CÓ NHỮNG MÙA XUÂN  

 Dư Thị Diễm Buồn

 

             

Mặt trời đã ngã về hướng tây, cơn nắng cuối mùa đông vẫn còn chập chờn trên cỏ cây hoa lá, và ngọn gió lành lạnh làm dùng mình nổi ốc khi quét lên da thịt. Nhưng cây cối ở vườn sau, ngỏ trước đã nhú mục để đâm chồi nẩy lộc khi tiết trời chớm vào mùa xuân. Mấy cây xoài năm nay trổ sớm đã có những trái non bằng đầu ngón chân, bằng đầu ngón tay lẫn lộn với bông màu vàng nghệ. Những chùm cam hồng mật đã mỡn da,  sai quằn nhánh, cây bưởi thanh trà, cây quít đường sau nhà có những chùm da cũng đã thẳng, có tái đổi màu xanh pha phơn phớt vàng. Cây quít ta ở trước cổng vào mới có trái chiếng, mặc dù mùa đầu nên quít không được nhiều trái, nhưng trái nào trái nấy lớn gần bằng cái chén ăn cơm, vỏ màu đỏ tươi, nõn nà phơi phới nổi trong những cành lá rậm rạp xanh biêng biếc.

-  Bình An đâu rồi cháu, chiều nay có đi lễ chùa với bà không?

Tiếng của bà nội từ trong nhà vọng ra. Con Bình An đang mê ngồi đánh búng hột me với mấy đứa nhỏ hàng xóm ở ngoài sân, nó vẫn không rời chỗ, mà lớn tiếng trả lời để cho bà nó nghe:

-  Dạ thưa bà có, mà chừng nào mới đi vậy bà?

Bà nội bước ra hàng hiên, gom mấy tào lá chuối xiêm phơi nắng cho dốt dốt để sáng sớm ngày mai bà cùng con dâu gói bánh tét trong dịp Tết, trước là cúng ông bà, sau con cháu có ăn trong những bữa cơm đoàn tựu gia đình, và cho chúng mỗi đứa vài đòn đem về. Bà lên tiếng bảo:

-  Vậy thì nghỉ chơi đi cháu, vào tắm rửa sạch sẽ rồi đi kẻo trời tối.

Con Bình An “dạ”, nhưng vẫn còn ngồi lì chờ cho hết bàn rồi mới chịu chạy vô nhà.

Lọt lòng mẹ có 3 tháng, Bình An được bà nội đem về quê ở làng Mỹ Đức Tây thuộc quận Cái Bè (Cái Bè sau chia ra làm hai quận, làng Mỹ Đức Tây thuộc về quận Giáo Đức), tỉnh Mỹ Tho chắt chiu nuôi dưỡng. Bởi cô vừa bị sanh thiếu tháng, mẹ cô lại nghe theo lời ông thầy bói ngồi dưới gốc cây bả đậu bên Giếng Nước (thành phố Mỹ Tho), đường ra bắc Rạch Miễu đưa về chợ Bến Tre coi và nói cho bà biết là hai mẹ con cô khắc tuổi với nhau phải sống xa, đến hết căn hạn mới tốt.

Nhờ thế mà Bình An mới có thời niên thiếu sống ở làng quê có cây lành trái ngọt, có dòng sông Mỹ Tây êm đềm chảy qua đến Ngã Ba Đình thì nhập vào sông Mỹ Đông cùng các nhánh sông khác chảy vào Cửu Long Giang đi ra biển Tân Thành. Nhứt là cô được ấp ủ bằng tình thương yêu cưng chiều của nội, và được sống an an bình bình ở vùng quê Nam có nghĩa, có tình suốt quãng đời thơ ấu.

Cho đến mùa hè năm đó, ba mẹ đem Bình An về sống chung với gia đình vì tựu trường cô vào học lớp 4 mà trường xã ở quê nội chỉ có từ lớp 1 đến lớp 3 thôi. Cô khóc ròng, dẫy dụa không chịu đi vì phải xa bà. Được bà nội dỗ dành cùng với lời hứa hẹn của cha mẹ là cứ vào những ngày lễ nghỉ, ngày Tết, hè không đi học, đều phải đưa cô về quê ở với bà nội.

