho phiên chất vấn QH là sẽ diễn ra từ ngày 14 đến 17/06. Thực tế, diễn ra từ sáng ngày 14/6 đến trưa ngày 16/06. Chiều ngày 16/06, thủ tướng Phan Văn Khải đã cắt bỏ quy trình trả lời 14 câu hỏi chất vấn của QH, ông tự thay vào đó bằng phát biểu từ nhiệm.

 


____________________________________________________


Tình hình bất đồng chính kiến ở Việt Nam
   
Tình hình bất đồng chính kiến ở Việt Nam

Huỳnh Việt Lang – ĐDCND

“Đối đầu cùng một chế độ độc tài chuyên nghiệp không thể chỉ bằng một lực lượng cách mạng nghiệp dư. Việc chú tâm đào tạo lực lượng cán bộ dân chủ có kỹ năng cao là một mục tiêu sanh tử của các tập thể chính trị dân chủ hôm nay. Nếu trong kinh tế, một trong những vũ khí quyết định thành bại trong nền kinh tế cạnh tranh thế kỷ XXI là kỹ năng của lực lượng lao động thì trong chính trị, kỹ năng làm việc của các cán bộ đấu tranh chính trị sẽ quyết định sự thành bại của cách mạng dân chủ.”

Trong tình hình đất nước hiện nay, song song với việc kiện toàn hệ thống lý luận dân chủ, việc phát triển lý thuyết xây dựng tổ chức tranh đấu dân chủ cũng là một công tác quan trọng. Đấu tranh vì dân chủ là đấu tranh chính trị, đấu tranh chính trị về mặt hình thức là trước hết là đấu tranh tổ chức. Trong giới hạn bài viết này, người viết chỉ đề cập đến tình hình chung của xu hướng dân chủ trong nước; nhằm đảm bảo yếu tố an ninh, không đi sâu vào tình hình của bất cứ tập thể chính trị (đảng, câu lạc bộ, tập hợp) cụ thể nào trong nước.

Thực trạng sóng ngầm bên trong Việt Nam chưa bộc lộ hoàn toàn với cộng đồng hải ngoại, một phần do thông tin trao đổi giữa trong và ngoài nước chưa thực sự thông suốt. Bài học thực tế đã xác nhận: đa số nguyên nhân gây ra bại lộ tổ chức từ những năm 1980 đến nay, dẫn đến tình trạng nhân sự trong nước bị bắt hàng loạt thường xuất phát từ những mối liên hệ với người ngoài nước. Cộng đồng hải ngoại có vẻ đã chểnh mảng trong việc thanh lọc các tổ chức của mình. Kể từ sau vụ án gián điệp Đặng Mỹ Dung (Yung Krall) tháng 01/1978 do CIA cộng tác với FBI thực hiện, dẫn đến việc một trong những người điều phối mạng lưới điệp viên cộng sản ở Mỹ - đại sứ VN tại Liên Hiệp Quốc là Đinh Bá Thi bị trục xuất; khoảng thời gian còn lại là một tình trạng êm ả đáng sợ suốt gần 30 năm qua. Ðiệp viên cộng sản VN sang Mỹ trước 1975, ngay trong và sau 1975; sau đó là vào năm 1978 theo chủ trương cho người Tàu rời VN. Ðợt chuyển quân rầm rộ cuối cùng nhất nằm ngay trong chương trình ODP được thực hiện qua kế hoạch H. Phòng tuyến hải ngoại chống độc tài đã bị hở lưng trước mạng lưới tình báo cộng sản VN tại Tây Âu và Bắc Mỹ. Điều này khiến nhiều người trong nước khó tránh được ánh mắt nghi ngờ khi nhìn sang kia bờ Thái Bình dương. Các tập thể đấu tranh trong nước rất thận trọng trong việc liên lạc bên ngoài…

