Chào Mừng Bạn Đến Với Chuyên Mục Hệ Điều Hành Window
[Đăng Nhập|Đăng Kí]


Nâng Cấp Window
Các Bước Cần Thực Hiện Trước Khi Cài SP2 Cho Win XP
Tùy Biến Thao Tác Copy Và Cắt Trong HĐH Window
Tăng Tốc Nén Thư Mục, Tập Tin Trong Win XP
Sử Dụng Win 2000/NT Key/XP Để khôi phục Password
Sử dụng Briefcase trong Windows XP
Thay đổi thông tin đăng ký trong System Properties Windows XP
Mẹo nhỏ cho hệ điều hành Windows
Một số thủ thuật đơn giản trên WIindows
Ghi đĩa trực tiếp từ Windows Explorer
10 bước "phòng thủ" cho Windows
Sổ tay PC: Tối ưu hóa cho Windows
Một số mẹo khi dùng máy tính
“Ảo hoá” đa hệ điều hành
Thủ thuật cứu các file dữ liệu đã bị xóa
Tự động làm sạch thư mục Prefetch khi shutdown
Gõ dấu tiếng việt trong Notepad của Win XP
Thủ thuật buộc hệ thống sinh ra màn hình xanh
Sửa lỗi hiện không gỡchương trình được trong Add/ Remove program
Bạn có biết cách xoá dữ liệu?
Di chuyển dữ liệu sang máy tính mới
Tham khảo cách đoạt quyền admin trong XP
Đồng hồ treo tường cho Windows Vista
Tìm hiểu các dịch vụ của Windows
Khởi động nhanh các chương trình thường dùng
Giảm thời gian boot của WinXP
TỰ TAY TĂNG TỐC WINDOWS :
Hiểu thêm về cấu hình mặc định trong WindowsXP SP2
Khai thác các dịch vụ trong Windows 2000, XP, 2003 cải thiện hiệu suất làm việc
Tham khảo cách đoạt quyền admin trong XP

TỰ TAY TĂNG TỐC WINDOWS :
1/Lấy trình điều khiển mới nhất đi bạn :
-Có 1 lý do vì sao luôn đề cập đến vấn đề này trong hầu hết các câu trả lời về tăng tốc windows XP. Là bước đầu tiên phải đạt được , khi bạn có trình điều khiển mới nhất đồng nghĩa với việc giúp cho Windows quản lý phần cứng tốt hơn và tránh bị lỗi hơn. Trong suốt quá trình sử dụng driver mới , bạn đã cho tăng tốc cho Windows rất nhiều. Tuy nhiên , nếu không có điều kiện để cập nhật driver cho tất cả các phần cứng , bạn cố gắng tìm cho ra trình điều khiển cho 1 số hardware được xem là cực kỳ cần thiết theo thứ tự sau : Card màn hình, Driver cho Chipset trong mainboard ( còn gọi là FirmWare ). Còn nhưng phần cứng khác như bàn phím , chuột , hay các thiết bị USB thì không cần phải tiến hành thưỿng xuyên. Chúng chỉ nên được thay thế driver khi bạn đã có kinh nghiệm xử lý các vấn đề phần cứng nâng cao.
+Cố giải quyết :
- Bạn gắn 1 thiết bị USB vào cổng USB 2.0 trên máy mình. . . . . . . .không có gì xảy ra. Không có hiện tượng nào cho thấy Windows XP nhận ra phần cứng bạn vừa gắn vào. Bạn rút ra , gắn vô lại. . . . . . . .vô ích. Thất vọng , bạn để sang 1 bên tiếp tục vào Device Manager để tìm hiểu. Bạn nhận thấy Windows trở chậm hơn , hình bị giật , chuột di chuyển chậm chạp , shutdown lâu hơn....Rốt cuộc cái gì đang xảy ra ? Mặc dù được cho là hỗ trợ tốt USB 2.0 , tuy nhiên Windows XP vẫn còn gặp rất nhiỿu lỗi trong việc quản lý chính các cổng USB 2.0 có trên bo mạch. Điều này có thể khiến bạn tửơng nhầm thiết bị mình gặp vấn đề nhưng thật ra là do Windows đã không họat động với driver mặc định của nó đối với cổng USB 2.0. Nếu bạn bắt gặp USB 2.0 Enhanced Host Controller Driver trong phần driver USB , bạn chắc chắn không sử dụng được 1 số thiết bị HighSpeed USB 2.0. Lý do là vì trình điều khiển này không họat động với 1 số USB 2.0 của mainboard Intel. Bạn nên sớm vào www.microsoft.com tìm bản sửa lỗi hay driver để sửa vấn đề này.
-Bạn vô tình cài nhầm driver cho chuột hay bàn phím và bây giờ chúng không họat động ? Nhấn F8 trong quá trình khởi động máy để vào chế độ Safe Mode , cài lại driver cho chúng. Mọi thứ bạn cần là sự bình tĩnh. Thế thôi.
2/Hiệu ứng hình ảnh trong giao tiếp giữa Windows và người dùng :
-Bạn đừng suy nghĩ nhiều về cái tên khá dài bên trên ấy. Thật ra nó chỉ là hiệu ứng đồ họa trong Windows XP thôi. Như là bóng mờ trên Menu Start , cửa số động , bóng mờ trên trỏ chuột...Tất cả những thiết lập ấy tạo cho Windows một dáng vẻ hòan mỹ. Nhưng sự hòan mỹ ấy chẳng phải là hòan hảo. Hiệu ứng càng chi tiết , công sức của Card màn hình bỏ ra càng nhiều khiến hệ thống bị trì trệ. Nếu là người dùng đòi hỏi tốc độ và không cần rườm rà , bạn hãy lọai bỏ nhưng thiết lập mặc định của Windows XP này.
+Đầu tiên , bạn vào System Properties bằng phím Windows + Pause/Break hay trong Control Panel/System hoặc chọn Properties trong Menu chuột phải của biểu tượng My Computer trên màn hình. Tiếp đến , bạn nhìn lên tìm thẻ Advanced , mục Settings của khung Performance. 1 menu mở ra , bạn tìm đến Visual Effects , đánh dấu chọn cho "Adjust for best performance". Vậy là xong. Bạn cũng có thể tự đánh dấu chọn cho một số hiệu ứng, không bắt buộc phải bỏ hết.
+ ÿ nghĩa các hiệu ứng
*Animated windows when minimizing and maximizing : Hiệu ứng cho cửa sổ Windows mỗi khi đóng hoặc mở
*Fade or Slide menus into view : Hiệu ứng mờ-rõ dần hay lướt qua-dừng khi xuất hiện của các Menu ( Danh sách )
*Fade or Slide Tooltips into view : Hiệu ứng mờ-rõ dần hay lướt qua-dừng khi xuất hiện của các Tooltip ( các thông báo chỉ dẫn , trợ giúp )
*Fade out menu menu items after clicking : Hiệu ứng rõ-mờ dần khi bạn đóng hay thực thi 1 lệnh trong Menu
*Show shadows under menus : Bóng mờ bên dưới menu
*Show shadows under mouse pointer : Bóng mờ bên dưới trỏ chuột
*Show translucent selection rectangle : Hiển thị khung hình chữ nhật xuyên suốt khi chọn các biểu tượng
*Show window content while dragging : Hiển thị nội dung cửa sổ khi kéo
*Silde open combo boxes : Rớt xuống từ từ-dừng đối với hộp danh sách đổ xuống
*Slide taskbar button : Hiệu ứng lướt qua-dừng đối với các cửa sổ hiển thị trên thanh Task bar
*Smooth edges of screen fonts : Làm sắc nét font chữ
*Smoot-scroll list boxes : Làm sắc nét thanh cuộn các hộp danh sách lựa chọn
*Use a background image for each folder tyoe : Sử dụng hình nền cho các lọai folder , như MP3 , hình ảnh, Text ...
*Use common task in folders : Dùng menu tiện ích bên trái cho các folder
*Use drop shadows of icon labels on the desktop : Dùng hiệu ứng bóng đổ cho các nhãn của những biểu tượng trên màn hình
*Use windows visual styles on windows and buttons : Hiệu ứng giao diện chung cho tòan bộ cửa sổ , nút bấm.. của windows
- Ở đây đã liệt kê ra hết các tính năng tùy chọn của việc thiết lập hiệu ứng hình ảnh của Windows XP , một số nên bỏ đi , còn 1 số bạn nên giữ lại cho tiên lợi trong quá trình dùng Windows. Tùy theo mỗii người chúng ta mà có 1 cách chọn khác nhau. Điều này không gây nguy hại cho hệ thống.
+ Thủ thuật :
- Ngọai trừ bỏ bớt hiệu ứng hình ảnh , bạn nên dọn bớt những biểu tượng trên màn hình , phần giúp dễ nhìn hơn và một phần giảm bớt sức năng cho card màn hình. Nếu không dùng đến chúng , theo ý kiến riêng , Silvery Hat Hacker đề nghị bạn đem Shortcut của các ổ đĩa có trong máy bạn để vào thanh Quick Lauch , trên màn hình , nhấn phải vào Arrange Icons , bỏ chọn mục "Show Desktop Icons". Vậy là công việc đồ họa trên màn hình Desktop được giảm đi rất nhiều. Nâng cao quá trình xử lý các vấn đề khác của CPU...