Mấy anh chị của Bình An thường hay xéo xắc, nhiếc mắng, háy nguýt bảo cô em mình ngu dại. Họ nói ngày lễ, ngày Tết ở thành thị vui và sướng hơn trong làng xã ở quê nội nhiều, vì họ được đi coi chiếu bóng, đi thăm vườn bách thú… Bình An cũng không vừa, chẳng thèm trả lời anh chị mình mà liếc xéo lại họ. Rồi cô nghĩ thầm trong bụng: “Vui cái con khỉ khô á! Không biết gì hết trọi cũng nhiều chuyện! Chiếu bóng nói tiếng Tây, tiếng u, cao bồi, đâm chém, hun hít… dù có phụ đề Việt ngữ nhưng cũng dở òm chớ hay ho gì đó. Vậy mà cũng coi thiệt là uổng tiền, chớ có phải là phim Việt Nam đâu mà coi. Còn vườn thú có mấy con khỉ leo trèo, miệng khọt khẹt, ị đái tùm lum. Xí, vậy mà vui?”. Cô tự cho mình nghĩ đúng, đắc ý khoái chí cười tủm tỉm một mình.

Năm đó Bình An 10 tuổi, được mẹ dẫn vào ghi tên học lớp 4 ở trường Nữ Tiểu học Trưng Vương tại thành phố Mỹ Tho. Mặt tiền trường hướng về đường ông bà Nguyễn Trung Long. Sau lưng cách cái sân cỏ rộng và hàng rào dây kẻm gai là trường Trung hoc Bán Công Thiên Hộ Dương. Thời gain nầy ba của Bình An đang làm ở Tòa Hành Chánh tỉnh Định Tường. Trong bữa cơm chiều, ba của Bình An nói cho cả nhà nghe:

-   Tết năm nay nhà mình có mặt Bình An, vậy mẹ nó phải mua sắm thêm những món ăn Bình An ưa thích. Để nhà mình ăn mừng cái Tết cả nhà đoàn tựu.

          Mấy anh chị vui mừng reo lên. Vì những ngày Tết không phải đi học, sẽ được mặc quần áo mới, sẽ ăn được những món ngon, sẽ được tiền lì xì… Nên chị nầy đòi may quần áo đẹp, anh kia bảo mẹ nấu món ăn ngon. Riêng Bình An không nói gì, và cơm vào miệng chan nước mắt! Mẹ ngạc nhiên lính quýnh hỏi nhanh:

          -  Tại sao con khóc, chuyện gì mà con khóc vậy Bình An?

          Cô không trả lời lại khóc lớn tiếng hơn. Ba lấy làm lạ cũng hỏi vồn:

          -  Tại sao con khóc? Mấy chị anh ăn hiếp Bình An của ba hả? Hãy nói để ba đánh đòn chúng, nói đi con.

          Bình An vẫn còn tức tưởi, cô nói qua màng nước mắt:

          -  Con phải về quê nội ăn Tết, con muốn ăn Tết với bà!

          Mấy anh chị xì xò, trề môi, méo miệng chọc ghẹo. Ba cô hỏi:

          -  Con đã ăn Tết ở quê nội bao nhiêu năm rồi, năm nay ăn Tết với gia đình mới vui con à. Nhứt là ăn Tết ở thành phố…

          Cô nhìn ba cụt ngủn, cắt lời:

-  Con muốn về quê ăn Tết. Tết ở thành phố không vui chút nào hết!

          Thấy con vẫn một mực đòi về quê ăn Tết với mẹ mình, và ông cũng biết bà nhớ cháu lắm. Ba cô có ý nhượng bộ, ông dịu giọng hỏi:

-  Tết ở quê vui ra sao, con kể cho ba nghe, nếu thiệt vậy thì ba cho con về ăn Tết với nội.

Bình An quẹt vội nước mắt còn đọng trên má, tươi nét mặt:

-  Ba biết không? Mỗi năm từ rằm tháng chạp là con theo chú Út đi lẫy lá mai. Bà nội cho gĩa gạo, xay nếp chứa đầy lu, đầy hũ. Bà còn đặt bác Hai xóm trên tráng bánh tráng nhúng nước, bánh tráng dừa, bánh tráng ngọt. Quết bánh phồng nếp, bánh phồng khoai. Bà nhổ cải trồng ngoài liếp vô làm dưa. Sáng ngày 23 tháng chạp, bà nội hối nhắc thím Tư nấu chè, nấu xôi, hái trái cây tươi đợi đến nước lớn chiều cúng đưa ông Táo về Trời. Nhà nhà đều cúng, hương trầm, nhang, hoa quả, thức ăn theo gió phảng phất nồng nàn ấm cúng từ làng nầy qua làng khác. Những ngày cận Tết từ đầu làng đến cuối thôn mọi người quét dọn, sơn phết, trang hoàng nhà cửa từ trong ra ngoài sạch sẽ, vẻ vang, mát mắt. Miếu thờ ông Thổ Thần bên vàm rạch được thay giấy hồng đơn, vẽ chữ mới, cúng bánh trái mứt, trà, rượu. Trong nhà cái bếp, hỏa lò, nồi, cột nhà, lu, hũ, bàn, ghế, giường ngủ, cột nhà vv… mọi thứ đều được bà nội cho cắt giấy đỏ hình vuông dán lên hết để ăn Tết. Ngoài sân thì các cây mận, xoài, cam, quít, bưởi, ổi, dừa, cau… tất cả mỗi loại cũng dán giấy đỏ để ăn Tết như các đồ vật trong nhà. 