Từ vị trí của mình, mỗi người có quyền đặt vấn đề theo mỗi góc độ khác nhau. Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu phân tích tập hợp bất đồng chính kiến Việt Nam như là một tổ chức đối lập có nền tảng thể chế chung, tập trung quanh một hệ thống lý thuyết có lý luận chặt chẽ. Trong thực tế, những người yêu nước Việt Nam tìm đến dân chủ như một giải pháp tối ưu nhằm giải thoát tình trạng luôn bị áp chế tùy hoàn cảnh cá nhân, tập thể nhỏ và tầng lớp của mình. Xu hướng đấu tranh dân chủ trong nước là một hệ thống mở, có khả năng hòa nhập nhiều cơ chế hoạt động không rập khuôn nhau. Nương theo những quy phạm dẫn đạo (code of conduct) các đoàn thể vì lợi ích chung mà đối thoại để cùng hướng đến mục tiêu trước mắt: triệt hạ chế độ độc tài của đảng cộng sản. Hình thức đấu tranh võ trang đã rút lui vào quá khứ để thay thế vào đó là những phương thức đấu tranh cách mạng phi bạo lực.

Trong cuộc cách mạng dân chủ hiện nay, người chiến sĩ cách mạng không đợi chờ những ưu đãi từ cơ chế chính trị đương quyền mà là khả năng tự tạo ra lợi thế cạnh tranh, thuyết phục quần chúng ủng hộ cách mạng. Diễn biến chính trị hôm nay phụ thuộc phần lớn vào sức mạnh của trí tuệ. Hiện tượng hàng loạt nước Đông Nam Á và Á châu phát triển mãnh liệt nhờ vào nguồn lao động có kỹ năng giai đoạn cuối thế kỷ XX đã minh chứng cho nhận định này. Công nghệ thông tin đã rút ngắn được khoảng chênh lệch về tầm cỡ phát triển giữa Âu Mỹ và Á châu, chẳng riêng trong lĩnh vực kinh tế mà cả chính trị và công nghệ tiến hành cách mạng cũng vậy.

I. Những thiếu nữ đánh thanh la

Đầu tiên, ở Việt Nam không có nhiều lắm những “nhà bất đồng chính kiến” - chỉ có những người bất đồng chính kiến. Tự bản thân những người hoạt động dân chủ đều nằm lòng một điều tối hậu rằng: trong cuộc đấu tranh cùng nhân dân, họ sống trong lòng nhân dân vì bản thân họ cũng thường là một thường dân; họ xa lạ với những đại từ “nhà’ hay “lều”. Các chiến sĩ dân chủ ở vùng nông thôn là những người biết làm ruộng, biết quấn thuốc rê, xử dụng thành thạo các ngôn từ dân dã… còn những người vào thành phố thì biết đạp xích lô, từng làm cu-li khuân vác và chạy xe ôm… Tức họ thực sống cùng nhân dân nên những điều họ nói ra dễ trở nên lọt tai với đại đa số quần chúng. Hơn nữa, khái niệm “bất đồng chính kiến” thì nặng về tầm mức nhận thức và dễ thường nằm lại ở đâu đó trong tầng lớp trí thức – không phản ánh hết được phạm vi xuất thân và hoạt động thực tiễn của những người đấu tranh dân chủ Việt Nam hôm nay.

Thậm chí trên nhiều diễn đàn chính trị hiện nay, những người ái quốc trong nước đang chỉ làm công việc của một trạm phát tín hiệu: “Chúng tôi - những người yêu dân chủ đang có mặt” - hơn là cố công biểu diễn những ý tưởng cá nhân. Nhân dân đã nhận và chắc chắn sẽ hồi âm. Đó là một trong những thực tế hôm qua của chính người viết bài này. Những người bất đồng chính kiến hiện nay trong nước đều hiểu rõ các điều sau:

- Trước khi cùng toàn dân phất lên những hiệu kỳ vàng, đỏ hay cam…trong cuộc đại diễu hành trên toàn quốc, chính bản thân những người dân chủ xuất hiện công khai sẽ làm thay thế chức năng của những hiệu kỳ.