3/ Ŀóng các ứng dụng đang chiếm tài nguyên hệ thống
- 1 số nhiều các phần mềm được lập trình không chuyên hiện nay có đầy trên mạng. Bạn vô tình tải nó về và sử dụng nhưng càng chạy lâu bao nhiêu thì máy càng trở nên chậm chạp bấy nhiêu....Windows bạn khởi động vào quá chậm vì phải tải nhưng phần mềm định sẵn. Nhiều lý do khiến cho máy bạn chậm chạp năng này , nhưng yếu tố chính vẫn liên quan 1 phần lớn đến tài nguyên hệ thống. Khi bạn đóng bớt những ứng dụng không cần tới thì bạn đã giải phóng 1 lượng lớn năng lực họat động của CPU. Vì vậy , ngòai việc cài đúng Driver , giảm công việc cho Card màn hình , bạn cũng luôn phải chú ý đến CPU , bộ não của tòan bộ máy nữa.
- Ŀể dẹp mấy chương trình này , một cách tận gốc , bạn phải ghé thăm Registry và thư mục StartUp và dọn tất cả những khóa , tập tin linh tinh. Nghe như dành cho người dùng chuyên nghiệp vậy , bạn đừng lo , Tôi khuyên bạn , nếu là người mới , đừng nên đụng chạm đến Registry mà hãy dùng Msconfig để mà hiệu chỉnh. Từ Menu Start , lệnh RUN , bạn đánh vào msconfig.exe. Một ứng dụng sẽ xuất hiện gồm có 6 thẻ , đó là :
+General : chọn kiểu khởi động
*Normal StartUp : khởi động bình thường
*Diagnostics StartUP : chỉ khởi động máy kèm theo những dịch vụ , thiết bị cần thiết. Không gọi các ứng dụng nào khác
*Selective StartUP : Tự chọn thành phần khởi động - Bạn đừng nên đụng đến cái này nếu không biết rõ mình đang làm gì.
2 nút bấm ở dưới Launch System Restore - hồi phục bản sao lưu cuối cùng và Expand file - hồi phục 1 tập tin bị hư hỏng nào đó.
+System Ini , Win Ini , Boot Ini : Tốt nhất là để yên cho chúng bạn à.
+Services : Những dịch vụ chạy theo Windows. Ŀây là 1 trong những tác vụ tốn nhiều tài nguyên hệ thống nhất. Chúng ta sẽ trở lại đề tài này trong chủ đề kế tiếp
+StartUP : Nơi chứa những phần mềm sẽ được gọi khi Windows khởi động.
Cốt lõi của Phần 3 này tập trung vào đây. Bạn bỏ chọn những trình nào không cần thiết và nhấn Ok hay Apply , đơn giản. Nhưng mà , lựa chọn để bỏ 1 phần mềm không phải là điều dễ dàng. Bạn đừng vội vàng mà bỏ hết. 1 số dịch vụ cần thiết cho phần mềm nào đó. Trước khi quyết định bỏ 1 phần mềm , trong bảng StartUP đó , bạn được mục Location ở dưới 1 chút. Tìm hiểu kỹ đường dẫn đó được liên kết đến tập tin nào. Từ đó có cơ sở rõ ràng để an tâm lọai bỏ nó. Nếu thủ thuật trên vẫn chưa đưa cho bạn 1 lợi ích nào , cố thử tìm tập tin đó , nhấn phải , chọn mục Properties , thẻ Version. Từ đây bạn có thể tìm hiểu về Nhà sản xuất , phiên bản , tên thật của tập tin đó.
-Một chú ý nho nhỏ , bạn đừng bao giờ bỏ các ứng dụng nào có liên quan đến chữ RUNDLL32. Bạn có thể sẽ phá họai 1 tác vụ nào đó của Windows.
-Sau khi đã bỏ nhưng thứ không cần thiết , bạn khởi động lại máy là xong. 1 chút khó khăn nhưng bù lại kết quả nhận được rất xứng đáng với công sức bỏ ra.
4/Lọai bỏ các dịch vụ không cần đến :
-Như đã nói qua ở Phần 3 - Services ( các dịch vụ ) là 1 trong những tính năng mới của Windows XP nhằm hử trợ tôt hơn cho các nhóm người dùng WinXP như hử trợ mạng không dây, quản lý SmartCard.... Nhưng nếu bạn không thuộc nhóm người dùng chuyên nghiệp thì bạn đâu cần đến nhưng dịch vụ chuyên nghiệp phải không ? Ŀã đến lúc tắt bớt một vài trong số chúng rồi. Theo Control Panel để vào được Administrative Tools, nhìn trong cửa sổ bạn nhận thấy nhiều biểu tượng, tìm đến Services và click chúng. 1 menu mới mở ra , cẩn thận bạn từng bước mở lớn của số này ra...Trong màn này , 1 số tác vụ bạn phải biết trước khi vượt qua được bao gồm như sau :
Giúp bạn tăng tốc Windows XP
-Muốn bỏ 1 dịch vụ , bạn 2 lần nhấn trái lên dòng hiển thị dịch vụ đó .Menu mới lại xuất hiện. Ngay giữa tầm nhìn mắt bạn , có dòng chữ nằm phía bên trái ghi là Startup type. trong hộp danh sách đổ xuống bên cạnh, bao gồm 3 lựa chọn Disable ( Vô hiệu hóa ) , Manual ( Người dùng quyết định cho chạy hay không ) và cái đầu tiên là Automatic ( Tự chạy ). Vô hiệu hóa 1 dịch vụ nào đó dẫn đến rắc rối về sau ,bạn lập tức trở lại khu vực này , mở lại dịch vụ đó để tránh gặp thêm nhiều phiền phức. Nếu còn do dự không biết nên đóng dịch vụ nào, để dịch vụ nào
Lên Trên
Hiểu thêm về cấu hình mặc định trong WindowsXP SP2
_______________________________________
Microsoft đã thông báo một danh sách dài các chương trình máy tính bị ảnh hưởng bởi bản vá SP2 của mình, bao gồm cả những sản phẩm của hãng. Các chuyên gia bảo mật đưa ra lời khuyên nên thận trọng khi sử dụng bản cập nhật này. Nên xác định rõ nó sẽ làm việc tốt với những cài đặt có sẵn trên máy của bạn trước khi sử dụng. Bạn có thể sẽ gặp rắc rối với việc một số chương trình mà bạn đang dùng bị vô hiệu hoá hoặc chạy khác thường. Ngay cả những quản trị viên máy tính sành sỏi cũng gặp khó khăn trong việc làm quen và sử dụng bản vá SP2.
Nguyên nhân chính dẫn tới hiện tượng trên là do SP2 mặc định cho FireWall của Windows ngăn chặn các nối kết không được yêu cầu từ bên ngoài nhằm tăng cường bảo mật cho máy tính. Trong khi đôi lúc bạn vẫn có nhu cầu có những nối kết ngoại lệ từ bên ngoài vào máy tính của bạn. Ví dụ:
+Khi bạn chơi 1 game multiplayer trên mạng.
+Khi bạn cần nhận file thông qua 1 chương trình instant message.
Sau khi bạn cài đặt SP2, các ứng dụng client trên máy của bạn có thể không nhận được thông tin, dữ liệu từ server. Ví dụ:
+Một ứng dụng FTP Client.
+Một phần mềm multimedia streaming
+Thông báo có email mới một chương trình email.
Các ứng dụng server chạy trên 1 máy tính cài đặt Windows XP SP2 có thể sẽ không đáp ứng các yêu cầu từ các ứng dụng client. Ví dụ:
+Các Web erver như Internet Information Services (IIS)
+Remote Desktop
+Chia sẻ File
Khi Firewall của Windows ngăn chặn 1 chương trình, sẽ xuất hiện 1 hộp thoại Windows Firewall Security Alert chứa tên của chương trình bị chặn và 3 chọn lựa như sau:
+Unblock this program
+Keep blocking this program
+Keep blocking this program, but ask me again later
Một số chương trình hoặc game cần nhận được thông tin từ mạng để làm việc. Thông tin đi vào máy của bạn thông qua các cổng “hồi đáp. Ŀể Firewall của Windows cho phép các thông tin này đi vào máy, các cổng “hồi đáp thích hợp phải được mở trên máy của bạn. Muốn một chương trình còn có thể giao tiếp với bên ngoài như trước khi bạn cài SP2 hoặc muốn 1 chương trình nào đó không bị ngăn chặn, bạn có thể làm theo 1 số cách sau.
1.Sử dụng hộp thoại Firewall Security Alert:
+Trong hộp thoại chọn Unblock this program
+Chọn OK
2.Sử dụng Firewall của Windows:
+Chọn Start- > Run, gõ wscui.cpl, chọn OK
+Chọn Windows Firewall
+Trong hộp thoại Windows Firewall, chọn Exceptions- > Add Program
+Trong hộp thoại Add a Program, chọn chương trình từ danh sách tên chương trình có sẵn hoặc chọn đường dẫn tới chương trình bằng các chọn Browse.
(Nếu bạn không thể xác định đường dẫn thì xem phương pháp kế tiếp).
+Sau khi đã chọn chương trình, chọn OK
+Trong Exceptions đánh dấu vào tên chương trình, chọn OK.
(Sau đó nếu cần bạn có thể gỡ bỏ cài đặt này bằng các nhấn bỏ chọn chương trình trong Exceptions.)
Việc thêm chương trình vào danh sách Exceptions có 1 số lợi điểm sau:
+Bạn không cần phải xác định rõ số hiệu của cổng. (Ngược lại nếu bạn muốn mở 1 cổng thì bạn phải biết số hiệu của cổng được chương trình sử dụng.)
+Cổng được chương trình trong danh sách Exceptions sử dụng chỉ mở khi chương trình đang chờ nhận kết nối.
