Chào Mừng Bạn Đến Với Chuyên Mục Phần Mềm Và Các Chương Trình Ứng Dụng
[Đăng Nhập|Đăng Kí]


1.Ghi đĩa Audio CD trong Windows Media Player10
2.Chuyển nhiều dạng nhạc vào máy MP3 bằng WMP
3.Nén nhỏ định dạng MP3 mà chất lượng không giảm
4.Chọn phần mềm ghi đĩa nào - Nero 7 hay Roxio 8?
5.Sửa chữa các tập tin nén RAR bị lỗi
6.Tạo Karaoke với JetAudio 6.0
7.Hai tiện ích thông dụng trong Winrar
8.Hướng dẫn sử dụng Avanbrowser để đổi proxy
9.LogMeIn điều khiến máy tính từ... rất xa!
10.Phóng lớn một chi tiết trong ACDSee 6
11.Ghi bộ phần mềm 1,5 Gb ra đĩa CD-ROOM vẫn chạy được
12.Dọn rác triệt để với Arafasoft Power Machine Cleaner
13.Drop Zone: Xóa bỏ giới hạn của các game Reflexive
14.một vài chương trình giải trí mới
15.Giới thiệu về AVG AntiVirus.
16.McAfee Và Symantec cải tiến
17.Giới thiệu về SpySweeper 5.2
18.Khai thác Album Art trong Windows Media Player
19.Universal Extractor - Trích xuất nội dung của mọi loại tậ (
20.Năm thủ thuật bảo vệ dữ liệu khi ghi đĩa CD/DVD
21.Xem phim DVD, hiển thị phụ đề và thuyết minh tiếng Việt trong Windows Media Player 10
22.Tạo đĩa nhạc MP3/MP4 có chức năng Autoplay kết hợp với Winamp 5.x
23.Cấu hình các thông số mặc định để tăng tốc độ truy nhập với Tz Connecti
24.DVD Shrink nén đĩa phim DVD mà vẫn giữ nguyên chất lượng
25.Chương trình biên tập DVD nhanh chóng & đơn giản

Ghi đĩa Audio CD trong Windows Media Player10
Ở phiên bản 10, Windows Media Player, phần mềm đi kèm theo Windows, tỏ ra không thua kém những phần mềm cùng loại nào của các hãng thứ ba với những tính năng rất độc đáo và tiện dụng. Một trong những tính năng đó là bạn có thể gom những bản nhạc mình yêu thích, dưới nhiều dạng file, để ghi thành một đĩa audio CD có thể phát trên các đầu máy CD, VCD, DVD gia dụng. Không cần phải chuyển đổi dạng file nhạc, không cần dùng đến một chương trình ghi đĩa nào khác.
Trình nghe nhạc và xem phim Windows Media Player (WMP) rất thông dụng vì nó đi kèm theo hệ điều hành Windows XP. Đây là trình nghe nhạc, xem phim có nhiều ưu điểm như: giao diện đẹp, hỗ trợ tốt nhiều định dạng, tái tạo âm thanh trung thực có chất lượng cao, trích những bản nhạc từ đĩa audio CD, chia sẻ và nghe nhạc trên mạng... Trong phiên bản mới nhất Windows Media Player 10 (WMP10), nếu máy có gắn ổ ghi CD bạn dễ dàng ghi ra thành đĩa audio CD từ những bản nhạc WMA, MP3, WAV... mà không cần dùng Nero hay các trình ghi đĩa khác!
Để tháo gỡ phiên bản trước (WMP 9, 8) bạn chỉ việc vào Control Panel bấm chọn Add or Remove Programs, trong hộp thoại xuất hiện bấm chọn nút Add/Remove Windows Compoments bên phải, ở Windows Compoments Wizard bạn không đánh dấu kiểm vào Windows Media Player cũ rồi Next. Sau đó, bạn mới cài đặt phiên bản WMP10 vào máy. Bạn có thể mua WMP10 tại các cửa hàng bán đĩa vi tính, hoặc download (dung lượng 12,1 MB) tại đây
download
Để có thể ghi đĩa tốt thì máy cần có cấu hình tối thiểu Pentium II-233MHz, RAM từ 256 MB trở lên và đương nhiên bạn cần có ổ ghi CD.
GHI ĐĨA AUDIO CD:
1. Tạo danh sách Burn List - Ghi đĩa:
Để ghi đĩa audio CD, bạn cần tạo một danh sách Burn List trong WMP10 bằng một trong các cách sau:
- Từ Library: WMP quản lý các bản nhạc trong thư viện Library của nó giúp cho bạn dễ play các bản nhạc này. Vì vậy, để tạo danh sách Burn List bạn chọn thẻ Library, trong cửa sổ xuất hiện các file nhạc được bố trí bên cửa sổ trái như cây thư mục, nếu bấm chọn một thư mục bên trái các bản nhạc sẽ được thể hiện ở cửa sổ giữa. Bây giờ, bạn hãy mở Windows Explorer, tìm đến thư mục chứa các bản nhạc cần ghi đĩa rồi kéo và thả các bản nhạc này vào cửa sổ giữa của thư mục Album Artist hay My Playlist rồi chọn một hay nhiều bản nhạc. Bấm phải chuột vào các bản đã chọn, ở Thuc don mở ra chọn lệnh Add to > Burn List để đưa vào danh sách Burn List bên cửa sổ phải (H.1).
Bấm nút Add to Library (có hình dấu +) cuối cửa sổ trái. Ở Thuc don thả xuống chọn Add Folder hay Add File or Playlist để đưa các bản nhạc vào thư mục bên cửa sổ trái của Library. Sau đó, bạn cũng đưa các bản nhạc này vào danh sách Burn List như cách trên.
Nếu muốn ghi các bản nhạc từ đĩa audio CD khác, bạn hãy đưa đĩa CD vào ổ đĩa CD hay ổ CD-RW, chọn thẻ RIP, đánh dấu kiểm vào đầu bản nhạc trong thẻ này để chọn rồi bấm nút Rip Music để trích xuất các bản nhạc trên đĩa CD vào thư viện Library. Sau đó, bạn chọn thẻ Library, tìm đến thư mục ở cửa sổ trái, bấm chọn rồi cũng Add to > Burn List các bản nhạc vào danh sách Burn List.
- Trực tiếp từ thẻ Burn:
Chọn thẻ Burn, bên cửa sổ trái thẻ này có sẵn danh sách các file nhạc bạn đã đưa từ Library. Tại đây, bạn có thể mở Windows Explorer để kéo và thả thêm các bản nhạc vào cửa sổ Burn List (H.2). Hay bấm nút mũi tên nhỏ của thanh Burn List ở đầu cửa sổ trái, ở Thuc don thả xuống chọn thư mục chứa bản nhạc rồi cũng Add to > Burn List để thêm vào danh sách Burn List! Để xắp xếp lại danh sách các bản nhạc sẽ ghi, bạn bấm nút Edit Playlist trên thanh công cụ. Trong hộp Edit Playlist xuất hiện (H.3), bấm nút mũi tên nhỏ của View Library by bên cửa sổ trái, chọn thêm các bản nhạc trong thư viện Library, rồi bấm chuột vào tên bản nhạc ở cửa sổ bên dưới để đưa qua cửa sổ Burn List bên phải. Tại cửa sổ này, bạn bấm các nút mũi tên quay lên, xuống để sắp xếp lại các bản sẽ ghi, hay bấm nút Delete có hình dấu chéo đỏ để xóa bớt bản nhạc đã chọn trong danh sách này, rồi bấm OK để đóng hộp này lại. Để đổi tên bản nhạc, bạn bấm phải chuột vào một tên trong danh sách này, ở Thuc don mở ra chọn lệnh Edit rồi gõ tên mới. Để ghi đĩa audio CD, bạn bấm nút mũi tên nhỏ quay xuống của thanh đầu cửa sổ phải, chọn Audio CD (H.3). Nếu muốn ghi các bản nhạc dưới dạng dữ liệu bạn chọn Data CD (H.2) hay HightMAT Audio, sau này bạn chỉ có thể nghe các bản nhạc đã ghi dạng dữ liệu Data CD trên máy tính.
Sau cùng, bạn kiểm tra lại dấu kiểm ở mỗi bản nhạc trong Burn List. Xem lại tổng thời gian ở góc trái dưới. Thường thì bạn ghi được 12 bản nhạc, nếu số bản nhạc vuợt quá dung lượng đĩa thì sau này WMP10 sẽ “Will not fit” nghĩa là không ghi những bản này, bạn bỏ bớt bằng cách bỏ dấu kiểm đứng trước bản nhạc rồi mới đưa đĩa CD-R trắng vào ổ ghi, bấm Start Burn trên thanh công cụ để tiến hành ghi đĩa audio CD (H.4).
GHI, XÓA DỮ LIỆU DATA CD TRÊN ĐĨA CD-RW
Nếu dùng đĩa CD-RW để ghi và chọn cách ghi là Data CD hay HightMAT Audio, bạn có thể ghi nhiều lần vào đĩa để lưu dữ liệu audio CD mà không cần phải xóa các dữ liệu audio đã ghi. Còn muốn xóa dữ liệu trên đĩa CD-RW, bạn hãy đưa đĩa vào ổ ghi, chọn thẻ Burn rồi bấm nút Erase disc trên thanh công cụ để WMP10 xóa dữ liệu.
LBVMVT
Lên Trên

Chuyển nhiều dạng nhạc vào máy MP3 bằng WMP
Nếu bạn chép nhạc vào chiếc máy nghe MP3 của mình bằng cách copy thông thường thì sẽ có những bất tiện như: chỉ chép nhạc thuộc dạng mà máy hỗ trợ (thường là MP3 và WMA), do chép từ nhiều nguồn khác nhau nên âm lượng khi phát ra có thể không đồng nhất. Để giải quyết vấn đề này, bạn có thể chép nhạc thông qua Windows Media Player phiên bản 9 trở lên...
Hiện nay, việc sắm một chiếc máy nghe nhạc MP3 bỏ túi không còn là vấn đề quá khó. LBVMVT số 120 đã có bài hướng dẫn chọn mua tương đối toàn diện. Nhưng khác với máy tính, đa phần máy nghe MP3 bỏ túi thường chỉ chơi được các bản nhạc có chất lượng từ 32 kbps đến 160 kbps với định dạng phổ biến là MP3 và WMA (trừ một vài loại máy đắt tiền). Do vậy, nếu bộ sưu tập của bạn có nhiều định dạng âm thanh hoặc có nhiều bản nhạc vượt quá khả năng của máy thì việc chuyển chúng qua máy MP3 khá mất công. Nhưng với Windows Media Player (WMP) từ phiên bản 9 trở lên, bạn có thể giải quyết vấn đề này một cách dễ dàng.
Đầu tiên, bạn gắn máy nghe nhạc của mình vào máy tính và khởi động WMP. Vào Thuc don Tools > Lua chon > Devices, chọn thiết bị tương ứng với máy nghe nhạc, bấm Properties, trong phần Settings, bạn có thể để WMP tự động lựa chọn chất lượng âm thanh (Select Quality Level Automatically) hay lựa chọn thủ công trong mục Select Quality Level và kéo thanh trượt cho phù hợp với khả năng của máy bạn. Bạn kéo thanh trượt lên càng cao, chất lượng âm thanh nghe càng hay (đồng thời cũng chiếm nhiều bộ nhớ hơn). Bấm OK để xác nhận.
Trở lại giao diện chính của WMP, bạn vào thẻ Copy to CD or Device, ở mục Items to Copy, bạn bấm Edit Playlist rồi lựa chọn những bản nhạc muốn đưa vào máy MP3. Ở mục Items on Device, bạn chọn thư mục muốn đưa nhạc vào (Ở mỗi máy MP3 sẽ có một thư mục mặc định và máy sẽ chơi các bản nhạc trong thư mục đó, bạn nên xem tài liệu hướng dẫn đi kèm theo máy). Sau đó bấm nút Copy để chương trình bắt đầu làm việc. Trong quá trình sao chép, WMP sẽ chuyển tất cả các tập tin đó về định dạng WMA và có chất lượng âm thanh mà bạn đã chọn ở trên.
Thời gian chuyển nhạc lên máy MP3 tuy có lâu hơn một chút nhưng chất lượng âm thanh chuyển lên khá đồng đều, ổn định. Hơn nữa, so với việc chuyển đổi và sao chép thủ công theo kiểu kéo & thả thì thời gian trên hoàn toàn có thể chấp nhận được.
Làm Bạn Với Máy Vi Tính
Lên Trên