- Trừ một vài cá nhân có thể đếm được trên một bàn tay, tất cả những người yêu dân chủ trong nước hôm nay chưa hề được qua bất cứ một trường lớp đào tạo chính quy nào để trở thành chính khách. Hành trang bước vào phong trào của mọi người chẳng có gì ngoài một một lòng yêu nước nồng nàn và niềm tin sắt đá vào chính nghĩa dân chủ.

Để hiểu thêm về những người dân chủ đấu tranh trong nước, ta có thể viện dẫn một câu chuyện sau: Vào năm 1789, Quốc dân nghị hội Pháp đưa bản tuyên ngôn nhân quyền lên nhà vua. Điện Versailles vẫn mở yến tiệc linh đình, coi thường bản ý nguyện dân chúng. Mọi người thất vọng và căm phẫn. Nhà hùng biện Danton bước lên diễn đàn, thao thao bất tuyệt luận tội nhà vua. Ông ta nói chúng ta thiếu bánh ăn là vì nhà vua, hãy lôi nhà vua ra chợ thì anh em sẽ hết đói. Đám đông thính giả say sưa nghe Danton thuyết trình. Giữa lúc ấy có một thiếu nữ bước ra, vừa đánh thanh la vừa hô to: Hãy trả bánh ăn cho chúng tôi. Một số thiếu nữ khác ùa theo, đám đông rùng rùng cất bước. Người ta cho rằng, nếu hôm ấy không có người thiếu nữ Pháp đánh thanh la, lịch sử nhân loại sẽ không hề biết tới trên đời này có một bản tuyên ngôn đề cập đến nhân quyền. Bởi dân chúng hôm ấy có cuồng nhiệt đến đâu, rồi có lẽ cũng sẽ… giải tán, một khi nhà diễn thuyết Danton hạ đàn. Đa phần những hạt nhân dân chủ hôm nay gần hơn trong vai trò người thiếu nữ đánh thanh la, hơn là một nhà diễn thuyết hoàn hảo như Danton.

Do đó, chuyện thử đi điểm danh các lãnh tụ phong trào dân chủ ở Việt Nam là một công việc vô bổ. Những người nhiệt huyết tự đứng ra đảm đương các công tác quan trọng trong nhóm, họ hoạt động với tư cách là người dám chịu trách nhiệm nhiều hơn người khác, hơn là - với tư cách một thủ lĩnh nắm quyền. Những hạt nhân dân chủ này cảm nhận sự nóng lạnh của đời sống nhân dân ngay trên da thịt và bao tử của chính mình. Khả năng tiếp cận các phương cách hoạt động bài bản từ Đông Âu và Trung Á quá nhọc nhằn, sau khi vượt qua sau những kiểm duyệt khắc nghiệt của chế độ độc tài cộng sản. Khái niệm “một đa số thầm lặng” không còn chính xác trong xã hội Việt Nam hôm nay. Một đám đông im lặng, ít lên tiếng song chẳng phải vì vậy mà đồng bào ta không nghe, không đọc và không trăn trở. Thay vào đó, mạng lưới cảm tình viên chính là hệ thống thần kinh ghi nhận các biến đổi của xã hội, nhanh chóng phản hồi về trung tâm, trước khi tiếp nhận lại các biện pháp đối phó.

Cuối cùng đặc điểm chắc chắn để nhận diện những người đấu tranh dân chủ là họ thường có khả năng làm việc như một lực sĩ; bên cạnh khả năng cố gắng chu toàn việc chung, họ cũng có một gia đình với tất cả những nhu cầu cơm, áo, gạo, tiền như bao người dân bình thường khác.

II. Sự phân tán về nhân sự và tổ chức

Để có thể chống đỡ hữu hiệu những áp chế từ bên trên xuống, hàng ngày phải đương đầu với PA 25 (phụ trách an ninh văn hoá) và PC35 (cục phản gián), tình trạng phân tán của lực lượng phù hợp với sách lược chú trọng đẩy mạnh các hoạt động dân chủ cấp cơ sở. Trước cơ cấu tổ chức lực lượng công an – công cụ đàn áp của chế độ - có đến 70% là cảnh sát, đặc điểm phân mảnh về tổ chức của phong trào dân chủ đã tỏ ra thích ứng.