Bình An thao thao kể, trong khi các anh chị quên chọc ghẹo em, nhíu mày chu mỏ chú ý lắng nghe. Ba mẹ cô nhìn nhau gật gù cười chúm chím. Cô khua tay, mắt ngời sáng lấy giọng nói tiếp:

-  Ba mẹ biết không? Chú Tám khéo tay nên bà nội năm nào cũng bảo chú chưng hai dĩa lớn trái cây có: Cầu, dừa, đủ, xoài, dâu, rể, thơm. Bà luôn dặn những người trong nhà ngày tư ngày Tết phải giữ gìn lời nói bởi: “lời nói hông mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa long nhau” phải vui vẻ, ngọt ngào, có tình có nghĩa để từ đầu năm cho đến cuối năm được an lành, may mắn. Ở thôn quê người ta làm lạp xưởng, gói bì, gói nem, gói bánh tét bánh ích chớ không phải đặt mua như ở thị thành. Sáng 30 Tết bà nội kho thịt cá, nấu nhiều món ăn để cúng rước ông Táo, rước ông bà về ăn Tết với gia đình, cháu con. Tối đêm Giao thừa con theo nội đi hái lộc ở chùa rất đông người đến cầu phước, cầu an mong năm mới toàn gia được: tấn thời, tấn lộc, tấn bình an. Bên Công Giáo thì giáo dân đến giáo đường ở nhà thờ. Đúng giờ Giao thừa, tiếng chuông nhà thờ, trống, chiêng, đại hồng chung, tiếng mõ, chuông… rền vọng khắp chốn! Không gian trong giờ đón Giao thừa thiệt là thiêng liêng ấm cúng vô cùng đó ba mẹ.

Bình An cười mỉm chi khi thấy anh chị mình châm chú lắng tai nghe, cô kể tiếp:

-  Rồi từ mùng Một đến mùng Bốn Tết. Ôi! chu mẻ mẹt ơi, mọi nhà mỗi ngày cúng những món ăn ngon đặc biệt. Mồng Một cúng chay, nội làm gỏi cuốn chay, chả giò, đậu xào, canh chua mì căn kho xã ớt, đậu hủ chiên chua ngọt… Tất cả những món chay nội nấu cúng ăn ngon vô cùng. Mùng Hai cúng bánh hỏi, thịt heo quay nóng hổi da còn dòn khưu khứu và bánh bò đổ bằng đường cát trắng tinh. Cháo vịt luộc nước mắn gừng nè. Mùng Ba cúng gà xé phai trộn gỏi bắp chuối. Chưn gà để nguyên phơi khô ra Giêng nội nhờ ông Ba đoán quẻ ở làng bên coi nhà cửa, làm ăn, cây trái… trong năm có được tươi tốt không. Mùng Bốn cúng Tất. Tất cả các món ăn, cùng bánh kẹo được bày ra cúng.

Cô dừng lại, hỏi:

-  Ba mẹ và các anh chị có biết không? Ở thôn quê, những ngày Tết thôn dân đưa nhau đi thăm viếng cha mẹ, họ hàng đền ơn, đáp nghĩa. Họ cùng vui xuân trẩy hội, ở chùa, ở đình, hoặc ở nhà thờ, tùy theo tôn giáo của mỗi gia đình. Từng nhóm, từng nhóm trẻ, già, trai thanh, gái tú, áo quần mới đủ màu đủ sắc: hồng, xanh, đỏ, tím, vàng. Tóc chải vẻn vang, trâm cài lược giắt. Người nào mặt mày cũng tươi vui, hớn hỡ đi rải rác khắp các nẻo đường quê, có người chèo ghe, bơi xuồng trên sông, trên rạch… Gặp nhau ai nấy cũng vui vẻ hỏi chào, tay bắt mặt mừng, dáng điệu tao nhã, lời lẽ lịch thanh chúc lành chúc phúc cho nhau từ đầu năm đến cuối năm. Còn nhiều, còn nhiều lắm ba mẹ ơi… Con đã có những ngày xuân đẹp ở quê nội. Nếu ai có thời sống trong làng xã mới biết, mới hưởng được cái đậm đà thắm thiết của những ngày Tết Nguyên Đán ở quê hương. Và chỉ ở thôn quê mới có mùa xuân rõ rệt.