Nén nhỏ định dạng MP3 mà chất lượng không giảm
Bạn là một người yêu thích âm nhạc ư, lẽ dĩ nhiên bạn sẽ sưu tập rất nhiều bản nhạc Mp3 mà mình yêu thích và tất nhiên điều này càng dễ dàng hơn đối với những ai đang còn “dư dả” dung lượng ổ cứng vì hiện nay đĩa cứng khá rẻ mà dung lượng ngày càng tăng lên, tuy nhiên vấn đề sẽ khó khăn hơn cho những ai đang cần “tiết kiệm” dung lượng để lưu trữ các tài liệu khác hoặc bạn đang sử dụng.
Máy nghe nhạc Mp3 di động thì vấn đề “dung lượng” là một điều thực sự cần quan tâm và để giải quyết được tốt các vấn đề đó bạn nên thử sử dụng qua phần mềm DietMP3 là một công cụ nén nhạc Mp3 cực mạnh mà theo lời quảng cáo nó có thể tiết kiệm cho bạn khoảng 50% dung lượng files nhạc gốc ban đầu mà chất lượng âm thanh vẫn không đổi.
Cách sử dụng:
Sau khi tải và cài đặt chương trình, ngay lần chạy chương trình DietMP3 lên bạn có thể thấy được đây là một chương trình có giao diện khá trực quan và đơn giản, để giảm dung lượng của một files Mp3 nào đấy bạn hãy thực hiện các bước quan trọng sau:
- Chọn files Mp3 cần xử lý giao diện tìm kiếm files Mp3 tương tác khá giống bên Explore của Windows, sau đó hãy kéo thả các files Mp3 cần “xử lý” vào phần dưới của chương trình.
- Bấm vào tuỳ chọn Output trên Thuc don của chương trình để chỉ đường dẫn cần lưu các files Mp3 sau khi “xuất xưởng”.
- Để cho âm thanh được “xuất xưởng” có được một chất lượng theo như ý muốn của bạn, các bạn có thể tham khảo thêm các mục tinh chỉnh của phần này trong tuỳ chọn Option ngay trên Thuc don chính của chương trình
- Cuối cùng bạn hãy nhấn vào tuỳ chọn Start Diet để chương trình bắt đầu thực hiện các bước nén files Mp3
Chương trình DietMP3 có dung lượng 3.9Mb phiên bản dùng thử tương thích với mọi hệ điều hành Windows, bạn có thể download chương trình này tại đây download
Theo Thanh Niên Online
Lên Trên

Chọn phần mềm ghi đĩa nào - Nero 7 hay Roxio 8?
Bài viết sẽ giới thiệu khái quát những tính năng nổi bật trong phiên bản mới của 2 phần mềm ghi đĩa hàng đầu hiện nay, vừa so sánh chúng với nhau để bạn lựa chọn theo yêu cầu sử dụng. Nói chung, Nero 7 nhiều tính năng hơn còn Roxio 8 dễ sử dụng hơn.
Ngoài ra, còn có bài hướng dẫn tạo ổ đĩa CD/DVD ảo cùng file ảnh đĩa, bằng phần mềm Nero phiên bản 6 trở lên, nhằm giải quyết vấn đề một số chương trình hay game đòi hỏi phải chạy trên CD/DVD.
Cho đến thời điểm này, trong tác vụ ghi đĩa thì có lẽ nero và roxio là hai phần mềm nổi bật nhất. gần đây cả hai đều tung ra phiên bản mới nhất của mình, cụ thể là nero 7 ultra edition và roxio easy media creator 8.
Phiên bản Nero mới có giao diện gần giống với các phiên bản trước với màu đỏ chủ đạo. Một số chức năng mới hấp dẫn được thêm vào, tuy nhiên theo nhận xét của nhiều người thì cách truy cập các chức năng còn hơi rối và khó nhớ. Về điểm này, có lẽ Roxio là người chiến thắng với việc không chỉ thêm vào những chức năng mới mà còn nỗ lực làm cho việc sử dụng các chức năng thật giản tiện.
Nero 7 Ultra Edition được trang bị thêm các chức năng mới như hỗ trợ chỉnh sửa định dạng video cao cấp, chỉnh sửa âm thanh surround 7.1, công cụ chỉnh sửa nhạc... Còn Roxio có giao diện mới giúp việc sử dụng được dễ dàng hơn, ngoài ra cũng có một số chức năng mới hữu ích như tạo đĩa nhạc DVD và chỉnh sửa video có độ phân giải cao...
- Ghi dữ liệu (Data): Nero tuy có giao diện không thật tiện lợi nhưng bù lại số tác vụ liên quan đến việc ghi dữ liệu thì khá phong phú. Các tác vụ ghi của Roxio tuy được sắp xếp để dễ sử dụng hơn nhưng số lượng không được phong phú bằng Nero. Để việc truy cập tới các chức năng căn bản như ghi CD/DVD, sao chép, xóa... được thuận tiện và nhanh chóng hơn, có thể bạn sẽ hài lòng với chế độ Home launch của Roxio vì các chức năng căn bản đều được sắp xếp ở đây. Nero cũng có chế độ này với tên gọi là StartSmart, tuy nhiên việc truy cập không được trực tiếp lắm nhưng cho phép bạn có thể điều chỉnh lại được theo ý mình
- Ghi Audio: ngoài các chức năng căn bản liên quan đến audio như rip, encode và burn thì cả 2 phần mềm đều được trang bị thêm những chức năng hữu ích. Người dùng sẽ đánh giá cao chức năng Nero’s SoundTrax cho phép chỉnh sửa âm thanh surround 7 kênh và khả năng thêm các hiệu ứng đặc biệt vào các track nhạc. Ngoài ra chức năng SoundBox rhythm box/sample synthesizer của Nero còn cho phép người dùng tạo ra các giai điệu sôi động... Về mặt này có thể xem Nero là người chiến thắng, tuy nhiên Roxio cũng có chức năng tạo đĩa DVD nhạc rất hữu ích. Ở chế độ này, Roxio tạo một đĩa phim DVD bình thường nhưng dành ra một khoảng trống để bạn có thể ghi các track nhạc. Như vậy với một đĩa DVD 4.7GB thông thường bạn còn có thể chứa thêm các bài nhạc yêu thích, và có thể thưởng thức trên các ổ đĩa hay đầu DVD gia dụng.
- Ghi Video: về chức năng này có thể xem cả 2 phần mềm là ngang ngửa nhau với việc cung cấp các chức năng bắt hình và chỉnh sửa rất hiệu quả. Về việc chỉnh sửa, ý kiến cá nhân của người viết bài này là chức năng VideoWave 8 của Roxio có phần nổi bật hơn vì dễ sử dụng cũng như cung cấp giao diện hợp lý hơn so với chức năng Vision 4 của Nero. Tuy nhiên khi phải thao tác với video có độ phân giải cao thì Nero có phần nhỉnh hơn. Cả hai chức năng VideoWave 8 của Roxio và Vision 4 của Nero giờ đây có thể chỉnh sửa và xuất ra các đoạn video độ phân giải cao lên tới 1920 x 1080 (còn được gọi là 1080i). Việc xuất video theo định dạng cao cấp tốn rất nhiều thời gian với cả hai phần mềm. Thử nghiệm encode lại một đoạn video 5 phút ở độ phân giải 1440 x 1080 quay bằng máy Sony DV mất tới hơn 2 giờ. Cả hai phần mềm đều có thể nén nội dung từ đĩa DVD hai lớp để chứa vừa vặn trên một đĩa DVD 4.7GB thông thường. Với tác vụ này thì chức năng Nero Recode cung cấp nhiều tùy chọn hơn.
- Backup: Roxio được tích hợp chức năng Backup MyPC 6 (một tiện ích riêng lẻ của hãng StompSoft có tên là Backup MyPC 2005), tuy nhiên lại không có chức năng Restore. Do đó bạn phải sử dụng chương trình Roxio Retrieve để phục hồi những dữ liệu đã backup. Ở mặt này Nero là người chiến thắng với việc hoàn thiện chức năng BackItUp. Với chức năng này, giờ đây không chỉ việc backup dữ liệu được thực hiện dễ dàng hơn nhiều so với trước đây mà còn cho phép nhiều người dùng có thể lên lịch cho việc backup thông thường cũng như backup qua mạng.
- Một số chức năng khác: ngoài các chức năng chính thì cả hai phần mềm đều cung cấp các chức năng bổ sung khá hữu ích khác như tạo đĩa phim DVD hay slide show có Thuc don điều khiển từ các đoạn clip, hình ảnh và video. Về mặt này Roxio là người thắng cuộc với việc tích hợp chức năng MyDVD để hướng dẫn người dùng qua từng bước để việc thực hiện trở nên đơn giản nhất. Ngoài ra nó còn cung cấp một số tiện ích chỉnh sửa, quản lý và chia sẻ hình ảnh qua web (thông qua chức năng PhotoSuite và LiveShare).
Qua những so sánh trên có thể bạn đã tìm được phần mềm phù hợp với mục đích sử dụng của mình. Tuy hơi khó sử dụng đối với người mới làm quen nhưng nếu bạn quan tâm nhiều đến các chức năng thì nên chọn Nero. Trong khi đó, Roxio Easy Media Creator 8 lại dễ học và dễ sử dụng hơn Nero 7 nhờ giao diện thân thiện và trực quan.
LBVMVT
Lên Trên

Sửa chữa các tập tin nén RAR bị lỗi
Cũng giống như định dạng Zip, định dạng nén Rar cũng hay gặp tình trạng tải về mà không mở được do lỗi File corrupt và lại khó khăn trong việc tìm kiếm chương trình sửa chữa. Nhưng giờ đây bạn có thể nhờ cậy đến Advanced RAR Repair.
Đúng như tên gọi, Advanced RAR Repair là một chương trình khá đặc biệt có khả năng sửa chữa hầu hết các lỗi phát sinh về định dạng nén file RAR trong quá trình sử dụng của người dùng.
Sau khi hoàn tất quá trình cài đặt, chương trình sẽ tự khởi động. Đầu tiên bạn di chuyển đến thẻ Repair. Nhìn xuống bên dưới dòng Select RAR or SFX archive to be repaired và nhấn vào biểu tượng... Một hộp thoại mới sẽ xuất hiện và yêu cầu chọn tập tin nén Rar cần sửa chữa. Sau đó chọn nơi lưu trữ kết quả khi sửa chữa tại dòng Output fixed archive as. Và cuối cùng là nhấn nút Start Repair để tiến hành quá trình sửa chữa dữ liệu bên trong tập tin nén bị lỗi.
Để có thể sửa chữa hàng lọat tập tin nén RAR bị lỗi thì hãy di chuyển sang thẻ Batch Repair và thao tác cũng tương tự như thế. Và cuối cùng bạn cũng nên biết về khả năng sữa chữa của chương trình: “Nếu bạn chỉ sử dụng bản dùng thử thì kết quả không khả quan bằng việc đăng ký mua phiên bản chính thức của Advanced RAR Repair”. Điều đó là lẽ tất nhiên.
Chương trình được cung cấp tại website: http://www.rar-repair.com với dung lượng khoảng 556 KB, tương thích tốt với hệ điều hành Windows. Bản thương mại giá 149.95 USD.
Lên Trên

Tạo Karaoke với JetAudio 6.0
Bạn là người thích nghe nhạc, chắc hẳn khi mỗi bài hát cất lên thì bạn cũng lẩm nhẩm theo giai điệu của nó ! Bạn đã thử nghe nhạc với JetAudio 6.0 chưa ? Nêu từng sử dụng JetAudio thì chắc hẳn bạn cũng đã biết chức năng hiên thị lyric của nó. Nhưng có một tính năng khác tương tự nhưng chuyên nghiệp hơn rất nhiều – vì nó hiện thị như Karaoke!
Để soạn cho mình một bản Karaoke rất dễ ràng. Trước hết bạn nhấn chuột phải vào bài hát muốn tạo karaoke chọn Edit > Edit Tag (hay đơn giản là nhấn F4). Ok bây giờ vào Lyric, như bình thường để hiện thị lời bài hát khi nghe nhạc bạn đưa lời vào phần Lyric ở bên dưới
OK nhưng cách này quá thường! Để chạy như Karaoke ta làm như sau: Nhấn vào Run Lyric Maker (for synchsonized lyric). Ở cửa sổ kế tiếp bạn đưa lời bài hát vào như bên dưới :
Bây giờ bạn đưa con trỏ vào dòng đầu tiên của lời bài hát. Nhấn nút Để chạy bài hát này. Và nhấn để đặt thời gian cho từng đoạn lời.
Để chuyên nghiệp hơn nữa sau khi copy đoạn lời bài hát bạn vào File > Import Lyric from Clipboard (Lấy lời từ bộ nhớ - lời vừa được copy).
Sau đó chọn lựa chọn I will add time for each word trong Import Lua chon.
Sau khi chọn xong, lời bài hát sẽ được chuyển thành mỗi dòng một từ như hình dưới. Sau đó bạn cho bài hát chạy và đặt thời gian cho từng từ một (hơi mất công một chút!).
Sau khi đã gán thời gian hiện thị cho đoạn lời xong công việc tiếp theo bạn vào File> Save Lyic to Tag.
Bây giờ bạn thử mở sản phẩm của mình ra nghe thử xem kết quả của bạn có như vầy không ?
QTM
Lên Trên

Hai tiện ích thông dụng trong Winrar
Thủ thuật 1: Tạo file nén theo dung lượng lưu trữ
Thao tác này, bạn có thể nén một thư mục hay tập tin bất kỳ cho phù hợp với dung lượng của chiếc đĩa mềm bằng file rar.
Thật đơn giản, sau khi bạn chọn Add to archive, bạn sẽ gặp thẻ General. Tại đây Bạn nhìn vào góc dưới bên trái, bạn sẽ thấy mục Split to Volumes Bytes. Click chọn vào đó để chọn những phương tiện lưu trữ thích hợp vào nhấn OK. Cách này rất thuận tiện cho việc lưu trữ tập tin cho vừa với dung lượng của các phương tiện lưu trữ. Tuy nhiên bạn cũng không thể “ép dầu ép mỡ” được mà phải nên so sánh phù hợp với nhu cầu. Ví dụ, một thư mục thông thường có dung lượng lớn hơn đĩa mềm, sau khi nén với cách chọn . Do vậy để lưu trong đĩa mềm thì bạn chọn cách trên sẽ thuận lợi nhất. Nếu thư mục quá lớn thì bạn không thể sử dụng cách trên được mà phải chọn phương tiện lưu trữ khác như ZiP,CDROM….. trừ khi bạn thừa có tới vài chục đĩa mềm để lưu từng file .
Thủ thuật 2: Tắt máy sau khi hoàn tất nén
Một khi bạn nén hay giải nén những thư mục có file lớn thì cách tốt nhất là để cho máy tính tự làm. Bạn không thể ngồi chờ khi máy đã hoàn tất. Trong trường hợp bận việc đột xuất thì lại cần hơn tiện ích này. Bạn có thể nhờ Winrar tắt máy giùm mình.
Cách thực hiện cũng khá đơn giản. Bạn vào thẻ Advanced. Trong phần System, bạn chọn turn PC off when done. Nhấn OK hoàn tất. Khi đó sau tác vụ nén và giải nén, Wirar sẽ giúp bạn tắt máy tính an toàn.
Ngoài ra, các thủ thuật khác như tạo file nén tự bung, thêm password... Các bạn có thể tham khảo khi cần.
Lên Trên