Việc trông mong vào động thái thay đổi bên trong các định chế nhà nước độc tài cộng sản dẫn đến khả năng mở rộng không gian chính trị, tính đến thời điểm bế mạc kỳ họp hội nghị trung ương lần thứ 12 của đảng cộng sản VN, là một thất vọng bất khả biện minh. Sự kiên nhẫn chịu đựng của nhân dân trước tệ quan liêu và tham nhũng của hệ thống công quyền đã đến những giới hạn cuối cùng. Phần việc còn lại là tính năng động của xã hội dân sự, với đầu tàu là lực lượng dân chủ trong nước. Phương cách đấu tranh hiện nay là biết lẫn vào trong nhân dân, chứ không phải là bước ra khỏi hàng ngũ để thực hiện vị thế lãnh đạo của mình. Chính lòng dân là chiến lũy, là pháo đài che chở tốt nhất cho các hoạt động cách mạng dân chủ. Nhờ sự ủng hộ của đồng bào và hồn thiêng sông núi, những nhân sự khả dĩ lãnh đạo quần chúng trong vụ nổi dậy mùa Hè thu 1997 ở Thái Bình và khu hữu ngạn sông Hồng, đêm 21 tháng 3 năm 2005 ngay trung tâm Sài gòn vẫn tồn tại trong vòng bí mật. Đây là những minh chứng về hoạt động liên kết giữa xu hướng dân chủ với xã hội dân sự Việt Nam.

Việc phân tích phong trào dân chủ đối lập trong nước hiện này cần được hiểu là một cơ chế đấu tranh, những quan điểm phân tích xuyên qua lăng kính một cơ chế chính trị trong mô hình xã hội nguyên chính trị ổn định chỉ khiến đẩy câu chuyện ngày càng đi xa khỏi thực chất hiện trạng nước ta. Từng bước tiến đến đấu tranh trực diện, các cơ sở được giao nhiều quyền chủ động. Bằng kỹ thuật nghịch đảo, một lãnh đạo an ninh cộng sản cao tay dư khả năng xác định được mục đích của một phong trào phản kháng trong xã hội. Nhưng để chặn đứng được quy trình phát động của cách mạng dân chủ thì chưa chắc sự đoàn kết của 13 ủy viên bộ chính trị cộng sản có thể giải quyết nổi. Đó là những gì đã diễn ra và chắc chắn không chỉ dừng lại ở Kyzgystan hôm qua. Chính hiện trạng đa nguyên của lực lượng dân chủ Việt Nam trong nước và hải ngoại đã đem lại lợi thế này. Khi chỗ đứng của công dân luôn bị đặt trong vị trí bất xứng trong mô hình nhà nước toàn trị thì để đối ứng, lực lượng dân chủ được xây dựng trên một cấu trúc phi tập trung là cần thiết.

Mặt khác, những gì đã diễn ra ở Đông Âu chưa chắc xảy ra ở Việt Nam, một khi thực trạng nước ta lại gần hơn với Trung Á. Tế nhị hơn, lực lượng dân chủ Trung quốc sau cơn chấn động Thiên An môn đã có những cái nhìn tham khảo sang Việt Nam (1). Trong trận chiến dân chủ hôm nay, cần có một cái nhìn khách quan về thời cuộc là một trong những yêu cầu tối hậu. Dân chủ Việt Nam sẽ thành công nếu chuyển tải được những bản sắc Việt Nam, mọi sự mô phỏng cứng nhắc đều ẩn tàng những nguy cơ tự sát. Hạ thấp trình độ của đối phương là đồng nghĩa khinh suất trong chiến lược, thất bại về chiến thuật, là có tội với nhân dân, chiến hữu.