3.Xác định số hiệu và mở cổng (port):
Nếu chương trình vẫn không làm việc sau khi bạn đã thêm vào danh sách Exceptions hay bạn không thể xác định đường dẫn của chương trình như ở cách 2, bạn có thể thực hiện việc mở cổng một cách “thủ công. Khi thêm một hay nhiỿu cổng bằng các “thủ công‿, bạn phải xác định rõ số hiệu của những cổng được chương trình sử dụng. Cách tốt nhất để xác định là liên hệ trực tiếp với nhà sản xuất. Nếu bạn không liên hệ được hoặc danh sách các cổng được chương trình sử dụng không được cung cấp, bạn có thể sử dụng lệnh Netstat.exe:
+Chạy chương trình cần xác định và thử sử dụng thành phần liên quan tới mạng của nó. Ŀối với một chương trình multimedia, thử chạy audio stream . Ŀối với Web server thì chạy dịch vụ của nó.
+Vào Start- > Run, gõ cmd, chọn OK
+Ŀể lấy được danh sách các cổng LISTENING bạn gỏ
netstat –ano > netstat.txt
+Ŀể lấy ID của các tiến trình đang được thực thi, bạn gỏ
tasklist > tasklist.txt
Nếu chương trình cần xác định chạy như 1 dịch vụ, bạn thêm /svc để liệt kê các dịch vụ được “chèn vào mỗi tiến trình:
tasklist /svc > tasklist.txt
+Mở file tasklist.txt, xác định vị trí của chương trình, chú ý PID của tiến trình.
+Mở file netstat.txt, chú ý bất kì dòng nào có liên quan tới PID đó. Đồng thời bạn cần chú ý giao thức (protocol) được sử dụng (TCP, UDP).
Số hiệu cổng mà tiến trình sử dụng có thể giải quyết được câu hỏi sau:
+Nếu tiến trình sử dụng cổng lớn hơn 1024, số hiệu cổng có lẽ sẽ không đổi.
+Nếu tiến trình sử dụng cổng nhỏ hơn 1024, chương trình có thể sử dụng một dãy các cổng. Như vậy nếu chỉ mở riêng lẻ một số cổng sẽ không giải quyết được.
Nếu bạn không thể xác định được số hiệu của các cổng được chương trình sử dụng , bạn không thể mở cổng bằng phương pháp “thủ công. Để xác định số hiệu cụ thể của cổng cần mở, bạn có thể liên lạc với nhà sản xuất hoặc được hướng dẫn sử dụng. Sau khi xác định được số hiệu cổng cần mở, làm theo những bước sau:
+Chọn Start- > Run, gõ wscui.cpl, chọn OK
+Chọn Windows Firewall
+Chọn Exceptions- > Add Port
+Trong hộp thoại Add a Port, bạn gõ số hiệu của cổng cần mở vào Port number và chọn TCP hoặc UDP.
+Gõ một cái tên cho cổng rồi chọn OK, ví dụ: bạn gõ tên GamePort.
+Ŀể xem hoặc chọn mục tiêu cho cổng, chọn Change Scope, sau đó chọn OK
+Trong Exceptions, chọn đánh dấu cho port, chọn OK.
Lên Trên
Tham khảo cách đoạt quyền admin trong XP
_______________________________________
Cách đoạt quyền Admin trong WinXP
- Cách làm thì tương tự như là ở trong Win2K , nhưng như các bạn đã biết nếu như chúng ta cũng đổi tên file SAM như ở trong WIN2K thì chắc chắn là WinXP sẽ bị lỗi và không thể nào vào được Win ( Sẽ bị Restart lại máy )
- Vậy thì làm cách nào có thể đoạt được quền Administrator bi giờ ? .
- Đầu tiên tui cũng chưa biết làm thế nào, nhưng về sau tui đã đánh liều và thử một cách như sau :
+ Tôi đến một máy cài WinXP khác , tôi tạo Pass của user có tên là Administrator là trắng (Nghĩa là không đặt password , password bỏ trắng) , tôi khởi động lại máy , sau đó tôi vào DOS và copy lại cái file SAM ở cái máy mà tôi vừa tạo với pass của User : Administrator (Đây là người có quyền quản trị cao nhất) là trắng vào thư mục BACKUP trong đĩa mềm của tôi.
+ Sau đó tôi sang cái máy cài WinXP mà tôi muốn cướp quyền Admin ( Với pass của Administrator mà tôi không biết )
+ và tôi làm y như các bước như trên ( Chú ý : Trong WINXP thì không phải là thư mục WINNT như trong Win2K mà nó là thư mục WINDOWS) :
Sau khi khởi động và Boot bằng đĩa mềm sẽ hiện ra 3 phần cho bạn chọn , bạn chọn cái đầu tiên là : NTFS4DOS . Sau đó bạn cứ để mặc cho nó chạy tiếp. Tiếp sau đó nó sẽ hiện ra một dòng thông báo hỏi bạn có muốn sử dụng tiện ích NTFS4DOS ko ? bạn đánh chữCovà ấn Enter .
sau đó nó sẽ hiện ra dòng A:\> bạn chuyển sang ổ đĩa cứng là phân vùng chính cài Win ( Ở đây tôi sẽ lấy ví dụ là ổ C
A:\> C: C:\> cd WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG ( dùng lệnh cd để chuyển đến thư mục WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG
Tiếp tục : Tại C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG bạn đánh lệnh dir
C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG\dir
Ta sẽ nhìn thấy file có tên là : SAM
Tiếp tục tại dấu nhắc lệnh : C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG bạn đánh lệnh
C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG\ren SAM DUNG
sau đó bạn đánh thử lại lệnh Dir để kiểm tra xem đã có file tên DUNG chưa ? Nếu có rồi thì đẫ thành công .
Chú ý : Tốt nhất là trước khi đánh lệnh ren SAM DUNG để đổi tên file SAM bạn lên backup nó trứơc :
C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG\md Backup (Để tạo thư mục backup)
C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG\copy SAM C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG\BACKUP ( làm như vậy cho chắc ăn )
- Tiếp theo từ C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG tôi đánh lệnh
C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG A: để chuyển sang ổ mềm A
- Tại ổ A ta đánh lệnh A:\>cd Backup để vào thư mục BACKUP ở trong ở A .
- Tại A : \>BACKUP> ta đánh lệnh dir để kiểm tra xem đã thấy file SAM ở trong đó chưa A : >\BACKUP>dir
- Từ A : >\BACKUP\ ta đánh lệnh :
A : >\BACKUP\copy SAM C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG (Chú ý : Trước khi đánh lệnh trên thì bạn phải chắc chắn là file SAM ở trong thư mục C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG đã được đổi tên thành tên khác )
- Sau khi đánh lệnh trên xong nếu copy thành công bạn sẽ nhận được 1 tông báo là : 1 file copy ... gì gì đó tôi không nhớ lắm . Sau đó bạn khởi động lại máy và bỏ đĩa mềm ra .
- Khi đăng nhập vào máy bạn gõ user là Administrator và password là trắng bạn cứ việc gõ Enter thế là Okie giờ đây bạn đã là Người có quyền quản trị

Giảm thời gian boot của WinXP
- Vào “Start” chọn “Run…”, gõ “notepad”, nhấn Enter. Trong Notepad gõ nội dung sau: “del C:\windows\prefetch\ntosboot-*.* /q” (không có dấu ngoặc kép, và trước “/q” có 1 khoảng trắng). Các bạn lưu lại với tên là “ntosboot.bat” (lưu trong ổ C). Nếu Windows được cài đặt ở ổ đĩa khác, thì hãy thay ký tự “C” bằng ký tự ổ đĩa hệ thống của bạn.
- Lại vào “Start” chọn “Run…”, gõ “gpedit.msc” để mở cửa sổ “Group Policy”.
- Click vào nút dấu cộng đứng trước mục “Windows Settings” phía dưới phần “Computer Configuration”, chọn “Scripts (Startup/Shutdown)”, nhấp đúp chuột vào mục “Shutdown” nằm ở cửa sổ bên phải.
- Một cửa sổ mới hiện ra, click “add”, “Browse”, chỉ định đường dẫn bạn đã lưu tập tin “ntosboot.bat”, sau đó click “Open”.
- Click “OK”, “Apply” và “OK” 1 lần nữa, thoát khỏiNhomPolicy.
- Vào “Start” chọn “Run…”, gõ “devmgmt.msc”.
- Trong cửa sổ Device Manager, nhấp đúp chuột vào mục “IDE ATA/ATAPI controllers”.
- Click chuột phải vào ““Primary IDE Channel” và chọn “Properties”.
- Hộp thoại hiện ra, chọn tab “Advanced Settings”, trong 2 phần "Device 0", "Device 1", nếu phần nào có mục "Device Type" cho phép lựa chọn thì click chọn "None" thay vì "Auto Detection" -> OK.
- Tương tự như vậy cho “Secondary IDE channel”
-Bây giờ bạn hãy khởi động lại máy, tốc độ đã được cải thiện rõ rệt.
Lên Trên

Tìm hiểu các dịch vụ của Windows
Bạn tự hỏi rằng các thông số trên CPU là những thứ gì? Nó có tác dụng gì hay không? Nếu là dân trong ngành CNTT mà tìm hiểu kĩ thì sẽ rất dễ hiễu, nhưng đối với những bạn tập tành, những thông số đó hầu như là một ma trận kỳ ảo.