Hướng dẫn sử dụng Avanbrowser để đổi proxy
Trước tiên bạn down chương trình tại đây download về cài đặt
VD bạn có 1 list proxy như sau:
203.162.175.153:80
203.162.175.154:80
203.162.175.155:80
203.162.175.156:80
203.162.175.157:80
210.245.61.165:80
203.162.128.38:80
203.162.168.163:80
Đánh dấu copy, rồi paste nó vào Notepad, sau đó lưu thành file *.txt
Chạy chương trình Avantbrowser, rồi vào Tools/proxy, chọn cumtomise. Sau đó nhấn vào nút Import (xem ảnh)
Chọn tên file proxy (*.txt) đã lưu ở trên rồi nhấn Open, một danh sách proxy xuất hiện (xem ảnh)
Muốn chọn con proxy nào mặc định thì đánh dấu vào chọn Apply, xong OK
Muốn chuyển đổi proxy nhanh bạn vào Tools/proxy nhấn vào các con proxy đã Import trước đó.
Lên Trên

LogMeIn điều khiến máy tính từ... rất xa!
Với đường truyền ADSL luôn thường trực kết nối, và với những công nghệ mới tiết kiệm năng lượng giúp máy vi tính có thể được mở suốt ngày, việc bạn từ một nơi rất xa điều khiển chiếc máy vi tính của mình ở nhà qua Internet giờ đây trở nên hoàn toàn khả thi. Bạn chỉ cần sự trợ giúp của một dịch vụ trên web thông qua một phần mềm cài sẵn trong máy ở nhà của mình, và một trong những dịch vụ như thế là LogMeIn.
Điều khiển từ xa (remote access) đề cập trong bài này là khả năng đăng nhập vào một máy tính hay mạng từ một khu vực khác qua internet. với khả năng này, bạn có thể điều khiển hoạt động của một máy tính ở cách xa mình... hàng ngàn cây số!
Việc điều khiển từ xa được thực hiện theo cách tạo bản sao máy tính (duplicate desktop): Máy tính điều khiển nhận được một bản sao hình ảnh màn hình từ máy được điều khiển. Bản sao này sẽ được cập nhật thường xuyên, ví dụ như sau một khoảng thời gian xác định hoặc khi có một sự thay đổi trên màn hình được ghi nhận từ phần mềm điều khiển từ xa nằm trên máy được điều khiển.
Phần mềm trên máy tính điều khiển sẽ giám sát các hoạt động của chuột, bàn phím. Bất kỳ hoạt động nào được thực thi đều sẽ được gửi đến máy được điều khiển, nơi mà phần mềm điều khiển từ xa sẽ giả lập các hoạt động này. Khi đó, máy được điều khiển sẽ tuân theo các hoạt động như thể chúng được đưa ra từ chính máy đó. Hiện tại có nhiều phần mềm hoạt động dựa trên phương thức này, có thể kể đến như: ReMote PC, NetOP Remote Control, GoToMyPC, LogMeIn. Bài viết này sẽ giới thiệu cách cài đặt và sử dụng LogMeIn.
1. Tính năng:
LogMeIn cung cấp một giải pháp hỗ trợ và điều khiển máy tính từ xa một cách hoàn hảo, nhanh chóng và an toàn. Dịch vụ sẽ cung cấp các tính năng ưu việt như: sao lưu (backup) dữ liệu, chia sẻ và quản lý file, đồng bộ hóa dữ liệu, in tài liệu từ xa, và hỗ trợ khách hàng theo yêu cầu.
LogMeIn hiện có 2 sản phẩm cơ bản là LogMeIn Free (miễn phí - chỉ có tính năng điều khiển từ xa) và LogMeIn Pro (trả phí - gồm nhiều tính năng cao cấp hơn bản Free, ví dụ như tính năng download có resume).
2. Cài đặt:
Trước hết cần phân biệt 2 đối tượng:
- Máy đích (target computer) là máy tính được điều khiển từ xa. Yêu cầu đối với máy này là có kết nối Internet và có quyền admin để cài đặt phần mềm.
- Máy tại chỗ (local computer) là máy dùng để điều khiển máy đích nói trên. Yêu cầu đối với máy này cũng chỉ cần có kết nối Internet (nhưng nên sử dụng ADSL để có tốc độ kết nối và truyền tải nhanh).
Thao tác cài đặt cụ thể (tại máy đích) như sau:
- Vào trang web http://www.logmein.com, bấm Create An Account bên góc phải, trên cùng màn hình, bạn sẽ có được bản liệt kê các sản phẩm khác nhau của LogMeIn
- Để làm quen dần với LogMeIn, bạn nên chọn sản phẩm LogMeIn Free vì nó dễ sử dụng nhất, nhưng chỉ có tính năng điều khiển từ xa. Bạn bấm Sign Up, màn hình sẽ xuất hiện trang đăng ký tài khoản mới
- Việc đăng ký khá dễ dàng, bạn nhập địa chỉ email và chọn mật khẩu để nhớ. Sau khi hoàn thành việc đăng ký, bạn phải thêm máy tính vào tài khoản LogMeIn của mình để được điều khiển từ xa sau này bằng cách chọn nút Add Computer như hình 3.
- Lúc này hệ thống sẽ kích hoạt để tải về file cài đặt LogMeIn.exe, bạn chọn Download Now. Nếu có trục trặc (như bạn đang vận hành hệ thống chặn pop-up chẳng hạn) thì LogMeIn sẽ cho bạn link để tải. Hoặc tải trực tiếp file zip (4.12 MB) từ link sau:
https://secure.logmein.com/logmein.zip
Quá trình cặt đặt file LogMeIn khá đơn giản. Cho chạy file LogMeIn.exe vừa tải về. Chọn Next khi xuất hiện màn hình Setup, chọn Toi dong y để đồng ý các điều khoản sử dụng phần mềm, chọn vùng cài phần mềm trên ổ cứng của bạn, cuối cùng bấm Finish để hoàn tất việc cài đặt. Ở bước này, như đã nói ở trên, bạn phải có đầy đủ quyền admin.
Khi cài đặt thành công, biểu tượng của LogMeIn sẽ xuất hiện ở khay hệ thống và sẽ tự hoạt động nối với server của LogMeIn mỗi lần Windows khởi động.
- Bấm nút Go to my computer. Bạn sẽ có một danh sách các máy đích trong tài khoản của mình. Để thêm các máy khác vào danh sách này, bạn vào lại tài khoản của mình đã đăng ký trên trang web, lập lại việc bấm nút Add Computer.
Bạn có thể bấm vào nút Computer Settings để xem và thiết lập các thông số về máy đích (có thể thêm, xóa, đổi tên để tiện quản lý).
Ngoài ra bạn thể thiết lập thêm người dùng cấp 2 (Secondary User) bằng cách cung cấp địa chỉ email, mật khẩu. Người dùng cấp 2 chỉ có quyền điều khiển trên những máy tính mà bạn chỉ định.
3. Sử dụng LogMeIn:
Để điều khiển máy đích, bạn có thể sử dụng một máy tính bất kỳ nhưng khác với máy mà bạn đã thêm vào danh sách trong tài khoản LogMeIn đã nói ở trên.
- Vào trang web http://www.logmein.com, đăng nhập bằng tài khoản LogMeIn của bạn (đã tạo ở phần Cài đặt). Bấm vào máy đích mà bạn muốn điều khiển, ở ví dụ dưới đây, máy đích là “Home” (hình 4).
- Tiến trình kết nối sẽ diễn ra tự động, lúc này chương trình sẽ cài đặt phần ứng dụng Java để điều khiển máy đích. Bạn bấm Run để chạy phần ứng dụng 3Ams Labs ActiveX Clients. Khi thiết lập phần ứng dụng này hoàn tất, máy tại chỗ (máy tính bạn sử dụng) đã được kết nối với máy đích. Bạn hãy đăng nhập bằng tài khoản với username và password như là bạn đang ngồi trước máy đích vậy.
- Sau khi đăng nhập thành công, chương trình sẽ xuất hiện hộp thoại tùy chọn khi kết nối. Bạn nên để mặc định và bấm Proceed. Tiến trình kết nối diễn ra tự động, khi kết nối thành công bạn sẽ thấy như hình 5.
Lúc này bạn đã có thể sẵn sàng mở các ứng dụng, các file, điều khiển bàn phím, chuột như là bạn đang ngồi trước máy đích vậy.
Lưu ý: Bạn chỉ có thể điều khiển máy đích từ xa khi máy đó đang online, tức là máy đang mở, đang kết nối Internet và phần mềm LogMeIn đang hoạt động.
Một số trang thông tin về các phần mềm điều khiển máy tính từ xa khác:
Remote PC - http://www.remotepc.com
NetSupport Inc. - http://www.netsupport-inc.com
NetOp Remote Control - http://www.crossteccorp.com
Radmin - http://www.radmin.com
GoToMyPC - http://www.gotomypc.com/siteMap.html
Lên Trên

Phóng lớn một chi tiết trong ACDSee 6
Thông thường, để phóng lớn một hình trong ACDSee, bạn sử dụng một trong các thanh công cụ sau : Zoom Tool (Shift + F3), hoặc các nút Zoom In, Zoom Out trên thanh công cụ. Đối với chuột có nút cuộn, bạn nhấn giữ phím Control rồi lăn bi để phóng lớn hoặc thu nhỏ hình.
Các cách trên có nhược điển là phóng lớn toàn hình, không thể chủ động phóng lớn một chi tiết nào đó và không thể thấy bao quát được tấm hình. Bạn có thể phóng lớn một chi tiết mà vẫn xem được tổng thể của tấm hình bằng cách sau : vào Thuc don View \ Magnifying Glass Pane (Ctrl + Shift + A). Cửa sổ Magnifying Glass sẽ xuất hiện, bạn đưa chuột vào chi tiết nào thì chi tiết đó sẽ được phóng lớn trên cửa sổ Magnifying Glass. Bạn có thể thay đổi mức phóng lớn bằng cách điều chỉnh thanh trượt của cừa sổ Magnifying Glass.
Lên Trên