III. Hoạt động xã hội của phong trào dân chủ

Liên tiếp từ cuối năm 1996 sang đầu năm 1997, công nhân Sài gòn đã phát động 8 cuộc đình công từ quy mô nhỏ (150 tài xế taxi Vina) đến mức độ lớn (800 công nhân xí nghiệp may Khánh Hội, 1.000 công nhân khu chế xuất Tân Thuận). Ngay trưởng phòng PA.15 vào thời gian này là đại tá Huỳnh Hạnh cũng nhận định: “Có sự chỉ đạo ngầm của nhóm kháng chiến cũ…”

Khái niệm “bất đồng chính kiến” ngày càng tỏ ra không còn thích ứng trước thực tế đấu tranh dân chủ ở Việt Nam. Bởi với những công việc mà các chiến sĩ dân chủ trong nước đã thực hiện được đến hôm nay, nếu gọi họ là những người “bất đồng chính kiến” e rằng không phản ánh hết được bình diện hoạt động trong xã hội của họ. Các hoạt động dân chủ trong nước không chỉ giới hạn trong việc đưa ra các kiến nghị, đề đạt trong lãnh vực chính trị; một khi những yêu cầu bảo vệ nhân quyền ngày trở nên cấp thiết hơn. Với thực chất thuần tuý là một tổ chức ngoại vi của chế độ, công đoàn nhà nước đã lẩn tránh vai trò đại diện cho người lao động thành thị. Trong các cuộc đình công, những thủ lãnh công nhân tự phát/tự giác đã khẳng định được vị trí của mình trong hàng ngũ những người dân chủ hoạt động không công khai. Tuy nhiên cũng cần khẳng định rằng, bên cạnh các hạt nhân phong trào, yếu tố dẫn đến thắng lợi trong các cuộc đình công chính là tinh thần quật cường của anh chị em công nhân. Những người lao động này đã đem nồi cơm của mình ra đối đầu với sự bất công, dũng cảm đứng lên vạch trần chính sách pháp lý vô đạo đức của nhà nước XHCN (2).

IV. Tình trạng ẩn danh, đa nguyên về quan điểm

Bản chất của cuộc đấu tranh dân chủ Việt Nam hôm nay là sự xung đột giữa thiểu số độc tài thống trị và đa số lầm than bị trị, mức độ đã dần chuyển đến ngưỡng một mất một còn. Trong lúc thời cơ hành động chưa chín muồi, phải bảo toàn lực lượng luôn là mục tiêu thiết thực được đề ra, việc xuất hiện công khai chưa phải là yêu cầu cấp bách. Công cuộc đấu tranh dân chủ nước nhà trong giai đoạn hiện nay chưa phát triển đến hình thức đấu tranh nghị trường, cho nên, tình trạng nhân sự cần ẩn danh hoạt động bí mật là hoàn toàn hợp lý. Sách lược bảo toàn lực lượng này thích ứng để đương đầu cùng một chế độ phi chính thống - hoàn toàn không do dân cử, điên cuồng bám giữ sự tồn tại bằng các bằng các phương tiện bạo lực (công an, mật vụ, lao tù). Trong bầu không khí chính trị khắc nghiệt đó, có quá ít chỗ cho việc tồn tại những quan điểm độc lập phi cộng sản, do đó việc phải bảo vệ sự tồn tại những chính kiến bất đồng bằng phương án đấu tranh ẩn danh là hoàn toàn hợp lý.

Quá trình tranh đấu cho dân chủ không hề giống việc nhìn cây sung, để ngày qua ngày há miệng đợi quả rụng mà là một quá trình làm việc cật lực nhiều năm tháng. Kết quả thành bại trong cuộc đối đầu công khai giữa lực lượng cách mạng dân chủ với nhà cầm quyền độc tài là dựa vào thực lực, hoàn toàn không giống một trận đấu võ mồm đầy hoang tưởng. Trong tình hình đặc thù Việt Nam hiện nay cũng cần xác định rằng, biểu tình không phải là hình thức đấu tranh ôn hòa thuần túy, chiến tranh biểu tình là một hình thức đấu tranh bạo lực chính trị. Khi cuộc chiến biểu tình đã phát động, lực lượng cách mạng đã chính thức chuyển sang đấu tranh công khai trực diện cùng nhà cầm quyền, lúc ấy, sẽ không có đất để lực lượng cách mạng rút lui hoặc thỏa hiệp.