Thế nhưng với Hot CPU tester, bạn sẽ không cần bận tâm đến những thông số đó nữa. Cái bạn cần là kiểm tra toàn bộ CPU và đó chính là công cụ bạn cần. Việc cần làm để xác định xem máy bạn mua có đúng với cấu hình mình chọn hay không.
Chương trình bao gồm kiểm tra tổng thể CPU, đánh giá thang điểm cho CPU, kiểm tra thông tin hệ thống ...
Sau khi cài đặt chương trình. Bạn có thể bắt đầu thực hiện việc kiểm tra cho CPU của bạn bởi các thông số sau.
Diagnostic: kiểm tra tổng quát CPU về các thông số như chipset, vùng nhớ đệm L1, L2 ... Tuy nhiên một vài công cụ không hiện diện trong phiên bản dùng thử. Sau đó bạn chỉ cần nhấp chuột chọn Run Test để chương trình kiễm tra giúp bạn.
Burn in: tuỳ chọn này cho bạn kiểm tra các xử lý đa nhiệm của CPU. Với số thread tương ứng (tối đa là 10 tuỳ theo cấu hình), bạn có thể kiểm tra tốc độ load của CPU hay của bộ nhớ. Cách này thường đựơc dân tin học chọn trong những trường hợp cần test nóng các thông số sau khi cài đặt cho người mua hay dùng đó làm tiêu chuẩn kiểm tra cho những bộ phận trong PC. Và bạn cũng có thể dùng thông số này làm tiêu chuẫn cho PC mình sử dụng.
BenchMark: đánh giá thang điểm cho PC. Với mỗi thông số test sẽ là một thông số điểm để dựa vào đó đánh giá chất lượng PC cũng như các thiết bị phần cứng. Tuy nhiên hạn chế chương trình không nêu tình trạng PC bạn sử dụng.
System Info: giúp bạn tham khảo bộ vi xử lý của CPU bao gồm các thông số về prosessor, cache, RAM, công nghệ siêu phân luồng (HT) ...
Lua chon: tuỳ chỉnh các thông số về hệ thống. Chương trình khuyến cáo cho các bạn nghiệp dư không nên hiệu chỉnh khi mà chưa hiểu rõ về phần cứng. Đa phần các thông số đều đựơc chương trình hiệu chỉnh tự động, cũng như có chế độ tuỳ chỉnh đúng đắng và phù hợp. Bạn cũng có thể lưu thành file .reg để có thể hiệu chỉnh thích hợp với regedit trong windows.
Một số lưu ý khi sử dụng chương trình
Sau khi kiểm tra, nếu muốn chương trình hiển thị quá trình kiểm tra bạn có thể chọn show log. Khi chạy chương trình, tốt nhất bạn không nên chạy ứng dụng khác. Hạn chế sử dụng mouse và bàn phím để chương trình có thể hiển thị thông số thích hợp nhất về PC của mình.
Chương trình dung lượng 1.59MB. Tương thích mọi windows, tham khảo giá và download dùng thử tạihttp://www.7bype.com
Lên Trên

Khởi động nhanh các chương trình thường dùng
Từ trước đến nay chắc hẳn các bạn đã biết qua rất nhiều cách để khởi động các chương trình thường dùng nhất, chẳng hạn như: đặt vào thanh Quick Launch, đưa lên desktop, dùng phím tắt... và vì vậy, cách khởi động từ Thuc don Start có lẽ đã bị “chìm vào dĩ vãng”.
Nhưng nếu để ý kỹ, các bạn sẽ thấy rằng Windows đã mặc định đặt sẵn một số các chương trình thường dùng nhất trong đó và để chạy chúng, bạn chỉ cần mở Thuc don Start, nhấn một phím có ký tự gạch dưới hoặc ký đầu của tên chương trình cần chạy là xong.
Vì thế, lợi dụng chức năng này, bạn có thể cho chạy nhanh các chương trình thường dùng từ đây. Cách thực hiện như sau:
1- Kéo các chương trình mà bạn muốn từ trong Programs hoặc Windows Explorer vào phần trên của Thuc don Start.
2- Bấm chuột phải vào tên mỗi chương trình đã thêm vào, chọn Rename. Sau đó, sửa tên của chúng lại theo các số 1, 2, 3... cho mỗi chương trình. Ví dụ như trong hình: đổi tên Microsoft Word thành 1, Microsoft Excel thành 2,... Bạn lưu ý là mỗi chương trình nên gán cho từng số khác nhau; trong lúc đổi sẽ có một thông báo và bạn hãy chọn Yes.
Xong rồi đấy các bạn! Bây giờ khi cần chạy chương trình nào, bạn hãy nhấn phím Windows (không giữ phím) và nhấn tiếp phím số tương ứng của chương trình đó là nó sẽ “đề-pa” liền.
Theo TNO
Lên Trên

Khai thác các dịch vụ trong Windows 2000, XP, 2003 cải thiện hiệu suất làm việc
-Các dịch vụ của Windows (Services) là một trong những thành phần cốt lõi của mọi ứng dụng trên Windows. Với việc sử dụng hợp lý (đóng - ngắt hoặc tạm dừng) sẽ giúp bạn khai thác Windows một cách hiệu quả nhất. Ngoài ra sự hiểu biết các dịch vụ này sẽ giúp bạn tối ưu hóa Windows, tăng cường bảo mật và giảm thiểu virus khi mà các dịch vụ không cần thiết được ngắt bỏ. -Những nguy cơ tiềm ẩn khả năng tấn công của máy tính thường nằm trong sự thiếu hiểu biết 1 phần nào đó của Windows mà bạn đã vô thức để cho hệ thống tự chạy. Hơn nữa hệ thống có thể sẽ nặng nhọc hơn khi mà phải "gồng mình" khởi động các dịch vụ này. Để truy cập vào các dịch vụ (Services) từ Start bạn chọn --> Control Panel --> Administrative Tools --> Services --> Kích phải chuột vào từng dịch vụ và chọn Properties bạn chọn General --> Startup Type sẽ có 03 lựa chọn Automatic (Sẽ tự khởi động theo mặc định Windows), Manual dùng trong trường hợp bạn tự cấu hình chạy hoặc không chạy mà không phụ thuộc vào cấu hình mặc định Windows, Disabled để đóng dịch vụ khi mà bạn không cần thiết dịch vụ này. Cũng trong General tab còn có các lựa chọn Start - Stop - Pause - Resume giúp bạn quyết định khởi động hay dừng nhưng bạn phải chú ý rằng khi bạn không lựa chọn Startup Type ở trên thì các chức năng này chỉ có tác dụng trong phiên làm việc hiện tại của Windows mà sau đó khi bạn khởi động lại máy hệ thống lại trả về trạng thái ban đầu vì vậy khi quyết định ngừng hoặc khởi động dịch vụ bạn phải chọn lựa Startup Type.
-Cảnh báo: Khi bạn đóng ngắt dịch vụ nào đó tức là bạn đã vô hiệu hóa chức năng bất kỳ trong Windows mà có thể bạn sẽ dùng sau này vì vậy chúng tôi đề nghị bạn đọc kỹ các tính năng trước khi ngắt bỏ (Disabled). Một số tính năng khi mà bạn ngắt bỏ có thể làm cho máy tính báo lỗi do hệ thống đang sử dụng nó cho các ứng dụng được bạn cài đặt
-Alerter: Dịch vụ này giúp thông báo cho các máy tính và người dùng được chọn những sự cảnh báo mang tính chất hành chính. Bạn để nó nếu bạn cảm thấy nó cần thiết với bạn. Nếu không thì hãy tắt nó đi.
-Application Layer Gateway : Cần thiết nếu bạn muốn dùng Firewall trong Windows ( Internet Connection Firewall ) hoặc Chia sẻ thông tin mạng của Windows ( Windows Internet Connection Sharing ). Sẽ rất vô dụng nếu như bạn không dùng 2 ứng dụng trên.
-Application Management : Bạn không dùng chung 1 mạng với ai đó ? Bạn không không có ý định điều khiển 1 trình nào đó thông qua mạng ? Nếu không hãy vô tư mà Disable nó.
-Automatic Updates : Bạn muốn máy tự động cập nhật Windows. 1 số trường hợp quay số kết nối để cập nhật mà chủ nhân không biết. Trả tiền cước hàng triệu đồng...Ơ...Thôi để Silvery Hat Hacker dẹp cái này vậy. Nếu cập nhật mà không mấy hiệu quả thì không cần cập nhật, ngọai trừ các lổ hổng bảo mật lớn thì tự vào website microsoft cập nhật thôi.
-Background Intelligent Transfer : Hỗ trợ Windows Update, nếu bạn tắt Automatic Update ở trên thì vô hiệu hóa dịch vụ này nhằm giảm sức nặng hệ thống phần nào.
-Clipbook : Cho phép bạn xem những gì lưu trữ trong Clipboard, sắp xếp chúng có trật tự để có thể thi hành tác vụ những gì trong Clipbard. Bạn có thể không cần làm quan trọng mọi việc đến như vậy. Tắt nó đi sẽ giúp các lệnh Copy-Paste-Cut nhanh hơn. Bạn có thể xem nó họat động như thế nào qua cách đánh clipbrd.exe vào lệnh Run trong Start Thuc don.
