
HUẾ HẠ HUYỀN
(bài số 1)
Mấy thập niên rồi anh ở mô!
Tây Âu, Bắc Mỹ hayTrung, Sô
Từ khi nước mất anh phiêu bạt
Chửa một lần về thăm Cố Đô
Nhớ Huế không anh mỗi độ hè!
Ve sầu điệp khúc giọng buồn thê
Khói sương Vĩ-Dạ mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có trọn thề
Và những ngày thu đẹp tuyệt vời
Sông Hương nước biếc lững lờ trôi
Thuyền trăng em gái buôn trăng hát :
Trăng bán, ai mua , hỏi chợ trời
Chẳng hẹn hò mà ta gặp nhau
Tưởng như gió thoảng nước qua cầu
Ngờ đâu cái phút ban đầu ấy
Là cả trăm thương vạn cổ sầu
Là để suốt đời sống mộng mơ
Tóc huyền trinh nữ dệt thành thơ
Nắng chiều âu yếm hôn đôi má
Chinh chiến người đi kẻ đợi chờ
Bỏ lại hoa tàn cánh bướm nghiêng
Hoàng thành lạnh lẽo bước chân tiên
Giang đầu ngư phủ buông câu đợi
Còn nhớ không anh Huế Hạ-Huyền?
Tôn Thất Xứng. Montreal, 06-11-2001
Bài họa
của Khiết Châu Nguyễn-Huy Hùng
TRĂNG TRÒN BẾN NGỰ
Mặt Thái Bình Dương sóng mấp mô,
Ánh trăng từng đợn gió dồn sô.
Buồm đơn nghiêng ngả thuyền phiêu bạt,
Lữ khách nhìn trời vọng Cố Đô.
Thuở ấy ra đi mới chớm hè,
Quê hương tang tóc sầu lê thê.
Chiến tranh khói lửa tràn sông núi,
Oan nghiệp sầu vương mái tóc thề.
Thầm trách Ông Xanh khéo vẽ vời,
Bầy chi giông tố cảnh bèo trôi.
Gió mây tan hợp tình dâu biển,
Cô quạnh buồn tênh, Trời hỡi Trời!
Bão, hạn, qua rồi lại gặp nhau,
Ánh trăng vằng vặc rọi tinh cầu.
Duyên nồng quyện gió tràn đất nước,
Nối lại tình thương giã biệt sầu.
Trăng lại tròn vo bao ước mơ,
Bên nhau lưu luyến gợi hồn thơ.
Hương yêu sưởi ấm hồng đôi má,
Khẩy cúc tình ca luống đợi chờ.
Bến Ngự mơ màng trăng chiếu nghiêng,
Lung linh sóng vỗ mạn thuyền tiên.
Hương tình ngào ngạt vương vương gió,
Thi tứ trào dâng ánh mắt huyền.
Khiết Châu Nguyễn-Huy Hùng,
California, Hoa Kỳ 24-10-2006.
HUẾ HẠ HUYỀN
(bài số 2)
Chẳng biết thu nầy anh ở mô!
Chao ôi! sao mãi nợ sông hồ
Mõi mòn em đợi chờ tin nhạn
Nhạn vẫn không về với Cố đô
Đã mấy mùa qua, mấy độ hè
Trời không mưa, Huế vẫn buồn thê
Đêm tàn Bến Ngự sầu cô quạnh
Nhớ thuở bên anh dưới nguyệt thề.
Trách cứ ông xanh khéo vẽ vời
Bày chi bèo giạt với mây trôi
Trăm năm một giấc hoàng lương mộng
Thương mãi anh đi, hận ngút trời .
Nhớ Hạ-huyền xưa ta gặp nhau
Đứng trên Bạch Hổ ngó chân cầu
Hương giang lấp lóe đèn ngư phủ
Nước chảy hoa trôi vạn lý sầu .
Dù biết đời như một thoáng mơ
Thời gian xóa trọn chuỗi ngày thơ
Anh như tráng sĩ qua sông Dịch
Em mãi đầy vơi lệ ngóng chờ .
Thôi hết cả rồi nón lá nghiêng
Trường-Tiền ngùi ngậm bước chân tiên
Bến đò Thừa-Phủ ngày đêm đợi
Còn nhớ không anh Huế Huế Hạ-Huyền?
Tôn Thất Xứng. MộngLệAn 2004-2005
Hạ-Huyền=mặt trăng khuyết nửa dưới như hình vòng cung
vào ngày 22 mỗi tháng âm lịch được gọi là trăng lưỡi liềm.
Bạch-Hổ = cầu Bạch-Hổ gần chợ Kim Long.
Bài họa của
Khiết Châu Nguyễn-Huy Hùng.
TÌNH NHÀ NỢ NƯỚC
Thất thế lưu vong biết tới mô!
Lang thang lặn lội khắp sông hồ.
Năm canh thao thức tìm phương án,
Dựng lại CỜ VÀNG giữa Cố Đô.
Năm tháng đẩy đưa mấy đận hè,
Ve sầu ra rả nhạc buồn thê.
Thâu đêm lữ khách lòng hiu quạnh,
Trăn trở nao nao những nguyện thề.