Ghi bộ phần mềm 1,5 Gb ra đĩa CD-ROOM vẫn chạy được
GHI 4GB DỮ LIỆU VÀO ĐĨA CD 650MB... NHƯ THẾ NÀO?
Echip
Tất cả chỉ gói gọn trong một bí quyết đơn giản, đó là phần mềm CDImage GUI Beta 3 của CyBerian (hoàn toàn miễn phí, dung lượng 640KB, tương thích với mọi Windows, tải tại www.echip.com.vn). Phần mềm này cho chép bạn “chế biến” ra tập tin hình ảnh ISO của đĩa CD từ nội dung trên đĩa cứng rồi sau đó dùng một trong các chương trình ghi đĩa có hỗ trợ ghi ISO như Nero BurningROM để tạo ra đĩa CD.
Chìa khóa cho việc ghi vượt dung lượng là ở các tập tin trùng nhau, ta cũng biết bảng phân phối tập tin nằm ở vị trí đầu đĩa chứa tất cả thông tin về cấu trúc tập tin và thư mục trên đĩa, bây giờ giả sử nếu có hai (hoặc nhiều hơn) mục nhập (entry) cùng trỏ đến một nội dung trên đĩa (nghĩa là chứa cùng địa chỉ) thì khi xem đĩa bằng chương trình quản lý tập tin kiểu Windows Explorer ta sẽ thấy có hai tập tin nằm ở hai thư mục khác nhau, nhưng thật ra đĩa chỉ chứa một tập tin duy nhất. Như vậy, nếu ta có thể can thiệp vào bảng phân phối tập tin này thì việc lưu trữ 10 tập tin 600MB giống nhau trên đĩa CD chỉ là chuyện... nhỏ.
Và việc sử dụng phần mềm CDImage GUI với tùy chọn “-o optimize storage by encoding duplicate files only once” chính là giải pháp. Trước tiên bạn phải chép tất cả tập tin và thư mục muốn đưa lên đĩa CD vào một thư mục nào đó trên đĩa cứng (ví dụ: C:\eChip4in1). Tiếp đến, bạn chạy chương trình CDImage GUI.
Mục StartUp:
- Thẻ Directories: bạn nhập đường dẫn đến thư mục chứa bộ nguồn (Ví dụ: D:\Working\eChip4in1) và đường dẫn kèm tên tập tin hình ảnh ISO sẽ được tạo ra (Ví dụ: C:\Working\eChip4in1.iso) vào ô Please specify the Root Dir of your CD và Please specify a Path and Filename for the Iso File, hoặc cũng có thể nhấp vào nút rồi chọn đến từng vị trí tương ứng.
- Thẻ Config:
+ Chọn Use internal CdImage nếu muốn dùng chương trình CdImage được tích hợp sẵn trong phần mềm.
+ Chọn Use external CdImage nếu muốn sử dụng chương trình CdImage của riêng bạn, khi chọn tùy chọn này bạn sẽ phải nhập đường dẫn đến tập tin cdimage.exe vào trong ô Select your CDImage.Exe.
Tại thẻ này, bạn có thể đánh dấu chọn mục Save your Settings on Exit để chương trình tự động lưu lại những thay đổi của bạn nhằm áp dụng cho lần chạy sau.
Mục Configuration:
- Thẻ Files:
+ “-t time stamp for all files and directories,Khongspaces, any delimiter”: cập nhật ngày tháng tạo tập tin và thư mục cho toàn bộ nội dung đĩa dựa vào ngày tháng bạn nhập trong ô bên dưới, theo dạng [tháng/ngày/năm,giờhút:giây].
+ “-g encode GMT time for files rather than local time”: mã hóa dạng ngày giờ tại máy tính cục bộ theo dạng GMT.
+ “-h include hidden files and directories”: đưa tất cả tập tin và thư mục ẩn có trong thư mục bộ nguồn vào luôn trong tập tin hình ảnh ISO.
- Thẻ FileSystem:
+ “-n allow long filenames (longer than DOS 8.3 names)”: giữ lại cấu trúc tên tập tin theo dạng dài, nếu không chọn tùy chọn này thì tất cả tên tập tin trong hình ảnh ISO sẽ bị chuyển thành dạng 8.3 như của DOS.
+ “-nt allow long filenames, restricted to NT 3.51 compatibility”: giữ tên tập tin dài theo chuẩn của Windows NT 3.51.
+ “-d don’t force lowercase filenames to uppercase”: không tự động chuyển tên tập tin chữ thường thành chữ hoa.
- Thẻ Boot: nếu bạn muốn đĩa CD có thể khởi động được thì hãy đánh dấu vào “-b “El Torito” boot sector file,Khongspaces” rồi nhập đường dẫn đến tập tin .BIN có chứa vùng khởi động vào ô bên dưới, bạn cũng có thể nhấn nút rồi tìm đến tập tin tương ứng.
- Thẻ Signature / CRC:
+ “-o optimize storage by encoding duplicate files only once”: tối ưu hóa dung lượng đĩa bằng cách tìm những tập tin giống nhau trong bộ nguồn rồi thay đổi địa chỉ của các mục nhập trên bảng phân phối tập tin để chúng cùng trỏ đến một tập tin duy nhất.
+ “-os show duplicate files while creating image”: hiển thị các tập tin trùng nhau khi tạo tập tin hình ảnh ISO.
- Thẻ Report:
+ “-w1 report non-ISO or non-Joliet compliant filenames or depth”: báo cáo cấp độ sâu hoặc tên những tập tin không theo chuẩn ISO hay Joliet.
+ “-w2 report non-DOS compliant filenames”: báo cáo những tập tin có tên không theo chuẩn DOS.
+ “-w3 report zero-length files”: báo cáo những tập tin có kích thước bằng 0.
- Thẻ Creation:
+ “-m ignore maximum image size of 681,984,000 bytes”: cho phép tạo ra tập tin hình ảnh ISO lớn hơn 681MB.
+ “-l volume label,Khongspaces (e.g. –lMYLABEL)”: tạo nhãn cho đĩa CD.
Mục Creation: sau khi bạn nhấn nút Start Image Creation, chương trình bắt đầu đọc thư mục chứa bộ nguồn trên đĩa cứng, phân tích các tập tin trong ấy rồi dựa vào những tùy chọn trong Configuration để tạo ra tập tin hình ảnh ISO.
Nếu không thích hoặc không thể vào được môi trường Windows, bạn có thể dùng phần mềm cdimage.exe chạy trên DOS của Microsoft (dung lượng 50KB, tải tại www.tech-hints.com/prog/cdimage.zip) với các tùy chọn như ví dụ sau:
Tại dấu nhắc DOS (DOS thật, DOS Prompt hoặc Command Prompt), bạn gõ lệnh:
D:\cdimage.exe -lWIN –t10/28/1985,12:00:00 -bE:\ASKILY\BOOT.BIN -h -n -m - o E:\THUMUC E:\ASK.ISO
Có nghĩa là: chạy tập tin cdimage.exe ở thư mục gốc ổ D:, tạo tập tin ảnh để ghi ra CD ở E:\ tên ASK.ISO, có nhãn đĩa là WIN, thông tin thời gian của tập tin là “12 giờ ngày 28 tháng 10 năm 1985”, tập tin chứa vùng khởi động là BOOT.BIN trong thư mục E:\ASKILY, gồm cả tập tin và thư mục ẩn, cho phép sử dụng tên tập tin dài, không cảnh báo nếu dung lượng tập tin ảnh lớn hơn 681MB, tối ưu hóa khả năng lưu trữ bằng cách ghi những tập tin trùng nhau chỉ một lần và tất cả các tập tin chứa trong thư mục E:\THUMUC
Lên Trên

Dọn rác triệt để với Arafasoft Power Machine Cleaner
Giao diện chương trình Arafasoft Power Machine Cleaner.
Nếu bạn đang tự hào rằng công cụ dọn rác máy tính mà mình đang xài ở vào hạng “triệt để nhất” thì hãy suy nghĩ lại khi đã dùng “Arafasoft Power Machine Cleaner”, công cụ làm sạch và quản lý máy tính hàng đầu hiện nay.
Arafasoft Power Machine Cleaner (APMC) đã có những cải tiến khá đột phá khi đưa thêm một số định dạng file mà Windows “nghĩ là” cần dùng vào danh sách các file rác cần được quét sạch, điển hình là một số định dạng như PF, DB, DIZ, SYD… ở những máy tính lưu cũ lâu ngày thì tổng dung lượng của những file không cần thiết này có thể lên đến hàng trăm MB. Ngoài ra, AMPC có những cách thức tùy biến dọn rác máy tính chi tiết ở mức độ hầu như không thể chi tiết hơn. Sau đây là một số chức năng chính.
A. Disk Cleaner.
Nhấn vào nút “Disk Cleaner” để hiện ra giao diện “Welcome…” -> Nhấn vào nút “Start Scan” để hiện ra giao diện dọn rác chính của AMPC. Giao diện này có 3 chức năng dọn rác chính.
1. Hai chức năng “Fast Disk Scan” và “Full Scan” thực chất là như nhau:
Bạn có thể nhấn vào bất kỳ 1 trong 2 nút trên -> sau đó nhấn vào nút “Scan” để hiện ra giao diện dọn những file rác đặc thù của Windows, tức những file rác có đuôi như TMP, BAK, CHK, PF, DB, DIZ, OLD, SYD… -> tiếp tục nhấn vào nút “Scan” trong giao diện mới để quá trình săn rác bắt đầu -> khi quá trình liệt kê file rác hoàn tất thì nhấn “Next” -> chọn “All” -> và nhấn “Delete Selected File” để AMPC xóa sạch những file rác này đi.
2. Custom Scan: là tùy biến lựa chọn phân vùng đĩa cứng cần dọn dẹp của “Fast Disk Scan” và “Full Scan”.
Nếu là người dùng có am hiểu, bạn có thể vào “Option” để tự mình quy định thêm một số định dạng file cần dọn thêm. Chẳng hạn, bạn không bao giờ có nhu cầu cần tham khảo kiểu file trợ giúp của Windows thì có thể thêm vào danh sách tùy biến xóa của AMPC kiểu file *.HLP để có thể giải phóng thêm cả vài chục MB… Lưu ý: các chức năng dọn rác nêu trên chỉ để dành riêng cho thư mục “Windows”.
3. The Privacy Cleaner: là phương pháp chủ yếu để dọn các loại rác do các yếu bên ngoài đưa vào. Nhấn vào nút “The Privacy Cleaner” để hiện ra giao diện dọn rác “ngoại nhập” hết sức chi tiết của AMPC.
- Thẻ “Software” giúp bạn dọn sạch các file rác do các ứng dụng như Paint, Windows Media Player, WordPad, Exel, Visual Basic, WinZip, Macromedia MX… tạo ra.
- Thẻ “Internet Explorer” giúp bạn dọn sạch mọi file rác lưu các file lưu trữ tạm thời của Internet Explorer (Temporary Internet Files).
- Thẻ “Windows”: giúp bạn dọn sạch dọn sạch mọi thứ trong Recent Documents, Recycle Bin, Run in Start Thuc don, History, Windows Temp…
- Nếu bạn có dùng thêm 2 trình duyệt là Nestcape và FireFox thì 2 thẻ cùng tên còn lại sẽ hỗ trợ bạn xóa đi mọi file rác của 2 trình duyệt này tạo ra.
Sau khi tham khảo các chức năng dọn rác chủ yếu, bạn thoát ra ngoài giao diện chính để sử dụng tiếp các tính năng khác của AMPC.
B. File Sharder: là chức năng xóa file triệt để của AMPC, ở mức độ không thể nào phục hồi được. Bạn có thể tùy biến mức độ ghi đè file (để không thể phục hồi) lên đến 1000 lần, nhưng thực chất chỉ cần ghi đè 8 lần là đã quá đủ.
C. Uninstaller: chức năng xóa ứng dụng, tương tự như “Add/Remove Programs” của Windows.
D. Windows Tweak: can thiệp theo kiểu bật-tắt vào hầu hết các tính năng của Desktop, Start Thuc don, Control Panel, Internet Explorer, Network. Tổng cộng vào khoảng trên 100 tính năng có thể can thiệp được.
E. Computer Info: Cung cấp toàn bộ mọi thông tin liên quan đến phần cứng và phần mềm của máy tính.
F. Current Proccesses: có khả năng thay thế hoàn hảo cho “Task Manager”.
G. Memory Cleanner: là ứng dụng dọn dẹp và dồn bộ nhớ nhằm gia tăng tốc độ xử lý của máy tính.
H. StartUp Manager: là tính năng dùng để quản lý mọi chương trình tự động chạy khi Windows khởi động.
Nếu chuyên về khả năng dọn rác thì Arafasoft Power Machine Cleaner hiện đang nổi lên như một “sao” trong các ứng dụng cùng loại. Nếu bạn cảm thấy các ứng dụng dọn rác của mình đang dùng đã “hơi xưa” thì có lẽ đã đến thời “đổi mới công nghệ bằng” APMC.
Công ty ArafaSoft đang bán ra bản Arafasoft Power Machine Cleaner 2 Professional với giá là USD. Bạn đọc quan tâm có thể vào đây để tải về bản dùng thử với dung lượng cũng khá nhỏ gọn, khoảng gần 3 MB.
theo Tuổi Trẻ Online
Lên Trên

Drop Zone: Xóa bỏ giới hạn của các game Reflexive
Reflexive là một trong các nhà phát triển và phân phối game nổi tiếng thế giới với hàng loạt game mini được yêu thích như: Air Strike,War Chess,Heavy Weapon…Tuy nhiên,hầu hết chúng đều được cùng cấp ở dạng dùng thử (Trial),bị giới hạn tính năng và thời gian sử dụng ,vì vậy nó chưa thật sự đã đối với những người chơi game.Giờ đây,với công cụ đặc biệt Drop Zone,bạn sẽ dễ dàng biến các game trên thành các game không bị giới hạn chỉ với vài thao tác cực kỳ đơn giản.Bạn thực hiện theo các bước sau:
1.Tải về công cụ DropZone tại www.tinyurl.com/29oqm5 hay www.tinyurl.com/ywa4lk.
2.Cài đặt các game trên như bình thường.Trong trường hợp bạn chưa có game để cài đặt,hãy tải về bất kỳ game nào tại trang Web www.reflexive.com. Sauk hi cài đặt xong,bạn hãy khoan khởi động chương trình (nếu bạn đang chơi thì hãy thoát hẳn game trước khi tiếp tục).Lúc này các game vẫn ở trạng thái trial (Xuất hiện thông báo về thời gian sử dụng mỗi lần nạp game).
3.Tiếp theo,bạn hãy kéo File chạy của game cần đăng ký trên màn hình Desktop (.exe) vào biểu tượng của DropZone.Một thông báo hiện ra cho bạn biết quá trình đăng ký đã thành công .Bạn hãy khởi động lại game,giờ đây các logo đăng ký đã biến mất và thế là bạn đã có được một game hoàn chỉnh rồi đấy.Sau 3 bước thực hiện,giờ đây bạn đã có thể chơi các game này một các thoải mái mà không còn bị hạn chế tính năng nữa.
Theo Tạp chí e-CHÍP thứ ba số 326,ngày 20-3-2007,trang 9.
Lên Trên