-COM+ : Cả hai Event System và System Application Services giúp quản lý và nắm quyền Microsoft's Compoment Object Model. Nếu như bạn cần tìm hiểu về vấn đề này, chỉ Microsoft mới có câu trả lời tốt nhất tuy là bằng tiếng anh www.microsoft.com/com/tech/complus.asp. Nói chung, có thể một phần mềm nào đó sẽ cần đến dịch vụ này để chạy, tốt nhất bạn thiết lập nó ở chế độ Manual
-Computer Browser : Không hề liên quan gì đến trình duyệt web thân yêu của bạn. Ý nghĩa dịch vụ này là theo dõi những hệ thống khác kết nối vào máy bạn qua 1 mạng chia sẻ. ...Quyết định tùy bạn
-Cryptographic services: Dịch vụ chứng nhận - đánh giá trong WinXP. Cho dù bạn cảm thấy không cần thiết với nó, nhưng khuyên bạn nên để nó chạy vì vài tính năng khác của nó khá hữu ích như kiểm tra chứng nhận trình điều khiển các thiết bị của winxp.
-DHCP Client: Khi bạn lên mạng hoặc không, dịch vụ này sẽ lấy 1 địa chỉ IP cho bạn. Bạn có thể thử tắt nó. Nhưng nếu bạn bắt đầu gặp những vấn đề lỗi, hiệu hóa nó lại. (Ý kiền cá nhân: Nên tắt nó đi nếu bạn không dùng mạng hoặc bạn dùng mạng nhưng lại đặt IP tĩnh.)
-Distributed Link Tracking Client : Quản lý các Shortcut đến tập tin trên Server nào đó . Nếu bạn đã vô hiệu hóa 2 dịch vụ trên thì cũng nên bỏ luôn cái này.
-DNS Client: Dịch vụ này giải đáp và thiết lập một bộ đệm về tên miền để hỗ trợ cho máy tính bạn đang sử dụng. Nếu bạn không sử dụng Internet thì nên tắt dịch vụ này đi.
-Error Reporting : Tự động thông báo lỗi có thể là 1 tính năng khá tốt nhưng đôi khi lại quá làm phiền và vô dụng.
-Event Log : Bỏ. Nhiệm vụ của nó chỉ là ghi lại những báo cáo đôi khi khó hiểu. (Ý kiền cá nhân: Không nên tắt dịch vụ này vì nếu tắt không những không làm cho máy khởi động nhanh hơn mà còn làm cho máy khởi động cực chầm.)
-Fast User Switching Compatibility : Nếu bạn không dùng máy chung với nhiều người thì vô hiệu hóa cái này tăng năng lực cho máy rất nhiều.
-Giup do and Support : Sự trợ giúp là 1 điều quý báu nhất là khi ta gặp khó khăn. Nhưng nếu bạn không rành Tiếng anh và không biết nó nói cái gì.... vậy thì nên tắt nó đi thì hơn.
-HTTP SSL: Kết nối từ client đến server được thực hiện bằng giao thức HTTPS (HTTP + SSL). Chỉ sử dụng dịch vụ này khi bạn chạy Web Server.
-Human Interface Device Access Service: Mở rộng và điều khiển những phím nóng trên các thiết bị nhập. Ví dụ những nút bấm trên bàn phím Play-Next-Internet-Tim Kiem. Nếu bạn không thường dùng nó, tắt dịch vụ này đi và tận hưởng 0.85% hệ thống nhanh hơn.
-IIS Admin: Cho phép bạn quản lý dịch vụ Web và FTP thông qua dịch vụ Internet Information Services (IIS). Nếu bạn không dùng đến những dịch vụ trên thì hãy tắt nó.
-IMAPI CD-Burning COM Service : Thật sự ra dùng Nero ghi đĩa trực quan hơn dịch vụ có sẵn trong WinXP này.
-Indexing services: Tự động tra sóat thông tin trên ổ cứng nhằm giúp các ứng dụng như Tim Kiem của windows, Office XP chạy nhanh hơn. Tuy nhiên nó chiếm nhiều tài nguyên và thật sự không xứng đáng với tính năng nó họat động.
-IPSEC services: Nếu như máy tính của bạn thuộc vào lọai viễn thông và kết nối với máy khác bởi VPN thì Internet Protocol Security ( IPSEC ) có thể cần thiết. Tuy nhiên tôi không dám mơ tưởng máy mình dữ dội đến vậy. Tạm thời tắt nó đi.
-Logical Disk Manager : Nếu như bạn muốn quản lý đĩa cứng của mình ( bấm phải trên biểu tượng My Computer, chọn Manage rồi đến Disk Management ), thì dịch vụ này không thể bị vô hiệu hóa. Vì trình Disk Management phụ thuộc dịch vụ này để chạy. Tuy nhiên, có lẽ bạn không sài đến thường xuyên Disk Management , thiết lập nó sang Manual sẽ là tốt nhất.
-Hop thu : Vào năm trước , những kẻ Spammer đã nhận ra 1 cách có thể gửi hàng triệu Spam đến người dùng WinXP thông qua Hop thu này. Lọai bỏ dịch vụ này là lựa chọn sáng suốt
-MS Software Shadow Copy Provider/Volume Shadow Copy: Hỗ trợ Microsoft Backup hay các trình sao lưu ảnh đĩa khác. Một lần nữa, bạn có thể thử qua việc tắt nó, nếu có sai sót nào trong việc sao lưu thì khởi động lại nó sẽ giải quyết vấn đề.
-Net Logon: Hỗ trợ việc chứng thực để đăng nhập vào một máy tình thuộc miền.
-NetMeeting Remote Desktop Sharing : Không muốn chia sẻ với ai bất cứ cái gì trên máy bạn thông qua NetMeeting ? Không = Disable
-Network Connections: Quản lý những đối tượng trong kết nối mạng và kết nối mạng quay số, trong đó bạn có thể thấy được cả mạng cục bộ và những kết nối từ xa.
-Network DDE: Cung cấp việc truyền tải và an toàn mạng cho sự trao đổi dữ liệu động (Dynamic Data Exchange(DDE)). Cho những chương trình chạy trên cùng một máy tính hoặc trên những máy tính khác nhau.
-Network Location Awareness (NLA): Tập hợp và lưu trữ thông tin về cấu hình và vị trí mạng. Đưa ra thông báo khi những thông tin này thay đổi.
-Network Provisioning Service: Quản lý cấu hình của file XML trên một miền cơ sở cho mạng được cung cấp tự động. (XML được thiết kế để thực hiện lưu trữ dữ liệu và phát hành trên các Web site không chỉ dễ dàng quản lý hơn, mà còn có thể trình bày đẹp mắt hơn. XML cho phép những người phát triển Web định nghĩa nội dung của các tài liệu bằng cách tạo đuôi mở rộng theo ý người sử dụng)
-Plug and Play : Bạn cần dịch vụ này để nhận biết các thiết bị mới gắn vào Pc, bên trong hay bên ngòai, PCI hay USB, Fire wire đều sẽ cần đến nó, hay chỉ đơn giản là WinXP cần giao tiếp tìm kiếm lại phần cứng nào đó trong 1 số lý do.
-Print Spooler: Nếu bạn không dùng máy in thì hãy tắt nó đi thì hơn.
-Remote Desktop Giup do Session Manager : Đừng để ai đó điều khiển máy bạn nếu bạn không muốn bị vậy
-Remote Procedure Call : Trong winXP, các ứng dụng được phân chia trong công thức Cá thể tiến trình. Không 1 trình nào ảnh hưởng đến trình nào. Khi 1 phần mềm bị đứng, treo hay không trả lời, nó sẽ không ảnh hưởng đến tòan bộ máy như Win98. Để quản lý hết tất cả những phần mềm này 1 cách thuận tiện, RPC là dịch vụ cần thiết sắp xếp phân vùng bộ nhớ phát cho từng ứng dụng. Nếu tắt nó sẽ gây ra lỗi hệ thống rất nghiêm trọng. Vì vậy bạn đừng làm điều đó.
-Remote Registry Service : Bạn có thích cho người dùng khác trên 1 mạng máy tính thay đỗi các thiết lập trong Registry, trái tim của hệ điều hành trên máy bạn ? Bạn sẽ không tìm ra được nguyên nhiên ngày nào đó WinXP bị..vỡ tim đâu. Dịch vụ này là 1 dạng của sự bất bảo mật cho máy.
-Security Accounts Manager: Dịch vụ Lưu trữ những thông tin bảo mật cho tài khoản của người dùng tại chỗ.
-Security Center: Theo dõi và quản lý những thiết lập và những cấu hình an toàn của hệ thống
-Server: Hỗ trợ file, máy in và tên dùng để chia sẻ thông tin qua mạng cho máy tính bạn đang sử dụng. Nếu bạn không dùng chung mạng với ai đó thì nên tắt nó đi.
-Smart Card và Smart Card Giup doer : Nếu bạn không dùng các thẻ nhớ thì bạn biết phải làm gì với dịch vụ này.
-SSDP Discovery : một thành phần của Universinal Plug and Play mà Silvery hat hacker sắp nói đến. Cho dù bạn tắt hay mở nó, bạn cũng sẽ làm cùng chung 1 việc cho SSDP Discovery.
-System Restore : Mừng hết lớn khi có thể bay về quá khứ trước khi bạn cài đặt 1 driver lỗi hay phần mềm làm hại hệ thống là ví dụ thực tiễn cho bạn gợi ý nên tắt ứng dụng này hay không. Tuy nhiên vô hiệu hóa nó sẽ tiết kiệm cho bạn rất nhiều dung lượng đĩa. Lưu ý là nếu bạn đã chọn tắt nó thì tất cả những thiết lập sao lưu sẽ bị xóa hết.
-Task scheduler : Đôi khi không mấy hữu dụng đối với bạn, Có thể bạn sẽ không cần phải lập lịch dồn đĩa trong đêm, nhưng Task Scheduler có thể cần thiết với và người khác. Tắt nó hay không tùy vào yêu cầu của bạn có cần hoặc không.