          Mùa Xuân năm nay, Bình An không còn bé nữa. Cô đã trở thành thiếu nữ xinh xắn, dễ thương ở lứa tuổi 18 đang học lớp Đệ Nhứt trường Trung học tỉnh. Cô biết tư lự nhìn trăng, biết ngắm sao, biết buồn mà không biết tại sao mình buồn. Có lúc ngồi suy tư một mình, cô thường hay hát nho nhỏ, hay ngâm nho nhỏ những khúc nhạc, những câu thơ tình…

          Trước ngày Tết Nguyên Đán năm 1968, Bình An về nhận việc ở thành phố Mỹ Tho. Ôi, đó là mùa xuân tang thương! Khi giặc tràn đến nơi nào thì nhà cửa cũng đổ nát, tan tành, thê lương. Nhứt là hai bên đường từ Ngã Ba Trung Lương chạy dài vào thành phố. Mấy ngày trước Tết nơi đây là những ngôi nhà khang trang, những ngôi biệt thự có sân trước vườn sau trồng hoa thơm, kiểng lạ, cây ăn trái, và những hàng quán bán buôn sầm uất dọc theo hai bên đường. Nhưng hôm nay, mới mùng Bốn Tết Mậu Thân, đó là ngày cúng Tất! Trước mắt cô tiêu điều, hắt hiu, thê lương, ảm đạm… Và cô còn nghe khen khét mùi cây cột cháy xém, mùi heo, gà, chó… gia súc bị chết cháy… Và biết đâu có thân thể con người bị cháy trong đống than hồng còn âm ỹ, lẫn lộn trong đống gạch vụn đâu đây! Nhớ đến, cô còn rùng mình sợ hãi tưởng chừng đã bỏ mạng trong những trận mưa pháo của giặc dập vào thành phố này mùng Hai Tết!

Sau những tràng pháo kích của giặc nả vào thành phố nổ long trời lỡ đất, rồi tiếng kêu la cầu cứu của những nạn nhân, hòa với tiếng khóc thảm thiết của thân nhân người mới chết. Trong trận thảm sát Tết Mậu Thân, giặc đã giết biết bao nhiêu vạn người từ Bến Hải đến Cà Mau! Gia đình Bình An đã chịu nỗi đau thương thảm sầu về cái tang chung đó. Con bà dì ruột của cô, là giáo sư Tâm và đứa con trai 2 tuổi cũng tử vong trong những trận pháo bừa của giặc!

          Bình An kết hôn vào mùa xuân năm 1969. Phu quân cô là anh chàng lính chiến miền xa thuộc Sư đoàn 21 Bộ Binh, có biệt danh là Sét Miền Tây tiền đồn của chàng trấn đóng mãi tận Cà Mau, miệt rừng U Minh Thượng, U Minh Hạ. Kể từ đó, cô mới biết mới thấu hiểu thế nào là nỗi nhớ thương của một chinh phụ lo sợ cho sự an nguy của chồng. Và sự trống trải quạnh hiu của gia đình trong những ngày xuân chồng xa vắng nhà!

Đầu năm 1970, Bình An sanh đứa con gái đầu lòng. Mùa hè đỏ lửa năm 1972, trong trận giải tỏa An Lộc chồng của Bình An bị thương, và giải ngũ vào Tết năm 1974.

Sau ngày Miền Nam bị giặc cưỡng chiếm, nước Việt Nam hoàn toàn rơi vào tay Cộng sản. Cùng chung số phận những quân, dân, cán, chánh của Việt Nam Cộng Hòa, chồng của Bình An cũng bị giặc đày vào tù, mà giặc đã đặt cho một cái tên hoa mỹ hay ho là “Học tập cải tạo”. Cô nghĩ rằng suốt cả cuộc đời còn lại của chồng, của những người cùng chung số phận bị giặc đọa đày. Khi vô tình nghe ai nhắc đến, hay bất chợt nhìn thấy mấy chữ “Học tập cải tạo” là tâm hồn họ sẽ nhức nhối, máu uất hận tràn dâng!