một vài chương trình giải trí mới
Nicole the Desktop Singer 2.0: Ca sĩ xinh đẹp trên desktop
Nicole, một ca sĩ “nổi tiếng” và quyến rũ sẽ cho bạn thưởng thức một ca khúc rất sôi động và hấp dẫn. Nàng đứng trên sàn nhảy, vừa hát vừa múa theo điệu nhạc, tạo cho bạn một cảm giác mê say và ngây ngất. Để Nicole bắt đầu hát và múa, bạn nhấn chuột phải vào người cô ấy (hoặc sàn nhảy), chọn Dance Baby, Dance. Trong khi hát, bạn có thể kéo để đặt Nicole ở chỗ mà bạn muốn, xoay vòng cô ấy và sàn nhảy (bấm giữ phím Ctrl, nút chuột trái và di chuyển chuột), phóng to hoặc thu nhỏ Nicole bằng các phím mũi tên di chuyển và thậm chí bạn cũng có thể chat với cô ấy (trong hộp văn bản nhỏ ở dưới màn hình). Để tắt chương trình, bạn nhấn chuột phải vào người Nicole (hay sàn nhảy), chọn Bye Sweetie.
Chương trình chạy ngay, không cần cài đặt, hoàn toàn miễn phí, tải tại www.noks.com/nicole.exe (1,64MB).
Tự động cải tiến chất lượng bài nhạc khi chơi
Hầu hết các bài nhạc tải về từ Internet hay ghi lại từ radio thường có chất lượng rất “nghèo nàn” (mất treble và bass đủ thứ), nghe thật không đã chút nào. Với ba plug-in sau đây (tương ứng cho ba chương trình chơi nhạc phổ biến), chúng sẽ “biến” những bài nhạc như thế (cả những bài nhạc xem như đã có chất lượng mà bạn hiện có) thành những bài có chất lượng tuyệt hảo bằng cách tự động cân bằng âm lượng, điều chỉnh thích hợp cho các âm điệu tiết tấu bài nhạc (những âm điệu trong bài nhạc trước đây, bạn không thể nghe được, bây giờ sẽ thể hiện rất rõ ràng). Bạn cũng có thể kiểm tra để thấy sự khác biệt khi bật tắt plug-in trong khi chơi nhạc. Ngoài ra, plug-in còn có một tập hợp các Preset để bạn có thể chọn nghe theo nhiều điệu khác nhau (như Dance, Pop, Rock...). Các plug-in sẽ tự động chạy khi chương trình chơi nhạc khởi động.
- Volume Logic for RealPlayer 1.31 (http://199.237.199.143/dnld/VolumeLogicSet...Player_1.31.exe, 993KB).
- Volume Logic for Winamp 1.31 (http://199.237.199.143/dnld/VolumeLogicSetup_Winamp_1.31.exe, 1,21MB, xem hướng dẫn tại http://tinyurl.com/2b4xwj).
- Volume Logic for Windows Media Player 1.31
(http://199.237.199.143/dnld/VolumeLogicSet...Player_1.31.exe, 1,11MB
xem hướng dẫn tại đâyXem
Lưu ý: Trước khi cài plug-in, bạn phải tắt các chương trình chơi nhạc. Các plug-in tương thích mọi phiên bản chương trình chơi nhạc, Windows từ 2000 trở lên.
trích nhạc từ video nhanh gọn
Khi cần trích nhạc từ video, có lẽ bạn chỉ cần dùng đến Nero, Herosoft và các chương trình phổ biến hiện có. Nhưng tại sao bạn phải dùng đến một chương trình khác, chẳng hạn như Free Video to MP3 Converter ở đây? Lý do vì nó rất đơn giản, dễ sử dụng, có thể trích nhạc từ các file video hiện có hoặc liên kết video trên Internet (chẳng hạn từ YouTube) và đặc biệt là hoàn toàn miễn phí.
Trong cửa sổ chương trình, bạn chọn file video nhạc có sẵn hoặc nhập vào liên kết video cần trích nhạc trong hộp Input video file..., chọn vị trí lưu và đặt tên file cần trích trong hộp Output MP3 file (bạn có thể chọn tên mặc định hoặc gõ tên khác). Trong hộp Presets, chương trình đã chọn một dạng xuất mặc định (chất lượng tiêu chuẩn, phù hợp để nghe trên máy tính và các đầu đĩa gia dụng), nếu cần, bạn có thể chọn lại. Sau cùng, bạn chỉ việc bấm nút Download & Convert để chương trình trích nhạc là xong. Lưu ý, để chương trình trích nhạc từ Internet, máy bạn trước đó phải kết nối Internet.
Chương trình có phiên bản hiện tại là 2.4, tải tại http://www.dvdvideosoft.com/download/FreeV...p3Converter.exe, dung lượng 3,12MB, tương thích mọi Windows.
Lên Trên

Giới thiệu về AVG AntiVirus.
Đã đọat các chứng chỉ:
+ICSA 2005
+VB100% 2005
+W.C.L Level 1
Thời gian có bản cập nhật Virus mới: Hàng ngày.
Quét ổ cứng 80 GB mất: 24 phút.
Thông tin:
- AVG Anti-Virus có mọi thứ bạn cần như: quét email và File đính kèm,tự động cập nhật…Trong giao diện chính,bạn có thể thực hiện 3 cuộc kiểm tra:Kiểm tra tòan bộ,Kiểm tra các File Media (Trên Fiash Drive) và kiểm tra nhanh.AVG Anti-Virus đã không vượt qua được cuộc kiểm tra ‘West Cost Lab’s ở mức 2’.Cuộc kiểm tra này đòi hỏi các chương trình AntiVirus phải “làm sạch” (Disinfect) các Virus nếu có thể.
- AVG Control Center (AVGCC) là trung tâm chính của AVG Anti-Virus.Thông qua AVGCC,bạn có thể chỉnh sửa vô số các thiết lập của AVG Anti-Virus.AVGCC sẽ được nằm trên khay hệ thống.Khi các thành phần của AVG Anti-Virus họat động chính xác thì biểu tượng của AVGCC sẽ có nhiều màu.Nếu biểu tượng của AVGCC có màu xám thì chứng tỏ AVG Anti-Virus đã có vấn đề.Chỉ việc Click lên icon của AVGCC,bạn sẽ mở được giao diện chính của AVG Anti-Virus.
- AVG Anti-Virus cũng có 1 giao diện dành cho các chuyên gia.Giao diện này sẽ cho bạn xem xét những cửa sổ quét Virus,đặt lịch hẹn…(Scheduled Task)
- AVG Anti-Virus sẽ phát hiện ra bản cập nhật Virus mới nếu có và tải về máy một cách tự động.Hoặc bản có thể điều chỉnh cho AVG Anti-Virus tải bản cập nhật về vào 1 thời gian định sẵn.
- AVG Anti-Virus cho phép bạn tạo 1 đĩa cứu hộ (Rescue Disk) trong môi trường MS-DOS.Chương trình còn có thể quét Virus theo thời gian định sẵn kể cả khi không có User nào Log on vào máy tính.
Kết luận: AVG Anti-Virus là 1 chương trình AntiVirus đễ cài đặt và sử dụng.Chương trình cũng hỗ trợ khách hàng qua mạng (Bạn phải đăng ký mới được hỗ trợ).Họ không hỗ trợ khách hàng qua điện thọai.Khuyết điểm lớn nhất của AVG Anti-Virus là không thể làm sạch Virus (Disinfect).Cũng với giá này,bạn có thể tìm được 1 chương trình AntiVirus mạnh hơn.
Lên Trên

McAfee Và Symantec cải tiến
- Hai bộ phần mềm bảo mật mới nhất của mcAfee và Symantec cung cấp khả năng bảo vệ mạnh mẽ hệ thống chống lại cácmối đe dọa bảo mật hiện nay.Các tính năng cơ bản như phòng chống Virus,phần mềm gián điệp (spyware) và tường lửa (firewall) có trong McAfee Internet Security 2007 (70 USD) và Symantec Internet Security 2007 (70 USD cho 3 máy tính)sẽ giữ cho máy tính của bạn luôn an tòan và cà 2 còn cung cấp những công cụ phụ trợ khác như tính năng giám sát tình trạng sử dụng Internet của trẻ em (parental control),kiểm sóat bảo mật và chống thư rác.Đối với như cầu cài đặt cho nhiều máy,bạn nên sử dụng bộ phần mềm Symantec do giá rẻ hơn và cung cấp túnh năng chống Spyware và Adware tốt hơn,mặc dù còn vài khiếm khuyết trong họat động.
- Cả Symantec và McAfee cải tiến giao diện rất tốt.Năm nay,Symantec bán kèm 3 bản quyền sử dụng ở giá 70 USD với một năm cập nhật miễn phỉ các bản nâng cấp quét Virus mới.Tuy nhiên,hãy cần thận,nếu bạn mua 2 bộ phần mềm này trên mạng với hình thức thanh tóan bằng thẻ tín dụng,hãng (Symantec và McAfee) sẽ tự động tính tiền cho việc gia hạn sử dụng dịch vụ cập nhật trong năm sau nếu bạn không lựa chọn trước.
- Trong thử nghiệm phát hiện và lọai bỏ các phần mềm nguy hại (malware) được thực hiện bởi công ty nghiên cứu bảo mật AV-Test.org,Symantec và McAfee đều thể hiện tốt dù mỗi bộ phần mềm có nhưng điểm yếu riêng.Symantec chỉ phát hiện được 74 % malware lây nhiễm trong các tập tin Microsoft Office Object Linking and Embedding (OLE) trong khi McAfee xuất sắc đạt 100%.
- Mặt khác,tính năng phòng chống spyware và adware của Symantec đặc biệt hiệu quả,có khả năng phát hiện 95% mẫu các phần mềm nguy hại này,so với 74% ở bộ phần mềm McAfee.Tương tự,tỷ lệ trục trặc nặng ở McAfee là 0,09% còn Symatec phần nào dễ chấp nhận hơn với 0,02%.
- Cà 2 bộ phần mềm đều ngăn cản người dùng truy xụất các Website lừa đảo nhưng McAfee thực hiện công việc này tốt hơn.Bộ phần mềm Symantec chỉ làm việc với trình duyệt IE,cung cấp một thanh công cụ phiền phức nằm dưới thanh địa chỉ và thanh này sẽ chuyển sang màu đỏ khi bạn truy xuất một Website lừa đảo.Trong khi đó,tính năng này ở McAfee-cũng có thể làm việc trên trình duyệt Firefox-kết hợp với một hộp thọai ngăn chặn Website sẽ xuất hiện như một thông báo Pop-up trên thanh tác vụ (Taskbar).Bộ phần mềm Symantec cũng đi kèm tiên ích bổ sung cực kỳ hiệu quả SiteAdvisor để cảnh báo về những trang Web nguy hiểm.
- Với máy tính sử dụng BXL Pentium 4 2,8GHz,RAM 512 MB,đĩa cứng 80 GB,khi không bật tính năng bảo vệ,tác vụ chép 760 MB các tập tin chỉ trong 36 giây,nếu bật tính năng bảo vệ thời gian thực của Symantec sẽ mất đến 80 giây và 97 giây khi thử nghiệm với McAfee.
Lên Trên

Giới thiệu về SpySweeper 5.2
Giới thiệu về Spy Sweeper 5.2.
Hãng sản xuất: Webroot
Phiên bản: 5.2
Giá: $24.95
Chương trình này có 3 cách quét Spyware.Quét nhanh (Quick Scan) sẽ giúp bạn nhanh chóng cách ly các Spyware (Dưới 1 phút).
Thông tin:
- Spy Sweeper đang tiếp tục nâng cấp và phiên bản 5.2 là phiên bản tốt nhất.Chương trình không làm chậm tốc độ hệ thống.Spy Sweeper có 15 cách phòng chống khác nhau.Bao gồm chống hijack, keylogger,các Site quảng cáo v.v…Nếu bạn không biết chọn hình thức bảo vệ nào thì cứ để mặc định,chương trình sẽ chạy 12 cách bảo vệ .Sau khi quét xong,Spy Sweeper sẽ tự động tạo 1 File báo cáo (Report) rất dễ hiểu.Khi phát hiện ra 1 Spyware thì Spy Sweeper sẽ chỉ rõ mức độ nguy hiểm cũng như mô tả về Spyware đó.Bạn có thể cách ly,diệt hoặc phục hồi lại.Spy Sweeper sẽ cảnh báo khi có 1 ứng dụng nào đó chuẩn bị cài đặt vào máy tính.
- Chương trình có thể phát hiện và diệt sạch 100% các Spyware.Spy Sweeper cũng có thể phát hiện ra các Rookit (Các ứng dụng nguy hiểm chạy ngầm trong hệ thống).Chương trình sẽ tìm cách ‘moi ra’ các Rookit tự động ẩn sâu trong máy tính.
- Spy Sweeper rất dễ sử dụng và có 1 giao diện đẹp với các thẻ (Tab) cho các chức năng chính.Bạn có thể dễ dàng hiểu được các thông báo của Spy Sweeper đưa ra khi cập nhật và khi phát hiện ra Spyware.
- Spy Sweeper cho phép nhiều user trên máy tính điều chỉnh các thiết lập mà không ảnh hưởng đến user khác.
- Chương trình rất dễ cài đặt,sử dụng và nâng cấp (Upgrade).
- Hãng Webrrot hỗ trợ Spy Sweeper qua File Giup do,FAQ và qua email.Không giống như các phần mềm khác,Webroot sẽ giải đáp thắc mắc của bạn qua điện thọai
Lên Trên

Khai thác Album Art trong Windows Media Player
Khi xem hoặc nghe một bài nhạc, Windows Media Player hiển thị một hình bìa Album hoặc hình ca sĩ khi phát, đó là Album Art. Ta có thể dễ dàng chèn hình ảnh ca sĩ yêu thích hoặc chính hình ảnh của mình với chức năng Album Art trên PC lẫn Smartphone.
Album Art trong Windows Media Player 11.
Album Art là ảnh bìa Album của bài hát đang chơi hay đơn giản đây là ảnh avatar của tác giả đã chọn cho album bài hát. Trong Windows Media Player, sẽ dễ dàng nhận thấy Album Art bên góc phải của cửa sổ Now Playing hoặc trong Libary (thư viện) khi bài hát được cài đặt sẵn Album Art, đối với một số bài hát CD, MP3 .. được đăng kí bản quyền thì Window Media Player sẽ tự động tải Album Art về (khi đang sử dụng Window Media Player và có kết nối Internet). Sẽ giúp người sử dụng dễ dàng tìm thấy bài hát hay Album nhạc mình cần tìm và chơi nhạc 1 cách chuyên nghiệp hơn.
Trong các dòng SmartPhone của Nokia thì đặc biệt là các sản phẩm Nseries Music Edition như N91ME, N70ME, N73ME … cũng sẽ dễ dàng làm được điều này.
Làm thế nào để cài đặt Album Art? Đối với WMP11 trong Windows XP, có thể kéo rê và thả hình trong Library. Trên điện thoại thì trong trình chơi nhạc, chọn Option / Album Art / Thuc don Album Art / Change, sẽ chọn đến thư mục chứa hình trên bộ nhớ của điện thọai hoặc thẻ nhớ, lúc đấy ta có thể cài Album Art cho bài hát hay một nhóm bài hát đã chọn.
Tuy nhiên với cách làm này thì Album Art sẽ không được lưu trên bài hát, chỉ lưu trong phần library của máy mà thôi, khi mang bài hát sang máy khác, sẽ không thấy Album Art nữa. Để giải quyết vấn đề này đơn giản và nhanh chóng, xin giới thiệu một trong các phần mềm Media Monkey hay Tag&Rename sẽ giúp bạn giải quyết vấn đề này .
Lên Trên