-TCP/IP NetBIOS Giup doer : Là 1 đòi hỏi bình thường nếu hệ thống mạng nội bộ của bạn dùng NetBIOS bởi TCP/IP. Tắt nó nếu bạn cảm thấy không cần thiết. Tuy nhiên khởi động lại nếu như mạng nội bộ của bạn ( thậm chí mạng Internet ) có trục trặc liên quan đến việc tắt dịch vụ này.
-Telephony : Bạn vô cùng cần - nói cách khác không thể thiếu nó nếu bạn muốn vào Internet thông qua phương thức quay số = Modem. Nhưng nếu là kết nối ADSL, bạn thử thiết lập nó qua Manual để xem nếu có lỗi nào xảy ra vì có thể nó vẫn đòi hỏi dịch vụ này. Nếu không bạn đã giúp máy có thể tài nguyên hệ thống khá là không ít...
-Telnet : Cho phép người dùng máy khác dang nhập vào máy bạn và chạy các chương trình. Nếu như bạn có bao giờ nghe đến việc tấn công qua IP thì Telnet là 1 trong những kẻ 2 mặt tiếp tay cho giặc quậy phá thành của bạn. Tắt nó đi, trừ khi bạn cần nó cho 1 lý do nào đó
-Uninterruptible Power Supply : An tòan để vô hiệu hóa. Trừ khi bạn có cục UPS cho máy tính mình.
-Universinal Plug and Play : Tự hỏi bạn có muốn máy mình kiểm tra và tìm hiểu các thiết bị có trên máy người khác trong 1 mạng máy tính nội bộ ? Có thể nó cần thiết nếu như bạn xài Internet Connection Sharing và cho phép người ngòai hiệu chỉnh kết nối cho máy bạn. Dù sao đi nữa, nếu như thật sự không biết gì, bạn có thể tắt nó cũng được.
-Webclient : Theo sự mô tả, dịch vụ này cho phép bạn duyệt qua "Network Places" , thực chất đó là mạng Internet. Nó cho phép các chương trình Windows tạo, xâm nhập và thiết lập tập tin trên nền Internet. Theo như 1 số thử nghiệm, nếu như bạn không có kết nối Internet, dịch vụ có thể làm chậm lại máy và cách bạn duyệt web. Vô hiệu hóa để nhận ra và xem xét những sai sót có thể gây phiền cho bạn, nếu không thì bạn đã tiếp tục giảm gánh nặng cho hệ thống.
-Windows Audio: Bạn muốn nghe tiếng - âm thanh thỏ thẻ của Pc phát ra từ 2 giàn loa 480 Watts của bạn thì nên để cho dịch vụ này khởi động bình thường. Đối với nó, bạn chỉ nên vô hiệu hóa khi máy không có sound card hoặc chip sound trên bo mạch.
-Windows Image Acquisition : Nếu như đơn giản là bạn không có Webcam hay máy Scan hình thì tắt dịch vụ này đi. Tuy nhiên cho dù bạn có, tắt ứng dụng này chắc cũng không ảnh hưởng, vì vậy hãy tắt nó đi cũng được. ( Hay thay nó thành Manual để thử nghiệm trước khi bạn thật sự tắt nó .
-Windows Installer : Trợ giúp cho các trình cài đặt .MSI có thể phân phối dữ liệu trong nó cho máy bạn. Nhưng thật chất không phải lúc nào bạn cũng cài-cài-cài phần mềm vào máy mình liên tục. Thay cách khởi động của nó vào Manual sẽ giảm tối thiếu dung lượng Ram bị chiếm.
-Windows Management Instrumentation : Dịch vụ này cho phép sự giao tiếp các phần mềm có thể xâm nhập và dùng những tính năng trong Windows có thể diễn ra trọn vẹn. Bản thân windows cũng dùng đến Windows Management Instrumentation, như những trình khác làm, tốt nhất bạn để nó họat động.
-Windows Time : Đồng ý là thời gian là vàng là bạc là hàng lọat thứ một đi không quay lại. Nhưng nếu như bạn không muốn Windows phải chú trọng đến điều đó cho bạn, nếu như bạn không cp1 1 máy tính luôn kết nối mạng thì không đồng bộ hóa giờ giấc không có nghĩa là bạn có tội.
-Wireless Zero Configuration : Bạn dùng mạng không dây ? Sướng nha. Nhưng Silvery Hat Hacker phải vô hiệu hóa nó.
-WMI Performance Adapter : Windows Management Instumentation ( WMI ) là 1 ứng dụng rất có ích nhưng nó có thể làm chậm máy.Nếu như bạn không phải là 1 nhà thiết kế chương trình thì không cần quan tâm đến việc này. Ngòai ra bây giờ bạn có thể tắt nó đi
Lên Trên
Đồng hồ treo tường cho Windows Vista
Độc đáo với chiếc đồng hồ theo đúng phong cách Vista.
Bản thân Windows Vista cũng đã tự trang bị cho mình một đồng hồ treo tường dạng “Analogue” nằm ở “Sidebar” phía bên phải màn hình, nhưng nếu so về mặt tiện dụng và “nghệ thuật” thì đồng hồ mặc định này của Windows Vista không thể sánh bằng kiểu đồng hồ “Analogue Vista Clock”.
Cái độc đáo của Analogue Vista Clock (AVC) là nó luôn hiển thị trên màn hình để bạn theo dõi thời gian, bất kể bạn đang ở ứng dụng nào, chứ không dễ dàng bị che khuất như đồng hồ treo tường mặc định của Windows Vista.
Khi được kích hoạt thành công, AVC sẽ hiển thị ở góc phải trên cao của màn hình một cách “mờ ảo” để bạn có thể dễ dàng theo dõi thời gian nhưng vẫn có thể nhìn rõ được mọi chi tiết nằm ở phía “sau lưng” đồng hồ.
Bạn có thể thực hiện nhiều tinh chỉnh sau cho AVC để áp dụng hết mức độ tiện dụng và “hiện đại” của công cụ.
Click chuột phải vào biểu tượng của AVC nằm ở khay đồng hồ và chọn “Settings” để hiện ra giao diện tinh chỉnh:
- Các ô đánh dấu ở “Clock Position” giúp bạn chọn vị trí cho AVC ở 1 trong 4 góc màn hình.
- Các chỉ số thể hiện các ô “Horizontal distance” và “Verical distance” giúp bạn di chuyển đồng hồ đến bất kỳ vị trí nào trên màn hình. Giả sử bạn chọn các chỉ số tương ứng là 600 và 300 thì AVC sẽ luôn… nằm giữa màn hình cho bạn xem giờ.
- Thanh trượt “Clock Size” giúp bạn chỉnh kích thước của đồng hồ, còn thanh trượt “Clock translucency” lại giúp bạn tinh chỉnh độ “mờ ảo” của đồng hồ.
- Nút “Chime Sound” giúp bạn chọn kiểu nhạc chuông báo giờ của đồng hồ. Bạn có “Browse” đến bất kỳ file âm thanh dạng WAV nào để chọn làm nhạc chuông cho AVC.
- Nút “Change skin” giúp bạn thay đổi “model” cho đồng hồ, còn nếu bạn muốn sưu tầm thêm nhiều model cho AVC thì nhấn vào nút “Download skin” để tải về hàng chục model đồng hồ do nhà cung cấp thiết kế sẵn.
Ngoài các tính năng của một đồng hồ xem giờ tiện dụng, bạn cũng có thể click chuột phải vào biểu tượng của AVC và chọn “Alarm” để biến AVC thành chiếc đồng hồ báo thức rất tiện dụng. Bạn chỉ việc quy định giờ báo thức ở “Alarm Time” và nhấn nút “Browse” để tìm kiểu nhạc báo thức ưa thích là xong. Tuy là công cụ đời mới cho Windows Vista nhưng AVC vẫn chạy được ngon lành trên XP và 2000.
Công ty 4Neurons đang bán ra bản Analogue Vista Clock 1.07 với giá là 14,95 USD. Bạn đọc quan tâm có thể vào đây để tải về bản dùng thử với dung lượng chỉ khoảng 290 KB.
theo Tuổi Trẻ Online
Lên Trên

Bạn có biết cách xoá dữ liệu?
Thật sai lầm khi cho rằng chỉ cần delete hay format là có thể xóa được dữ liệu!
Cảnh báo khi xóa dữ liệu
Bạn thường format hay delete tất cả các tập tin trong flash drive (ổ cứng di động) trước khi cho đồng nghiệp trong công ty mượn. Nhưng bạn có biết rằng chỉ với vài thao tác, dữ liệu (DL) đã bị xóa hoàn toàn có thể phục hồi? Nếu đó là DL tối mật của công ty hay hình ảnh riêng tư của bạn thì thật đáng tiếc. Đó chỉ là một trong nhiều trường hợp mà cá nhân hay công ty có thể làm lộ DL vì "thiếu hiểu biết". Còn hàng loạt các trường hợp khác: bỏ đi hay tặng máy tính cũ, trả lại máy tính thuê (trên đó còn lưu trữ DL của doanh nghiệp trong quá trình thuê máy), chuyển máy tính cũ cho nhân viên mới sử dụng, đem ổ đĩa cứng đi bảo hành... Ngoài ra, có nhiều trường hợp mà xóa sạch DL là việc bạn rất muốn làm. Chẳng hạn, xóa email cũ, xóa sạch đĩa cứng để cài đặt lại hệ điều hành hay phần mềm mới, xóa mầm mống DL mà virus để lại trên máy tính, xóa DL đã chép tạm từ đĩa cứng này sang đĩa cứng khác...