Gia đình của Bình An gồm có chồng và hai con (một gái, một trai), không đón, nhưng mùa xuân năm 1979 vẫn đến trên trại tỵ nạn Đông Nam Á Galang ở Nam Dương quần đảo. Gió xuân phơi phới thổi qua vùng hải đảo, nơi trại tỵ nạn có giáo đường trong nhà thờ vang vang lời cầu nguyện và tiếng thánh ca. Trong chùa có Phật đường, có tiếng mõ, câu kinh, có lời chân thành cầu nguyện quyện với trầm nhang hòa theo gió bay cao ngút trời xanh.

Ở trại có mấy chục ngàn người tỵ nạn, thì có bấy nhiêu nỗi thống khổ của kẻ bỏ nhà, bỏ nước lều chết vượt hiểm nguy trên biển cả để bôn đào.

Người mình là thế đó. Có tự do trong tay không biết giữ gìn, để mất rồi phải chạy đi tìm có khi bị mất cả tánh mạng!

Dân tỵ nạn ở hải đảo không chờ mà xuân vẫn đến. Họ đón xuân không có hoa cúc, hoa mai, không dưa hấu, không bánh tét, bánh ích, không dưa cải, dưa gía, cá kho… Trẻ con không quần áo mới, mặt chúng thao láo thèm thuồng bánh, kẹo, mứt, chuối ngào. Nhưng họ có tấm lòng!

          Chicago là thành phố của tiểu bang Illinois thuộc về miền Trung Tây nước Mỹ. Và nơi đây nổi tiếng là một trong những vùng về mùa đông lạnh nhứt nước nầy. Cái Tết đầu tiên gia đình Bình An được tiếp đón bằng một trận bão tuyết kéo dài cả tuần lể. Các trường học, chợ búa đều đóng cửa. Chánh phủ chở đến từng thùng thức ăn, từ đồ hộp, thịt thà, trái cây, rau cải… Để ở các ngã tư đường kêu gọi dân chúng đến lấy về ăn.

Nhớ lúc giặc tràn vào, Bình An bị mất việc, nhà thiếu ăn, thêm buồn rầu chồng bị cầm giam trong tù cải tạo, cộng vào đó bị dồn dập nắng gió, ốm đau, hãi hùng trên đường vượt biên bôn đào. Nỗi âu lo, sống thiếu thốn lây lất những tháng ngày ở trại tỵ nạn nơi hải đảo. Nên sau gần 6 năm trời gặp lại bà chị (đi du học trước ngày nước mất) ra đón ở phi trường. Hai chị em mừng tủi ôm nhau khóc sướt mướt. Câu đầu tiên của chị hỏi cô em gái Bình An của mình rằng:

          -  Bộ bên nhà khổ lắm hả? Sao trông mầy teo nhách và như con gà tử mị vậy? Mầy còn già hơn bà Sáu Lé gánh nước mướn trong xóm trước khi taorời nước.

          Chị của Bình An thật tình hỏi em! Bà Sáu Lé gánh nước 8, 9 năm về trước đã già cúp bình thiết, lưng khòm, ốm tanh ốm hôi mà chị em cô thường gọi lén bà là bà Sáu Teo Héo. Hôm nay nghe chị hỏi mình như vậy, làm cô nàng tủi thân vừa khóc rấm rức, vừa gật gật đầu trả lời chị:

-  Khổ, khổ lắm! Không khổ thì làm sao phải trốn chui trốn nhủi để lều chết bỏ nước mà ra đi cho đành?

          Thân hình Bình An đã ốm còi, ốm cộc như chị mình nói, mà gặp phải cơn bão tuyết có gió lạnh trừ 60, trừ 70 độ. Có hôm trời lạnh trừ 20, trừ 30 độ F, lò sưởi trong nhà chạy xầm xập 24/24 giờ. Eo ơi, vậy mà vẫn lạnh tái, lạnh tê.