Universal Extractor - Trích xuất nội dung của mọi loại tậ
Universal Extractor - Trích xuất nội dung của mọi loại tập tin nén
Hiện tại, ngoài .zip, các chuẩn định dạng nén khác, chẳng hạn như .rar, .7z, v.v… cũng đang được chuộng dùng để chia sẻ dữ liệu trên Internet. Tuy nhiên, không phải tất cả những trình nén tương ứng với chúng đều có thể giải nén theo kiểu liên thông.
Một số chuẩn định dạng bắt buộc người dùng phải sử dụng đúng công cụ của nó thì mới có thể mở được nội dung. Thay vì phải cài đặt và sử dụng nhiều trình nén khác nhau, bạn chỉ cần khai thác sức mạnh liên thông định dạng của Universal Extractor là đã có thể xử lý được mọi chuẩn định dạng nén.
Ngoài ra, tiện ích độc đáo này còn cho phép bạn trích xuất toàn bộ nội dung của những tập tin đóng gói dưới dạng trình cài đặt (chẳng hạn như .msi và thậm chí cả .exe) bất kể nó đã được nén bằng phương pháp gì. Universal Extractor rất dễ sử dụng và tỏ ra linh hoạt trong cách giải nén tập tin (từ giao diện tương tác của nó hoặc thông qua Thuc don ngữ cảnh của Windows Explorer).
1. Giải nén tập tin từ Thuc don ngữ cảnh của Windows Explorer: Cài đặt Universal Extractor, từ màn hình desktop, bạn hãy nhắp chuột phải lên nút Start, chọn Explore, tìm đến địa điểm lưu trữ của tập tin nén mà bạn cần giải nén, nhắp chuột phải lên biểu tượng của tập tin này rồi lựa chọn 1 trong 3 phương thức giải nén bao gồm giải nén tập tin hiện hành vào một thư mục cụ thể do bạn chỉ định (UniExtract Files…), giải nén tập tin hiện hành tại thư mục hiện hành (UniExtract Here) hoặc giải nén tập tin hiện hành vào thư mục con của thư mục hiện hành (UniExtract to Subdir).
2. Giải nén tập tin từ giao diện tương tác của chương trình: Từ màn hình desktop, bạn hãy nhắp chuột lên nút Start, chọn All Programs rồi đến Universal Extractor. Giao diện tương tác của chương trình sẽ xuất hiện. Hãy nhắp chuột lên nút… nằm ngang mục Archive/Installer to extract, tìm đến địa điểm lưu trữ của tập tin nén mà bạn cần giải nén, nhắp chuột lên biểu tượng của tập tin này, chọn mục Open, nhắp chuột lên nút… nằm ngang mục Destination directory, xác lập thư mục mà bạn muốn dùng làm nơi lưu trữ cho tất cả những tập tin sắp được xả nén từ tập tin nói trên rồi chọn OK 2 lần.
Với dung lượng 4,59 MB, tương thích trên hầu hết các phiên bản của hệ điều hành Microsoft Windows, phiên bản miễn phí (freeware) của Universal Extractor đang được cung cấp tại đây.
Lên Trên

Năm thủ thuật bảo vệ dữ liệu khi ghi đĩa CD/DVD
Liệu bạn có chắc các đĩa CD/DVD sau khi ghi xong có thể đọc được? Câu trả lời là “chưa chắc” vì chúng còn liên quan tới một số yếu tố khác mà cụ thể là chất lượng của ổ ghi và đĩa ghi. Ngoài ra, bạn cũng cần chú ý tới các yếu tố sau để đảm bảo chất lượng ghi là tốt nhất.
1. Thực hiện đúng thủ tục ghi
Một trong những thủ tục bạn cần để mắt tới là việc thẩm tra (verify) dữ liệu. Mặc dù thủ tục này đơn giản nhưng nếu thiếu chúng, rất có thể dữ liệu của bạn sẽ không được toàn vẹn; hay nói một cách khác dữ liệu bị lỗi và có thể không được được. Hầu hết các phần mềm ghi như Nero 6 hoặc Easy Media Creator 7 đều hỗ trợ quá trình thẩm tra dữ liệu, và bạn có thể yên tâm về điều này.
2. Chú ý tới các thông báo lỗi
Bạn cần quan tâm tới các thông báo lỗi để còn biết chỉnh sửa hoặc biết quá trình ghi đĩa bị lỗi ở công đoạn nào. Nếu hệ thống báo đĩa không thể ghi được thì bạn cần phải kiểm tra lại, hoặc là ổ ghi hoặc là đĩa ghi. Nhiều khi, đĩa không ghi được chỉ do dính vài hạt bụi trên bề mặt.
3. Kiểm tra ổ ghi
Ngoài phần mềm ghi đĩa, việc sử dụng ổ ghi đúng tiêu chuẩn cũng quan trọng không kém. Có loại ổ ghi chỉ hợp với loại đĩa này mà không hợp với loại đĩa khác. Đúng là về mặt nguyên tắc, đĩa có chạy trên mọi loại ổ ghi, thế nhưng trong thực tế việc sử dụng đĩa không hợp với ổ ghi có thể làm hỏng cả sản phẩm của bạn.
4. Chọn đúng tốc độ ghi
Nếu bạn có ý định sao lưu dữ liệu quan trọng vào đĩa CD thì thủ tục kiểm tra tốc độ ghi sẽ rất quan trọng. Nếu ghi ở tốc độ không thích hợp, hoặc thấp quá hoặc cao quá, có thể khiến ổ đọc không thể nhận diện được đĩa. Nhiều người cho rằng ghi ở tốc độ càng thấp càng tốt, tuy nhiên thực tế không phải lúc nào cũng vậy. Một số chủng loại ổ ghi có tốc độ cao (8X hoặc 12X), cho dù bạn có muốn chọn tốc độ thấp cũng không được.
5. Cẩn thận khi tiếp xúc với bề mặt đĩa
Đúng như thông báo của nhà sản xuất, do mặt đĩa rất “nhạy cảm” nên bạn không chạm trực tiếp vào bề mặt. Nếu có bụi bám trên bề mặt, bạn nên sử dụng các dụng cụ mềm như bông để lau sạch. Ngoài ra, cần bảo quản đĩa nơi thoáng mát, tránh tiếp xúc với ánh sáng mặt trời hoặc nguồn nhiệt.
Theo vnMedia
Lên Trên

Xem phim DVD, hiển thị phụ đề và thuyết minh tiếng Việt trong Windows Media Player 10
Một trong nhưng tính năng khá quan trọng của chương trình Windows Media Player 10 là giúp bạn có thể chơi được các đĩa DVD. Tuy nhiên để làm được điều đó, bạn cần phải cài đặt thêm bộ Codec KLite Mega Codec Pack, được cung cấp miễn phí tại Website http://www.softpedia.com/public/cat/11/2/2/11-2-2-124.shtml (đã giới thiệu trên e-CHÍP 195). Sau khi cài đặt Codec xong, bạn mở chương trình Windows Media Player 10 lên, vào Thuc don Tools > Lua chon, chọn thẻ DVD. Tiếp đến trong phần Language Settings, bạn click chuột chọn Defaults, trong hộp thoại Default Language Settings, bạn chọn Vietnamese trong cả hai phần Audio language (ngôn ngữ thuyết minh) và Captions and Subtitles (phụ đề). Nhấn OK hai lần để áp dụng sự thay đổi này.
Echip
Lên Trên

Tạo đĩa nhạc MP3/MP4 có chức năng Autoplay kết hợp với Winamp 5.x
Trên thị trường có bán sẵn nhiều đĩa nhạc MP3 có chức năng như vậy, nếu bạn muốn làm một CD sưu tập riêng cho mình thì cũng có thể bắt chước cấu trúc của những đĩa nhạc đó để thực hiện. Tuy nhiên, rất có thể việc bắt chước không đem lại kết quả vì còn có một số vấn đề bạn chưa nhận ra nên chưa được giải quyết. Trong trường hợp này, bạn hãy tham khảo những hướng dẫn trong bài viết . Nó sẽ giúp cho những bạn thực hiện lần đầu tiên đỡ tốn thì giờ và bảo đảm thành công hơn.
Nếu tích hợp Winamp trên CD nhạc MP3 của bạn thì CD này có thể chạy độc lập mà không phụ thuộc vào bất cứ công cụ multimedia nào đã cài trên máy tính cuả bạn. Với Winamp 5.x, ngoài việc nghe các dạng file nhạc, bạn còn có thể thưởng thức cả những file MP4 (avi) và một số định dạng khác cho video nữa như mpg, afs, wmv... Sau đây là các bước tiến hành tạo một CD như thế với tất cả các phiên bản của Winamp:
1. Trước tiên bạn phải có chương trình chơi nhạc Winamp đã cài đặt thật hoàn chỉnh (khoảng 4 -13 MB). Chương trình này có trong các CD phần mềm trên thị trường hoặc tại www.winamp.com. Bạn nên cài lại một trong các phiên bản mới nhất để có được những tính năng mới, cũng như tránh được những lỗi phát sinh do chương trình quá cũ. Bạn nên chọn các thành phần trong gói cài đặt càng ít càng tốt. Theo kinh nghiệm, bạn nên bỏ đi các gói Winamp Agent, Modern Skin Support để cho Winamp chạy nhanh hơn, và bỏ luôn gói quan trọng nhất là Winamp Libarary (với Winamp 5.x) thì Winamp mới không bị lỗi khi đưa lên CD. Nên chọn giao diện (skin) dạng cũ (classic) giống như Winamp 2.x để khi đưa lên CD chương trình load nhanh hơn.
2. Bạn hãy chuẩn bị các bài hát MP3 của bạn thật chu đáo và gom tất cả vào một thư mục duy nhất. Thư mục này nên đặt ngay trong đĩa D. Ví dụ: D:\My mp3 Songs. Thư mục này không nên vược quá 650 MB, tốt nhất là khoảng 600 MB, khoảng 100 - 120 bài hát là vừa.
3. Bước tiếp theo là đưa các bài hát trong D:\My mp3 Songs vào Winamp. Khởi động Winamp, kích hoạt cửa sổ Winamp playlist (bấm tổ hợp phím Alt+E), click Add/Add File hay Add Dir (Shft+L hay L), để đưa vào đây tất cả các bài hát trong D:\My mp3 songs. Hoặc đơn giản hơn, bạn click phải vào thư mục D:\My mp3 Songs và chọn Play in winamp. Tất cả các bài hát trong D:\My mp3 Songs sẽ được đưa vào Winamp Playlist.
Bạn để ý xem, sẽ thấy trong Winamp Playlist, bên phải mỗi tựa đề bài hát điều có kèm thời gian phát của các bài hát đó. Bạn hãy dùng chuột kéo nút cuộn phía bên trái cửa sổ Winamp playlist lên xuống vài lần để Winamp đọc hết thông số của tất cả các file mp3. Và bạn phải chắc chắn tất cả các bài hát đều có thời gian đi kèm, điều này chứng tỏ Winamp đã kiểm soát được hệ thống file. Tiếp theo bạn hãy điều chỉnh các thông số khác như Volumes - âm lượng, Equalizer - bộ phối khí, Skin - giao diện (nên chọn Classic)... và đặc biệt là các Plug-in.
4. (Có thể bỏ qua bước này và bước 8, nếu bạn không sử dụng các plug-in của Winamp). Để sử dụng các plug-in, bạn vào Winamp Preference (Ctrl+P), trong Plug-ins > Visualization chọn loại hiệu ứng cần thể hiện và click Start. Bạn phải kiểm tra để đảm bảo xem thuộc tính Auto execute visualization plug-in on playback trong thẻ Plug-in đã được kích hoạt. Nếu không, Winamp sẽ không tự động load các plug-in trong những lần khởi động sau này. Bạn tắt và khởi động Winamp vài lần và kiểm tra rằng mọi thứ hoạt động tốt.
5. Bạn vào C:\Program files và copy cả thư mục Winamp ra D:\. Từ đây chúng ta chỉ thao thao tác với mỗi hai thư mục: D:\My mp3 Songs và D:\Winamp.
6. (Có thể bỏ qua bước này). Bạn vào Control Panel > Folder Option. Trong thẻ View, click bỏ chọn Hide file extensions for known file types để hiện phần mở rộng của các tập tin trong Windows. Việc làm này để cho các bạn có thể thao tác với các tập tin ở những bước sau dễ dàng hơn.
7. Bạn vào Notepad để mở file Winamp.m3u trong D:\Winamp (trong hộp thoại Open: files of type chọn All files nếu không thấy Winamp.m3u). Tập tin này lưu giữ toàn bộ đường dẫn - danh sách các bài hát sẽ chơi trong Winamp Playlist. Nội dung file có dạng như sau:
#EXTM3U
... D:\My mp3 songs\Bai hat 1.mp3
... D:\My mp3 songs\Bai hat 2.mp3
... Bạn tìm và xóa bỏ tất cả các kí tự chỉ ổ đĩa D:. Bây giờ nội dụng file sẽ có dạng:
#EXTM3U
... \My mp3 songs\Bai hat 1.mp3
... \My mp3 songs\Bai hat 2.mp3
... Save lại và thoát, và từ bây giờ chúng ta không được kích hoạt Winamp nữa.
8. (Có thể bỏ qua bước này nếu bạn không sử dụng các plug-in của Winamp). Bạn vào D:\Winamp, bấm đúp mở tập tin Winamp.ini. Tìm đến dòng visdir=C:\Program Files\Winamp \Plugins (nếu không tìm thấy càng tốt!). Bạn gõ lại dòng này là visdir=\Winamp\Plugins, cũng có thể xóa hẳn dòng này đi. Sau khi xóa bỏ dòng này sẽ có một dòng trắng giữa các dòng, bạn nên để như vậy, không nên làm mất dòng trắng này. Save lại, thoát. Chuyển sang bước kế.
9. Đây là bước không thể thiếu. Bạn lại vào Notepad, nhập vào chính xác nội dung in nghiêng bên dưới và lưu lại thành một file với tên là autorun.inf trong đĩa D:\
[autorun]
open=Winamp\Winamp.exe \Winamp\winamp.m3u
icon=Winamp\Winamp.exe, 1
Chú ý: nội dung file autorun.inf chỉ có đúng 3 dòng.
10. Bây giời bạn chạy một chương trình ghi đĩa bất kỳ, chọn chế độ tạo đĩa Data. Ghi tất cả các thứ vừa tạo lên CD, gồm: CD:\My mp3 songs, CD:\Winamp, CD:\Autorun.inf.
Vậy là công việc hoàn tất. Bạn đã có một đĩa CD có chức năng autoplay một cách chuyên nghiệp. CD này vẫn có thể sử dụng ở tất cả các đầu máy VCD/CD/MP3 (Sony, Tiến Đạt, California...) có trên thị trường nếu như bạn không thích dùng với ổ CD-ROM của máy vi tính. Bạn có thể tìm mua CD MP3 mẫu ở các cửa hàng CD phần nềm vi tính, nhớ yêu cầu họ kiểm tra xem có Autoplay với Winamp không trước khi mua.
Với những file MP4, có kiểu là *.avi, kể cả những file *.mpg, *.mpeg... và tất cả các file mà Winamp hỗ trợ, bạn cũng làm tương tự như các bước trên, nhưng phải cẩn thận hơn một chút: Ở bước 4 bạn chịu khó Play từng file một để kiểm tra là chúng hoạt động tốt. Dạng CD này không thể dùng với các đầu VCD/CD/MP3 thông thường được, trừ khi chúng có hỗ trợ MP4.
Theo kinh nghiệm, bạn nên ghi thử vào CD-WR, nếu CD-WR hoạt động tốt thì mới tiến hành ghi vào CD. Với các bạn lần đầu thực hiện, để cho đơn giản, nên bỏ qua bước 4 và bước 8. Nếu bạn đã thực hiện bước 6 thì bạn phải vào lại Folder Option, click chọn lại mục Hide file extensions. Bạn nên đổi tên hoặc xóa bỏ tập tin Autorun.inf trong ổ D:\ đi, nếu không sẽ có thể ảnh hưởng một số thao tác sử dụng về sau trong Windows Explorer. Khi thành thạo bạn có thể tạo một CD có cấu trúc bất kỳ, quan trọng là ở 3 file Winamp.ini, Autorun.inf, Winamp.m3u. Nếu CD không hoạt động như ý, bạn chỉ cần chỉnh lại cấu trúc 3 file này là được. Một điều cũng khá quan trọng là bạn phải đảm bảo máy của mình không có virus. Nếu có virus, Winamp cũng có nguy cơ bị nhiễm, và như thế rất nguy hiểm nếu bạn có ý định trao tay hay gởi tặng CD cho bạn bè, người thân...
Khoa Học Phổ Thông
Lên Trên