Tiếng quốc vang vang giọng réo vời,
Bốn Mùa tám Tiết lững lờ trôi,
Tình nhà nợ nước chưa đền trả,
Khắc khoải mình ta giữa đất trời.
Nhớ mãi thuở nào đứng cạnh nhau,
Bình minh rực rỡ ánh vồng cầu.
Thuyền tình nhẹ lướt sương mai phủ,
Nào biết vui qua tiếp lụy sầu.
Tóc bạc da mồi vẫn ước mơ,
Bên nhau họa tiếp những vần thơ.
Hân hoan hoá giải niềm tâm sự,
Hoà nhịp cung thương bõ lúc chờ.
Vận nước tới hồi VẸM(*) ngả nghiêng,
Khắp nơi bừng sáng khí Rồng Tiên.
Nghĩa quân diệt Quỷ giành quyền chủ,
Hạnh phúc tràn dâng ánh mắt huyền.
KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG
Nam California, Hoa Kỳ, 9 Nov. 2006
(*) VẸM là một tiếng lóng
nhân dân Việt Nam dùng thay cho từ ghép
Việt Minh (biệt danh của Việt Cộng thời 1945).
HUẾ HẠ HUYỀN
(bài số 3)
Đâu còn thỏ thẻ tiếng ni, mô
Tay nắm tay nhau dạo Tịnh..hồ
Suối tóc em đùa trăng nước biếc
Hương trinh ngào ngạt ngát thành đô .
Đâu còn cái thuở nắng trưa hè
Thượng-Tứ ve sầu khóc thảm thê
ĐiệnThái-Hòa nỉ non tiếng dế
Thương anh trót nguyện nước non thề
Từ khi chinh chiến phải xa vời
Hương, Ngự lạnh lùng mây nước trôi
Bến cũ Văn-Lâu em đứng đợi
Sao anh còn mãi bốn phương trời!
Như sông cách núi chẳng gần nhau
Vỡ mộng uyên ương, gẫy nhịp cầu
Cồn-Hến bốn bề trăng khuấy nước
Nhớ anh, em hận nước non sầu.
Thần-Kinh giờ chỉ sống trong mơ
Vọng-Cảnh ngậm ngùi dấu tuổi thơ
Buồn tiếng thông reo lăng Tự-Đức
Sương rơi như lệ cố nhân chờ.
Hận gió Thuận... đùa cau Vĩ... nghiêng
Trường-Tiền, đập-Đá vắng chân tiên
Tháng tư nước mất anh phiêu bạt
Còn nhớ không anh Huế Hạ-Huyền ! ./.
Tôn Thất Xứng. Montreal, 2004-2005
Tịnh hồ = Hồ Tịnh-Tâm trong thành nội, Huế
Thựơng-Tứ = cửa Thựơng Tứ từ thành nội ra phố trước bến Văn Lâu và bến đò Thừa Phủ
Điện Thái-Hòa = nơi vua ở và triều đình họp
Cồn-Hến = nằm trên con sông Hương ngó qua Đập Đá
Vọng cảnh = đồi Vọng Cảnh
Gió Thuận.... = gíó từ cửa Thuận An thổi về
cau Vĩ = vườn cau thôn Vĩ Dạ
Bài họa
của Khiết Châu Nguyễn-Huy Hùng.
HY VỌNG MÊNH MÔNG
Anh vẫn còn đây chửa mất mô!
Chửa quên thù hận sói lang Hồ.
Reo bao tang tóc quê hương Mẹ,
Bất hạnh tràn lan khắp thị đô.
Nhớ mãi Bẩy Lăm (1975) lúc chớm hè,
Lương dân vô tội chết thảm thê.
Cộng quân khát máu tràn sông núi,
Thất thế anh đi giữ vẹn thề.
Hồn thiêng non nước vẫn reo vời,
Vận bí phải đành phận nổi trôi.
Nhưng vẫn quyết lòng quang phục hận,
Bôn ba tạo thế bốn phương trời.
Cách mặt nhưng lòng đâu cách nhau,
Hằng đêm vẫn mộng đứng bên cầu.
Cùng em ngắm cảnh trăng trong nước,
Lai láng tình quê chẳng nhuốm sầu.
Vận hạn chỉ là một giấc mơ,
Giúp ta tôi luyện mối tình thơ.
Trau dồi kiến thức, xây công đức,
Biết chịu gian lao, học đợi chờ.
Bão giật cờ hồng rụng ngà nghiêng,
Quỷ ma quỳ phục gót chân tiên.
Nhân quyền, Dân chủ, Tự do nở,
Hy vọng mênh mông ánh mắt huyền.
KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG
Nam California, Hoa Kỳ, 11-11-2006.
Nhạc đệm :
Ai Ra Xứ Huế
Nhạc của Duy Khánh , Quang Lê và Ngọc Hạ trình bày
Vài Hình ảnh Huế

Huế : Sông Hương , cầu Tràng Tiền

Huế : Đại Nội

Lăng Cô dưới chân Đèo Hải Vân, hay Ải Vân Quan