Delete hay format không tẩy sạch DL
Các chương trình ứng dụng đều tạo ra các tập tin, được lưu vào đĩa cứng hay các loại đĩa khác như đĩa mềm, CD, DVD kể cả băng từ và flash drive (gọi chung là media). Khi ND cảm thấy không cần 1 tập tin nào đó, anh ta sẽ dùng lệnh delete để xóa. Với nhiều ND, tập tin đó sẽ biến mất vĩnh viễn và không thể phục hồi. Tuy nhiên, ND không biết rằng Windows và các trình ứng dụng, để chạy tốt, đã sinh ra những tập tin có nội dung tương tự và cũng ghi DL lên ổ cứng. Chẳng hạn, Windows tạo ra Swap Files và Page Files để hỗ trợ bộ nhớ ảo, Temporary Files làm lưới DL an toàn, Printer Spool Files để thực hiện in nhanh và ổn định hơn, metadata (siêu dữ liệu) là những DL lưu giữ thông tin về các loại DL khác... Và như vậy, mọi DL từng được lưu vào máy tính vẫn còn dù người ta có delete, "ném" DL vào thùng rác (Recycle Bin) của Windows hay format và phân vùng đĩa cứng lại. Tuy vậy, lệnh delete và format vẫn được các hệ điều hành thông dụng hiện nay như Windows 9x và XP "ưu ái" vì chúng tiết kiệm thời gian "xóa" DL.
Thực chất, với lệnh delede, ND chỉ xóa đường dẫn đến DL chứ không xóa thông tin ra khỏi đĩa cứng. Điều này giống như bạn chỉ bỏ trang mục lục của một cuốn sách mà chưa hủy những trang hay chương sách tương ứng. Vậy để bảo mật thông tin các dự án, thông báo nội bộ, số liệu tài chính-kế toán, dữ liệu khách hàng... bạn cần đến những phần mềm "tẩy sạch" DL đáng tin cậy.
Tiện ích giúp tẩy sạch DL
Hiện nay, hầu hết phần mềm hỗ trợ tẩy sạch DL chạy trên nền DOS nên tương đối kém thân thiện với ND. Cũng có một số tiện ích chạy trên Windows 9x/2000/XP và dễ dùng hơn. Nhưng có lẽ việc hỗ trợ xóa DL nên dành cho bộ phận CNTT trong doanh nghiệp. Chúng tôi ghi ra đây một vài website tham khảo. Chắc hẳn bộ phận CNTT của các doanh nghiệp có thể dễ dàng tải và dùng thử các phiên bản demo, hay shareware trước khi quyết định chọn mua một phần mềm ưng ý nhất.
Các phương pháp tẩy sạch DL
1. Single Pass (xóa 1 lần): toàn bộ khu vực DL trên ổ cứng được overwrite bằng kí tự 0 hoặc 1 hoặc DL ngẫu nhiên (pseudo-random data).
2. DoD: phương pháp của Bộ Quốc Phòng (BQP) Mỹ. Đây là biến thể của phương pháp Single Pass với số lần overwrite là 7, trong đó luân phiên overwrite bằng ký tự 0 hoặc 1 hay DL ngẫu nhiên. Tiếp đó, theo tài liệu hướng dẫn 5220.22 M - còn gọi là NISPOM (National Industrial Security Program Operating Manual) - của BQP Mỹ, để "santinize" (tẩy sạch) đĩa, phải kết hợp với các biện pháp sau:
- Khử từ (degauss - dùng từ trường để tái lập lại các thanh từ trong thiết bị) bằng thiết bị khử từ loại I hay II
- Overwrite mọi địa chỉ trên ổ cứng bằng 1 ký tự, kể cả các thành phần liên quan, rồi tiếp tục overwrite bằng ký tự ngẫu nhiên và kiểm tra-xác nhận (verify). Tuy nhiên, BQP Mỹ cũng lưu ý rằng phương pháp này không dùng để xóa dữ liệu lưu trữ thông tin tuyệt mật (top secret information).
- Hủy thiết bị lưu trữ thông tin, bao gồm tháo rã mọi thành phần của thiết bị lưu trữ (disintegrate), đốt hủy (incinerate), nghiền thành bột (pulverize), cắt vụn (shred), làm tan chảy bằng nhiệt độ (smelt).
3. Guttman: DL được overwrite 35 lần. Phương pháp này dùng ký tự ngẫu nhiên để overwrite và áp dụng các thuật toán mã hóa của nhiều hãng sản xuất đĩa cứng như RLL (run length limited), MFM (modified frequency modulation), PRML (partial - response)...
4. Xóa theo tiêu chuẩn của Đức
5. Phương pháp overwrite tuỳ chọn 1- 99 lần
Lưu ý quan trọng: Cơ sở duy nhất để ngăn chặn phục hồi DL là overwrite (ghi đè). Song phải overwrite bao nhiều lần mới đủ? Có những người tin rằng chỉ cần overwrite 1 lần. Thật ra, overwrite càng nhiều lần thì càng giảm đi cơ hội phục hồi DL. Tuy vậy, ND cần lưu ý phát biểu của chuyên gia Peter Guttman: "...không thể xoá sạch (santinize) DL dù cho có overwrite bao nhiêu lần hay bằng kiểu nào đi chăng nữa!". Đây lại là một vấn đề nằm ngoài bài viết này!
Một số phần mềm xoá dữ liệu và website tham khảo
BCWipe: http://www.jetico.com/index.htm#/bcwipe.htm
Data Eraser: http://www.ontrack.co.uk
Directory Snoop: http://www.briggsoft.com/dsnoop.htm
Disk CleanUp 2000: http://www.gregorybraun.com/CleanUp.html
Eraser: http://www.tolvanen.com/eraser
M-Sweep: http://www.securedata.com/ms.html
PGP Wipe: http://web.mit.edu/network/pgp.html
RMD: http://www.dmares.com/maresware/ps.htm#RM
WipePro+: http://www.marcompress.com
Wipe Info: http://www.symantec.com
With Out a Trace: http://www.karmadromesoft.com
Theo PCWorld Vietnam
Lên Trên

Di chuyển dữ liệu sang máy tính mới
Bạn mới "tậu" được chiếc PC mới, bộ xử lý mạnh mẽ, dung lượng RAM lớn, đĩa cứng cũng lớn hơn... nhưng còn dữ liệu trên chiếc máy PC cũ thì sao?
Chuyển đổi sang PC mới và cài đặt hệ điều hành mới cũng giống như chuyển sang ngôi nhà mới, lớn hơn, đẹp hơn. Tất cả những dữ liệu mà bạn có trên PC cũ không thể bỏ đi được, chúng rất quan trọng. Nhưng làm thế nào mà di chuyển được những dữ liệu đó tới PC mới như: sổ địa chỉ, email, các dữ liệu chương trình, thư mục Farvorites, các bản nhạc số, ảnh số, các thư mục đặc biệt...
Về mặt lý thuyết, chúng ta có thể sao chép dữ liệu cũ sang máy tính mới khá đơn giản, nhưng trong thực tế thì không đơn giản như vậy. Trong một số trường hợp có thể dẫn đến hỏng hóc và không thể sửa chữa được. Bạn cho rằng sử dụng các phần mềm sao lưu dữ liệu như Norton Ghost sẽ giải quyết được vấn đề này? Không đơn giản như vậy, Norton Ghost có thể phục hồi phân vùng từ đĩa cứng này sang đĩa cứng khác, nhưng để hoạt động ổn định và hiệu quả trên PC thì lại là vấn đề khác. Hơn nữa, hệ thống Windows cũ sẽ không hoạt động trên PC mới. Tuy nhiên, một số công cụ mới cho phép bạn di dời dữ liệu này sang PC mới đơn giản. Bạn chỉ cần vài click chuột là mọi dữ liệu từ chiếc PC cũ kĩ sẽ chuyển sang PC mới nhanh chóng. Một số công cụ dưới đây sẽ biến "giấc mơ" của bạn thành hiện thực:
Files and Settings Transfer Wizard (FAST) là tiện ích có sẵn trong Windows XP, cho phép chuyển dời các thiết lập Windows, Internet Explorer, Outlook, Outlook Express...
Desktop DNA Professional là phần mềm không những cho phép chuyển dời những thiết lập trong các chương trình như FAST mà còn có khả năng di dời các thiết lập từ các phần mềm khác.
Alohabob PC Relocator 2005 Ultra Control Edition là phần mềm mạnh nhất. Alohabob cho phép di chuyển cả ứng dụng sang máy tính mới, mặc dù có thẻ một số ứng dụng sẽ không hoạt động tốt trên PC mới.
Tất cả những công cụ này đều di dời các dữ liệu và các thiết lập trong ứng dụng như: Những tuỳ chọn, thiết lập và cấu hình, vị trí đặt thanh công cụ... Để có thể chuyển đổi một số ứng dụng hoàn hảo, các công cụ này thường được thiết kế đặc biệt hỗ trợ khả năng chuyển đổi. Hầu hết các công cụ đều đều hỗ trợ cho hàng tá những ứng dụng phổ thông từ Microsoft, Intuit tới những phần mềm xuất bản... nhưng bạn cũng nên kiểm tra trước những ứng dụng mà phần mềm di chuyển dữ liệu này hỗ trợ.