Cấu hình các thông số mặc định để tăng tốc độ truy nhập với Tz Connecti
TZ Connection Booster có thể giúp bạn tận dụng hết khả năng của đường truyền Internet bằng cách thay đổi và tối ưu hóa các thông số mặc định của hệ điều hành Windows. Những tham số này vốn được thiết lập từ trước nhưng không thể thay đổi được theo cách thông thường (không có sự trợ giúp của công cụ).
Tùy theo từng dạng kết nối đang sử dụng mà các thông số sẽ được thay đổi cho phù hợp. Nếu bạn không thật sự hiểu rõ hết ý nghĩa của từng thông số đấy thì TZ Connection Booster sẽ giải nghĩa rất chi tiết và đưa lời khuyên bạn nên làm thế nào.
Quá trình cài đặt rất đơn giản, bạn chỉ việc chạy tệp tin cài đặt và chấp nhận các điều kiện mà TZ Connection Booster đưa ra. Khi hoàn tất chương trình sẽ tự khởi động. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng thì mọi thao tác của chương trình đều được thực hiện nhờ một trình Wizard (thuật sĩ) với các hình minh họa và giải nghĩa chi tiết từng thông số một để giúp người dùng hiểu rõ ý nghĩa của những thông số này.
Ngay tại màn hình đầu tiên, bạn hãy chọn ngôn ngữ sử dụng. Ngoài tiếng Anh thông dụng chương trình còn hỗ trợ tiếng Tây Ban Nha (Spanish). Nhấn Process để bước sang bước kế tiếp. TZ Connection Booster được cấu hình thông qua 8 bước với các thông số đặc trưng khác nhau:
Bước 1 - Choose Connection Type: Chọn lựa kết nối để tối ưu hóa các thông số cho từng dạng riêng biệt. TZ Connection Booster đưa ra bốn dạng kết nối cho bạn chọn. Tùy theo nhu cầu mà bạn hãy chọn tuỳ chọn tương ứng.
Bước 2 – Specify MTU Settings: Thiết lập thông số MTU (Maximum Transmission Unit) cho kết nối. Trị số càng cao thì càng có lợi. Tuy nhiên tùy theo dạng kết nối thì thông số MTU sẽ khác nhau. Nếu bạn không thật sự hiểu rõ thì hãy chấp nhận giá trị TZ Connection Booster đưa ra cho dạng kết nối đã chọn
Bước 3 – Other MTU Settings: Thiết lập thông số khác cho kết nối. Đó là Remote network MTU và Black Hole routers. Bạn có thể tìm hiểu nội dung của từng thông số này được trình bày rất chi tiết ngay trong cửa sổ của chương trình. Theo mặc định, Remote network MTU được kích hoạt còn Black Hole router sẽ bị vô hiệu hóa. Hãy chấp nhận sự lựa chọn mà TZ Connection Booster đưa ra.
Bước 4 – RWIN Settings: Thiết lập thông số RWIN (Receive Window) cho kết nối. Tương tự như trên, TZ Connection Booster sẽ giải thích thông số RWIN là gì và cách tính như thế nào để ra được một con số hợp lý cho từng dạng kết nối. Bạn chỉ có thể thay đổi một thông số Multiplier nhưng RWIN cũng sẽ thay đổi theo. Chọn cho mình một con số hợp lý hay chấp nhận thông số mặc định mặc định mà TZ Connection Booster đưa ra thuộc quyền quyết định của bạn.
Bước 5 – TTL Settings: Thiết lập thông số TTL (Time to Live) và tối ưu hóa thông số tùy theo từng dạng của HTTP Servers cho kết nối. Hãy chấp nhận giá trị mặc định mà chương trình đưa ra.
Bước 6 – Keep Alive Settings: Thiết lập thông số KAT cho kết nối. Đây là thông số giúp bạn giữ được kết nối với server để truyền tải dữ liệu tránh tình trạng Disconnect đột ngột thường gặp ở dạng Dial-up. Các giá trị ở đây được tính theo milligiay. Bạn có thể tự chọn một con số khác mặc định của chương trình cũng được nhưng không được quá lớn.
Bước 7 – SYN Flood Attack Settings: Thiết lập thông số SYN để bảo vệ cho hệ thống cũng như cho kết nối. Thông số này có thể nhận 3 giá trị lần lượt là 0,1 hoặc 2 tương ứng với ý nghĩa được trình bày trong cửa sổ chương trình. Theo mặc định, TZ Connection Booster đề nghị bạn dùng cách thức bảo vệ cao nhất là 2 để có thể nâng cao độ an toàn của hệ thống cũng như cho kết nối.
Bước 8 – ICMP Redirect Attack Settings: Thiết lập thông số ICMP (Internet Control Message Protocol) cho kết nối. Mặc định vô hiệu quá được TZ Connection Booster đưa ra. Tốt nhất bạn nên chấp nhận yêu cầu này để bước sang bước cuối cùng.
Cửa sổ cuối cùng của TZ Connection Booster đưa ra lời khuyên cùng hướng dẫn cách thức tăng tốc độ họat động của Modem bằng cách thay đổi lần lượt các giá trị trong mục Maximum Port Speed và chọn một thông số thật sự họat động tốt trên hệ thống của bạn. Nhấn Finish để chương trình tiến hành công việc. Khi đó những thông số đã thiếp lập ở các bước sẽ có hiệu lực. Khởi động lại máy tính thì quá trình tăng tốc mới được hoàn tất.
Chương trình được cung cấp miễn phí tại website: http://www.trackzapper.com/ với dung lượng khoảng 564 KB, tương thích với mọi hệ điều hành Windows.
Theo Tạp chí BCVT-CNTT - VDCOnline
Lên Trên