Mặt khác, mục tiêu đấu tranh của dân chủ là xây dựng một xã hội đa nguyên về chính kiến. Do đó, hiện tượng xuất hiện các ý kiến khác nhau trong xu hướng chung dân chủ là một tất yếu. Chẳng có lý do gì cần phải nhân danh để xóa bỏ hay dập tắt sự dị biệt giữa các ý kiến, trừ phi muốn tạo một hình thức đoàn kết có tính mị dân hoặc cổ xúy cho một định chế độc tài mới.

Đang ở trong nước, người viết muốn đặt vấn đề từ góc độ này. Ở đây thuần tuý là một sự trao đổi, hòng mong qua đó, chúng ta rút ra những đóng góp nhất định cho phong trào chung. Tất nhiên, đối đầu cùng một chế độ độc tài chuyên nghiệp không thể chỉ bằng một lực lượng cách mạng nghiệp dư. Việc chú tâm đào tạo lực lượng cán bộ dân chủ có kỹ năng cao là một mục tiêu sanh tử của các tập thể chính trị dân chủ hôm nay. Nếu trong kinh tế, một trong những vũ khí quyết định thành bại trong nền kinh tế cạnh tranh thế kỷ XXI là kỹ năng của lực lượng lao động thì trong chính trị, kỹ năng làm việc của các cán bộ đấu tranh chính trị sẽ quyết định sự thành bại của cách mạng dân chủ.

Sài gòn, ngày 26/07/2005

(1) Nhà hoạt động dân chủ Vương Bính Chương (Wang Bingzhang) thường trú nhân Hoa Kỳ bị an ninh Trung quốc bắt trên lãnh thổ Việt Nam hồi tháng 07/2002, tòa Thẩm Quyến tuyên án tù chung thân. Theo BBC và RFA ngày 22/01 và 10/02/2003.
Riêng ở hải ngoại, mới đây nhất có lời kêu gọi của phong trào Cửu Bình (www.9binh.com) mời người Việt tự do tham gia tập hội ở Washington DC vào trưa ngày 22/07/2005, kỷ niệm 3 triệu người thoái đảng ở Trung quốc.

(2) Tính đến thời điểm tháng 06/2005, gần 100% các cuộc đình công đã và đang xảy ra đều vi phạm pháp luật nhà nước XHCN; toàn thể những người lao động tham gia đình công đều có nguy cơ bị sa thải hợp pháp, thậm chí bị truy tố trách nhiệm hình sự - nếu giới chủ căn cứ vào bộ Luật Lao động nhà nước XHCN ở các điều 173, 174 và 178.


Tài liệu tham khảo:

- “Political Change in Vietnam: in search of the middle class challenge to the state”, tạp chí Asian Survey, 2002. Của Martin Gainsborough.
- Tiểu luận “Ðiều kiện hình thành chính thể Dân Chủ tại Việt Nam”; “Quyền Vi Chính”, 2004 & 2005. Của Việt Bào Phạm Văn Bản.
- Tiểu luận “Thử phán đoán cho một lộ trình dân chủ hóa nước nhà”, tháng 03/2005. Của Vân Việt Hà.
- Tiểu luận “Dân chủ hóa Việt Nam - hiện thực và khả năng”, Mùa Xuân 2004. Của Lê Tùng Minh.
- “Tiểu luận số 1: Bảy hạn chế lớn của bất đồng chính kiến ở Việt Nam” tháng 07/2005. Của Lâm Yến.


____________________________________________________

This Site has been designed for 800x600 resolution and Macromedia Flash Player 5. ________________________________________________________________________________ 

 
 Â© 2005 All Rights Reserved.
 

 

 

Create a free website at Webs.com