 

XUÂN NƠI ĐÂY

 

Xuân nÖi Çây không mai vàng Çua nª

Không hoa Çào l¶ng lÅy dܧi n¡ng xuân

Không trÈ con m¥c áo qun rc r

Chåy tung tæng ÇÓt pháo, v‡ tay mØng

 

Xuân nÖi Çây không cây xanh n¡ng Ãm

Không áo dài tha thܧt gió xuân bay

Không nón bài thÖ, khæn nâu, y‰m th¡m

Không thoäng hÜÖng tØ nhng khóm hoa lài

 

Xuân nÖi Çây thi‰u cø già vi‰t liÍn

Thiếu trÀm nhang, bánh tét, bánh chÜng xanh

Thi‰u bÀu tr©i trong, bÀy chim én liŒn

Thi‰u cá thÎt kho, nem chä dÜa hành

 

Xuân nÖi Çây thi‰u thiêng liêng Ãm cúng

Thi‰u cây nêu, lá phܧng, trÓng lân mØng

Thi‰u cä nh»ng l©i chân thành chúc tøng

Thi‰u vÎ hÜÖng xuân th¡m thi‰t m¥n nÒng

 

Xuân nÖi Çây có rÜ®u ngon, bánh ng†t

Có thiŒp xuân chúc phúc, chúc an lành

Có mây xám giæng khung tr©i giá buÓt

Có hoa tuy‰t tr° ÇÀy cành long lanh

 

Xuân nÖi Çây có ti‰ng lòng nÙc nª

Ti‰ng thª dài trong héo h¡t nh§ thÜÖng

Có n‡i lòng cûa nh»ng ngÜ©i xa xÙ

ñón xuân vŠ hÒn th°n thÙc bâng khuâng

 

Dư Thị Diễm Buồn

(Trong thi Tập Một Thoáng Hương Xưa phát hành năm 1996)

 

Thời gian qua mau như cơn gió lốc! Nhớ mùa xuân năm nào Bình An còn là một cô bé tí teo đón xuân bên bà nội. Thuở dân miền Nam có đời sống ấm no, an cư lạc nghiệp, thanh bình thạnh trị dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Ngày đầu năm, cô được bà dẫn đi lễ chùa, cùng chúng bạn trong xóm chạy sau đoàn lân có ông Địa nhảy múa lưng tưng theo tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng chập chả tùng xèng, tùng xèng…

Bao nhiêu năm nay làm thân chùm gởi ở xứ người, dù không mong, nhưng mỗi năm xuân vẫn đến với Bình An. Tết năm nầy cô không còn đón xuân ở vùng trời hắt hiu lạnh giá Chicago nữa. Vì lý do sức khỏe của phu quân, gia đình cô đã dời về tạm cư ở vùng nắng ấm California. Nhưng Bình An cảm thấy tâm hồn mình luôn xót xa, nhớ thương thắt thẻo. Cô chợt nghe dư vang giọng ca réo rắc của ca sĩ thời đại văng vẳng đâu đây: “Nắng nơi đây vẫn là nắng ấm. Nhưng không sao bằng nắng ấm quê hương…”.

Mới đó mà Cộng Sản cai trị miền Nam, cả nước Việt Nam đã mấy mươi năm rồi, và người Việt lưu vong cũng đã có bấy nhiêu mùa xuân xa xứ!

Theo thời gian và vận nước nổi trôi, cô bé Bình An năm xưa bây giờ đã đổi thay. Cô đã đổi thay dáng vóc, sắc diện. Cô có nét nhăn trên vầng trán, mắt phải mang kính mỗi lần đọc sách hoặc nhìn xa, và sương đã pha màu tóc… Nhưng tình quê hương vẫn nung nấu, nỗi nhớ thương vẫn se thắt cõi lòng và đã bám theo cô suốt quãng đường lưu lạc.

Những mùa xuân xa xứ lần lượt trôi qua, vui ít, buồn nhiều. Tất cả, tất cả Bình An đã cất sâu vào trong ký ức. Cô mơ ước có một ngày quê hương tàn bóng giặc, màu cờ vàng ba sọc đỏ phấp phới rợp trời xanh dưới nắng xuân, cô sẽ về hưởng lại một mùa xuân dù có muộn màng. Ở nơi đây, cứ mỗi năm Tết đến xứ người lòng cô luôn vọng tưởng về phương trời cố quốc, mà nhớ, mà thương, mà thèm những mùa xuân thuở thiếu thời được hưởng những cái Tết ấm êm bên anh chị, cha mẹ, ông bà và xóm giềng. Dù ở quê hương cô năm xưa có nghèo tiền bạc nhưng giàu nghĩa, giàu nhân.

 

 California, cuối Đông 2006

Tệ xá Diễm Diễm Khánh An  

Dư Thị Diễm Buồn

 Nhạc đệm :    

Xuân Nơi Đây

Thơ DTDB- Võ Tá Hân phổ nhạc - Bảo Yến trình bày

 

(download)