DVD Shrink nén đĩa phim DVD mà vẫn giữ nguyên chất lượng
Bạn có một bộ phim trên đĩa DVD “hai lớp” 8.5 GB, muốn sao lưu lên một đĩa DVD thông dụng (một lớp - 4.7 GB) thì làm như thế nào? Giải pháp là: hãy nhờ đến DVD Shrink. Ngoài chức năng nén phim DVD, phần mềm miễn phí này có có thể sao lưu nguyên dạng hoặc thiết kế lại một đĩa phim DVD. Bài viết sẽ hướng dẫn bạn cách sử dụng DVD Shrink.
Hiện nay trên thị trường, đa số các đĩa phim DVD vẫn là đĩa DVD-5 (Single Layer 4.7 GB), nhưng đĩa DVD-9 (Dual Layer 8.5 GB) cũng đã có xuất hiện nhiều. Nếu bạn sao chép loại đĩa phim này vào ổ cứng thì chỉ được chừng chục phim là đã “hết đĩa”. Hoặc bạn muốn sao chép từ một đĩa DVD-9 sang đĩa DVD-5 mà vẫn giữ nguyên cấu trúc thì phải làm sao? Giải pháp tốt nhất là dùng một phần mềm nào đó để nén đĩa DVD nhưng vẫn phải đảm bảo hình ảnh mượt mà và âm thanh trung thực. Một phần mềm miễn phí nhưng có khả năng rất mạnh trong công việc này chính là DVD Shrink (cần lưu ý phân biệt với một chương trình nén phim DVD khác là Easy DVD Shrink không tiện dụng bằng).
TÍNH NĂNG
Có thể điểm qua một số tính năng chính của DVD Shrink như sau:
- Trước hết, đây cũng có thể coi là một phần mềm sao lưu đĩa phim DVD. Mặc dù chức năng nổi bật của nó là nén phim DVD vẫn giữ nguyên cấu trúc, nhưng nếu không sử dụng tính năng nén thì bạn sẽ có một bản sao phim DVD y hệt bản gốc. Bạn có thể sử dụng chương trình này kết hợp với một chương trình ghi đĩa DVD nào đó để sao chép phim DVD.
Đặc biệt, nếu bạn đã cài đặt chương trình ghi đĩa phổ biến là Nero, thì DVD Shrink có tùy chọn sử dụng Nero để ghi những đĩa DVD mà bạn đã sao lưu. Điều này rất tiện lợi vì không phải mất công mở Nero để ghi đĩa nữa. Để đảm bảo chức năng này có hiệu lực, bạn hãy vào Edit > Preferences, chọn thẻ File I/O rồi đánh dấu chọn Enable Burning With Nero.
- DVD Shrink còn có khả năng sao chép những đĩa DVD đã được mã hóa với mục đích ngăn ngừa việc sao chép. DVD Shrink giải quyết được vấn đề này với thuật toán giải mã được xây dựng sẵn trong chương trình.
- Và chức năng chính, mạnh nhất và nổi bật nhất của chương trình là nén đĩa phim DVD. DVD Shrink có khả năng nén hay rút gọn dữ liệu từ đĩa nguyên gốc. DVD Shrink phiên bản 3.2 chứa thuật toán nén tiên tiến, giúp quá trình nén đạt được hiệu quả hơn. Nó có thể nén từ đĩa DVD-9 sang trọn một đĩa DVD-5, vẫn giữ nguyên cấu trúc, chất lượng không khác bao nhiêu so với đĩa ban đầu. Ngoài ra chương trình còn có thể nén đĩa DVD-5 đến một tỉ lệ nào đó mà chương trình cho phép. Tỉ lệ nén này đối với mỗi đĩa là hoàn toàn khác nhau, được chương trình đưa ra khi phân tích đĩa DVD này.
- DVD Shrink còn cho phép bạn thiết kế lại một đĩa phim DVD. Bạn có thể làm một đĩa DVD từ một hay nhiều nguồn khác nhau, hoặc bạn có thể chỉ chọn một phần nào đó của phim DVD mà bạn đang có để ghi ra một đĩa DVD khác.
- Một ưu thế của DVD Shrink so với các chương trình khác có tính năng tương tự, đó là chương trình này hoàn toàn miễn phí..
SỬ DỤNG
Sau khi chương trình đã mở ra, bạn hãy bấm vào nút Open Disc, sau đó lựa chọn ổ đĩa có chứa đĩa phim DVD. Ổ đĩa này có thể là ổ đĩa DVD hoặc ổ DVD ảo. Bạn cũng có thể lựa chọn đĩa DVD từ ổ cứng bằng cách bấm vào nút Open Files rồi chọn đường dẫn chứa đĩa DVD. Chương trình sẽ phân tích cấu trúc của đĩa phim này. Quá trình này diễn ra nhanh hay chậm tùy thuộc vào tốc độ của máy và dung lượng đĩa, thường chỉ mất vài phút.
Sau đó, chương trình sẽ hiện ra cấu trúc của đĩa DVD gồm có Thuc don và phần phim chính. Trong mỗi mục lại có nhiều mục nhỏ hơn nữa. Bạn bấm chọn vào từng mục rồi lựa chọn những thứ cần thiết trong ô Compression Settings. Nếu bạn muốn giữ lại tất cả mọi thứ trong đĩa DVD thì công việc còn lại của bạn khá đơn giản. Bạn bấm vào thư mục cao nhất trong cấu trúc của đĩa DVD (có hình đĩa DVD), rồi lựa chọn kiểu nén. Chương trình cung cấp nhiều lựa chọn để nén nhưKhongCompression, Automatic, Custom Ratio... Tùy vào mục đích của bạn để lựa chọn những tùy chọn thích hợp:
-KhongCompression: Nếu bạn muốn sao chép đĩa y hệt đĩa gốc, không nén gì hết thì hãy lựa chọn mục này.
- Automatic: Chương trình tự động lựa chọn tỉ lệ nén đĩa DVD giùm cho bạn.
- Custom Ratio: Người sử dụng tự lựa chọn tỉ lệ nén. Bạn kéo thanh trượt về phía bên trái để tăng tỉ lệ nén. Cùng lúc đó thì thanh màu xanh biểu thị dung lượng đĩa DVD cũng giảm dần. Bạn có thể kéo thanh trượt về sát phía bên trái để có được tỉ lệ nén tốt nhất. Bạn cũng yên tâm vì tỉ lệ nén tốt nhất này vẫn cho hình ảnh không thua gì so với đĩa DVD ban đầu đâu.
Sau khi đã xác định xong tỉ lệ nén, bạn hãy bấm vào nút Backup để chuẩn bị quá trình sao lưu đĩa DVD. Một cửa sổ Backup DVD hiện ra để bạn thiết lập:
+ Thẻ Target Device: Bạn lựa chọn kiểu lưu đĩa DVD. Bạn có thể ghi thẳng đĩa này vào một đĩa DVD khác bằng Nero, hoặc lưu trong ổ cứng. Có nhiều lựa chọn để lưu trong ổ cứng như lưu đĩa DVD này thành tập tin .iso hoặc lưu vào ổ cứng theo cấu trúc của đĩa DVD.
Sau đó bạn lựa chọn thư mục tạm (nếu ghi thẳng vào đĩa DVD) hoặc thư mục để lưu vào ổ cứng trong ô tương ứng phía dưới.
+ Thẻ Quality Settings: Đây là thẻ khá quan trọng để có đĩa DVD chất lượng tốt. Bạn đánh dấu cả 2 mục phía dưới:
- Perform Deep Analysis Before Backup To Improve Quality (thực hiện phân tích sâu trước khi sao lưu để tăng cường chất lượng): Đĩa DVD sau khi nén sẽ có chất lượng gần tương đương với đĩa ban đầu.
- Compress Video With High Quality Adaptive Error Compensation (AEC): Khi video được nén, những lỗi nhỏ sẽ xuất hiện, đây là điều không thể tránh khỏi đối với tất cả các chương trình nén. DVD Shrink cũng không là ngoại lệ. AEC phụ thuộc vào CPU và tốc độ của máy tính, có thể mất khoảng 1 giờ hoặc nhiều hơn để hoàn thành, nhưng bù lại, nó sẽ cung cấp một chất lượng tốt nhất cho DVD của bạn.
Nếu bạn kích hoạt AEC, bạn có thể lựa chọn giữa Sharp (sắc nét) hoặc Smooth (mượt mà), mặc định của chương trình là Sharp.
+ Thẻ Lua chon: Đánh dấu chọn Shutdown Computer When Backup Is Complete để chương trình tắt máy tính sau khi sao lưu xong.
Sau khi đã chọn xong các mục, bạn bấm OK để chương trình bắt đầu làm việc. Quá trình sao lưu khá lâu nên bạn cần tính toán thời gian trước khi bắt đầu. Thậm chí bạn có thể chọn lúc sắp đi ngủ để thực hiện, vì chương trình có thể tự động tắt máy tính giùm bạn mà.
Phiên bản 3.2.0.15 của DVD Shrink có dung lượng rất nhỏ gọn, chỉ 1.06 MB. Bạn có thể download miễn phí phiên bản tiếng Anh của chương trình tại đâydownload 1 hoặc download tại download 2
Làm Bạn Với Máy Vi Tính
Lên Trên

Chương trình biên tập DVD nhanh chóng & đơn giản
Nếu trước giờ bạn vẫn thường thích làm những đĩa VCD sưu tập nhạc, hình, phim... thì nay hẳn bạn đã sẵn sàng chuyển sang làm đĩa DVD ngay khi tậu được một đầu ghi loại đĩa này. Và nếu bạn muốn tìm một phần mềm có thể giúp mình thực hiện công việc tạo ra một đĩa DVD sưu tập vừa mang tính chuyên nghiệp lại vừa nhanh và dễ sử dụng thì hãy thử dùng TMPGEnc DVD Author. Bạn sẽ thấy được điều này qua bài viết sau.
Bây giờ có lẽ không còn mấy ai muốn xem VCD nữa trong khi đã có DVD chất lượng cao hơn hẳn, cả về hình ảnh lẫn âm thanh. Vì vậy mà rồi cũng sẽ đến lúc những bạn hiện còn đang cặm cụi làm những VCD sẽ chuyển sang làm DVD ngay khi tậu được đầu ghi DVD, mà giá cả đầu ghi DVD thì ngày một xuống...
Phần mềm biên tập đĩa DVD nhanh chóng và đơn giản nhất, ít nhất là dành cho dân nghiệp dư, chỉ có thể là TMPGEnc DVD Author (TE) 1.6.34. Phần mềm này có thể được lưu hành dưới dạng một bản riêng hoặc kết hợp trong bộ TMPGEnc Studio phiên bản 1.
+ Giao diện chương trình
Thiết kế đồ họa giản dị, từng bước thực hiện thể hiện khá rõ ràng nên rất dễ sử dụng, giúp thao tác nhanh chóng qua các lớp nút như hình minh họa.
+ Những đặc điểm nổi bật nhất của DVD Author:
- Chấp nhận những kiểu định dạng DVD xuất từ các trình Encoder khác nhau như Cyberlink (PowerEncoder MPEG4 AVC Edition), MainConcept (H.264 Encoder). Điều này giúp cho bạn không phải mất thêm một khoảng thời gian chuyển mã lại như khi dùng chương trình Nero (Vision version 3) hay Ulead (DVD MovieFactory 4.0).
- Nếu bạn đã tập hợp được một số lượng các video MPEG-2 có cùng độ phân giải, hệ NTSC, thuộc 1 trong 3 dạng sau thì mọi thứ đều sẽ được chấp nhận dễ dàng và nhanh chóng được biên tập lên DVD:
1. Độ phân giải 720 x 480 (chất lượng cao nhất).
2. Độ phân giải 640 x 480 (chuẩn của nhiều DVD thông thường).
3. Độ phân giải tương tự như VCD (352 x 240) nhưng chất lượng cao hơn (chuẩn DVD này có thể dài hơn 4 giờ rưỡi video).
+ Biên tập đĩa DVD cực kỳ dễ dàng:
Bước 1: Mở trình TMPGEnc DVD Author (TE). Chọn Start > Create New Project để tạo một dự án mới. Thường, bạn phải chọn vào thanh này nếu bắt đầu biên tập một DVD hoàn toàn mới. Bạn cũng có thể bấm Open Existing Project File để mở một dự án đang làm dở dang và lưu lại trước đó.
Bước 2: Bấm Sources Setup (tạo nguồn video sử dụng), chọn Add File để nhập video từ ổ cứng hoặc từ nguồn đĩa DVD đang có. Bấm Settings, đặt tên cho đoạn video của mình để phân biệt với các track khác trên đĩa. Nếu file video DVD quá dài, bạn có thể bấm Edit bên dưới khung hình video để chia thành nhiều phần (thường được đặt tên là các Chapter 1, 2, 3...) để sau này khi xem trên DVD Player có thể bấm Next trên Remote, khỏi phải chọn nút Scan vừa mất thời gian vừa hại mắt đọc đĩa. Trên một track có thể chứa nhiều Video, kèm theo đó là các Chapter (phân đoạn).
Bước 3: khi hoàn tất bước nhập các video, thanh báo dung lượng chứa trên DVD đã hơn 4 GB là lúc chuyển sang bước Create Thuc don (tạo là Chỉ mục). Trong hình minh họa, kiểu theme Thuc don được chọn là Cool 1.
Nếu muốn thay các giá trị mặc định của Thuc don (Chỉ mục), bạn vào Thuc don Display Settings. Phần này có các thẻ như General, chủ yếu cho bạn tùy chọn cách mở đầu của DVD, hoặc play một clip giới thiệu khi bỏ đĩa vào đầu máy, hoặc hiện ngay Thuc don chính của DVD..., bạn nên chọn cách đơn giản nhất là phát hết từ đầu đến cuối, chỉ hiện ra Thuc don nếu bấm nút trên Remote. Phần kế tiếp thông tin về các phân đoạn (Chapter display), bên cạnh là Motions Thuc don bạn đánh dấu chọn vào các giá trị như trong hình minh họa. Cuối cùng là phần Highlight color (chọn màu khi bấm nút mũi tên lên các video của Thuc don chính hay Thuc don thành phần) bao gồm màu chọn và màu kích hoạt, bạn có thể thay đổi tùy ý.
Lưu ý: số giây của chuyển động của các video mẫu (Motion Thuc don) trên Thuc don càng nhiều thì chiếm dung lượng đĩa nhiều hơn và quá trình hoàn thành các Thuc don lâu hơn
Bước 4: hoàn tất giao diện Thuc don động là coi như phần công việc chuẩn bị đã xong. Bây giờ bạn hãy chọn Create DVD Folder (Tạo thư mục DVD).
Trong Output folder (Thư mục xuất ra) tạo một thư mục mới rỗng trên ổ cứng để chứa toàn bộ nội dung DVD. Sau này, khi quá trình xuất ra hoàn tất, bạn chỉ việc vào thư mục này rê kéo 2 thư mục Audio_TS và Video_TS vào bất kỳ trình “burn” DVD nào mà bạn quen dùng nhất.
+ Một số kinh nghiệm sử dụng:
- Trình biên tập đĩa DVD tiện lợi vì có hỗ trợ những template về Thuc don, các nút, layout đa dạng và lựa hình nền phong phú. Đặc biệt, nếu không thấy hài lòng với những cái có sẵn, bạn vẫn có tự tay làm lấy cho mình những Thuc don mẫu mã riêng rồi lưu chúng lại để khi cần có thể sử dụng.
- Thiết lập chỉ cần có định dạng MPEG-2 của chuẩn DVD và cùng một độ phân giải. Hiện tại rất có nhiều loại MPEG-2 (DVD) với nhiều định dạng khác nhau: cao nhất (High Quality) từ 8.000 -10.000 kbps là 720 x 480 chỉ có thể chứa hơn 1 giờ đồng hồ; loại tiêu chuẩn thường được sử dụng trên khá nhiều DVD nhạc, phim thông dụng là 2 giờ (120 min) video thì khoảng 6.000 kbps. Bạn vẫn có thể giữ chuẩn 720 x 480 nhưng chọn tốc độ truyền (kbps) sao cho vừa vặn trên một đĩa 4.7 GB và không sợ thời gian bị giới hạn bởi 1 hay 2 giờ video. Thực hiện việc này bằng DVD Source Creator (trong bộ TMPGEnc Studio 1).
- Tốc độ biên tập đĩa DVD của TMPGEnc DVD Author 1.6.34 là “vô địch” so với 3 “gã khổng lồ” khác cùng chức năng là PowerProducer 3 (Cyberlink), Easy Media Creator 7.5 (với DVD Builder) của Roxio, Ulead DVD MovieFactory 4.
- Ngay trong giao diện của bước Start, nếu bạn chỉ muốn ghi DVD đơn giản không cần Thuc don thì chọn Write DVD Folder to DVD R/RW: Bạn bấm nút Browse tìm đến thư mục chứa các tập tin video của DVD và nhập vào cho đến khi thanh báo dung lượng vượt qua mức 4 GB (với dạng DVD-5 là 4,7 GB). Bạn có thể chọn xuất ra dạng ảnh ISO để ghi DVD bằng các trình biên tập khác, hoặc tiếp tục chọn ISO ra DVD, chọn tốc độ ghi, ổ ghi DVD, tựa đĩa bằng chính phần mềm này. Công cụ này được dùng như một trình Copy DVD mà không cần cài thêm các phần mềm sao lưu DVD nào khác.
Làm Bạn Với Máy Vi Tính
Lên Trên