Lập kế hoạch chuyển đổi
Trước khi di dời, bạn cần chuẩn bị một số bước sau. Đầu tiên, hãy quyết định lựa chọn sử dụng phương pháp nào để chuyển đổi dữ liệu từ hệ thống này sang hệ thống khác. Lựa chọn này có thể là kết nối mạng chuẩn hoặc các thư mục chia sẻ, kết nối vật lý như: USB, cổng song song, cổng nối tiếp... hoặc qua các thiết bị sao lưu dữ liệu. Di dời dữ liệu sử dụng kết nối mạng là phương pháp nhanh và hiệu quả nhất, nếu chia sẻ tập tin thì hãy chắc chắn rằng các thư mục chia sẻ này đều có thể truy cập tốt.
Thay thế các kết nối mạng bằng phương pháp sử dụng kết nối USB 2.0 có tốc độ cao cũng đem lại hiệu quả tốt. Các phương tiện sao lưu bằng các thiết bị lưu trữ như CD-R chẳng hạn thì cũng không ảnh hưởng lớn. Tuy nhiên, nếu có một kho dữ liệu đồ sộ thì bạn cần phải ngồi đợi, đưa hết đĩa CD này tới đĩa CD khác thì rất mệt mỏi và nhàm chán.
Nếu không thể sử dụng các kết nối mạng, bạn phải sử dụng các kết nối chậm hơn và sử dụng các thiết bị sao lưu thì hãy cân nhắc xoá bớt các tập tin đính kèm lớn trong emails, các bức ảnh cũ, và tiết kiệm được càng nhiều tập tin không cần thiết càng tốt.
Tiếp theo, máy tính cũ sử dụng chế độ đa người dùng, hãy liệt kê danh sách những người sử dụng trên máy tính cũ. Các công cụ này sẽ di dời những tài khoản người dùng sẽ được tạo lại trên máy PC mới hoàn hảo. Bạn thích tính năng di chuyển các thiết lập cũ sang PC mới chứ không phải là toàn bộ ứng dụng (bạn nên sử dụng tuỳ chọn này), hãy cài đặt các ứng dụng trên PC mới trước.
Hãy nán lại vài phút để xem cả 2 PC đều đã hoạt động và thực sự sẵn sàng cho chuyển dời dữ liệu hay chưa. Một ý kiến hay là cập nhật Windows tất cả các bản vá lỗi mới nhất sử dụng Windows Update hoặc truy cập vào trang http://www.windowsupdate.com. Cập nhật các chương trình chống virus, các phần mềm chống gián điệp và quét toàn bộ cả 2 máy để đảm bảo chúng đều sạch sẽ và không chứa bất cứ mối nguy hiểm nào. Sau khi đã quét xong toàn bộ, hãy tạm thời tắt bỏ các ứng dụng thời gian thực như và cả phần mềm tường lửa, bởi chúng có thể làm gián đoạn tới quá trình chuyển dời dữ liệu. Kết nối Internet cũng nên ngắt tạm thời.
Sử dụng các công cụ di chuyển
Sử dụng FAST
FAST (Windows Files and Settings Transfer Wizard) là chương trình chỉ có khả năng di chuyển các thiết lập người dùng Windows, Internet Explorer, Outlook, Outlook Express... không cho phép chuyển dời các ứng dụng, và có rất ít lựa chọn và không có khả năng undo hoặc khả năng báo cáo chi tiết. Nhưng vì đây là phần mềm đi kèm với Windows XP nên rất tiện lợi và không phải tốn chi phí đầu tư.
FAST có thểchạy bằng 2 cách: Cách thứ nhất bạn chỉ cần đưa đĩa CD Windows XP vào ổ và chọn Perform Additional Tasks, tiếp đó chọn Transfer Files and Settings. Cách thứ hai: Start -> All Programs -> Accessories -> System Tools -> Windows Files and Settings Transfer Wizard.
FAST thực sự là một đồ thuật đơn giản, chỉ với một vài bước lựa chọn thư mục và các tập tin, thiết lập cấu hình... dữ liệu sẽ được di chuyển tới máy PC mới. FAST đơn giản, không có nhiều tính năng cao cấp, nếu muốn biết thông tin chi tiết, nhiều lựa chọn hơn thì hãy sử dụng công cụ như Desktop DNA, Alohabob
Sử dụng Desktop DNA
Desktop DNA của Computer Associates chỉ cho phép chuyển dời các thiết lập và cấu hình sẵn có chứ không phải là các ứng dụng, Desktop DNA cho phép truyền dữ liệu trực tiếp hoặc gián tiếp. Cũng giống như FAST,Desktop DNA di dời các thiết lập theo thời gian thực, diễn ra khá nhanh chóng và đơn giản.
Desktop DNA có khả năng chuyển dời gián tiếp, đây là sự thay thế tiện lợi nếu bạn không thể sử dụng 2 máy tính đồng thời. Chương trình tạo ra một tập tin thực thi được (.exe) từ hệ thống cũ và bạn có thể sao chép chúng tới hệ thống mới bằng bất cứ phương tiện lưu trữ khác. Khi nào cần thực hiện cài đặt thiết lập, chỉ cần chạy tập tin này là hoàn thành. Desktop DNA cung cấp lựa chọn các thiết lập và khả năng undo mạnh mẽ mà FAST không có.
Sử dụng Alohabob Pc Relocator
Alohabob PC Relocator 2005 Ultra Control Edition làm việc không những "ổn" như Desktop DNA mà còn có thể di chuyển rất nhiều ứng dụng. Hãy cài đặt phần mềm này trên cả máy tính cũ và mới, và thực hiện một số bước hướng dẫn cài đặt đơn giản. Nếu cả 2 máy tính này đều nối mạng thì quá trình di chuyển này thực sự rất đơn giản. Bạn chỉ cần chọn máy nguồn (source) và máy đích (target), lựa chọn chế độ truyền tự động (automatic), hãy xem xét và chấp nhận đề nghị mà chương trình đưa ra, thực hiện những bước mà phần mềm yêu cầu. Là mẫu người thích khám phá, bạn có thể lựa chọn chế độ chuẩn (Standard) hoặc chuyên gia (expert), để lựa chọn bằng tay các kiểu tập tin, thư mục, các thiết lập... hoặc các ứng dụng mà chương trình hỗ trợ. Trong chế độ chuyên gia, bạn có thể chuyển đổi toàn bộ ứng dụng tới đĩa cứng mới. Nếu gặp lỗi, PC Relocator có chức năng undo để có thể quay về các trạng thái ban đầu.
Sau khi di chuyển dữ liệu thành công
Khi hoàn thành quá trình chuyển đổi, hãy kiểm lại PC mới để đảm bảo chắc chắn quá trình di dời diễn ra tốt đẹp, đúng như mong đợi. Mặc dù các công cụ di dời thực sự đem lại khả năng di chuyển dữ liệu, ứng dụng hữu ích và đơn giản, nhưng các chương trình này không phải là những "chiếc đũa thần" hoàn hảo. Một số lỗi nhỏ có thể sẽ xuất hiện, nhưng dẫu sao những phần mềm này cũng là lựa chọn tốt cho nhu cầu của bạn.
Theo VietnamNe
Lên Trên

Sửa lỗi hiện không gỡ chương trình được trong Add/ Remove program
Không biết các bạn có gặp trường hợp này khi mở Add/ Remove Program từ Control Panel chưa. Có 1 khoảng trống trong danh sách các chương trình đã cài đặt ( Currently installed programs ) và hiển thị thông báo như trên hình.
Tôi thử vọc và tìm vào tập tin appwiz.cpl, tìm đến dòng 225 như thông báo, xóa bỏ lung tung nhưng vô hiệu. Mặc dù có thể dùng chương trình khác để gỡ bỏ các chương trình đã cài đặt trên máy nhưng tôi vẫn rất khó chịu vì không biết được bị lỗi gì, tại sao và làm thế nào để sửa lỗi này. Lỗi này là do 1 chương trình nào đó đã xóa bỏ không đúng cách các entry của registy mà được Windows hoặc Add/Remove Programs tool sử dụng.
Để sửa lỗi này các bạn làm như sau :
1. Vào Start, Run.
2. Gõ cmd ( Win2K trở lên ), enter để vào command line.
3. Sử dụng lệnh REGSVR32 [đường dẫn\ tên tập tin] để đăng ký lại các tập tin sau : Trong %systemroot%\System32 : Appwiz.cpl, Mshtml.dll, Jscript.dll, Msi.dll, Mshtmled.dll.
Và 2 tập tin sau nữa : - Program Files\Common Files\System\Ole DB\Oledb32.dll Program Files\Common Files\System\Ado\Msado15.dll - Xong mở lại Add/ Remove Program để thấy kết quả.
Chú ý : Các bạn nào có cài VS.NET khi bị lỗi này thì đồng thời cũng không thể kết nối đến CSDL được. Sau khi đăng ký các tập tin trên rồi thì sẽ có thể kết nối CSDL được.
Lên Trên

Thủ thuật buộc hệ thống sinh ra màn hình xanh
Những điều sắp nêu đây có thể coi là không bình thường bởi bạn vẫn luôn cố gắng đế tránh những màn hình xanh hay ít nhất cũng làm giảm thiểu tác hại của chúng?? Nhưng trong trường hợp nào đó bạn muốn buộc hệ thống của mình sinh ra màn hình xanh thì sao nhỉ?
Có thể bạn muốn thử xem rằng Windows XP có khởi động 1 cách thật tốt hoặc các dịch vụ sau khi bạn thực hiện tinh chỉnh có khởi động lại được hay không?
Một thủ thuật nhỏ chỉnh sửa trong Registry sẽ giúp bạn buộc hệ thống sinh ra màn hình xanh chỉ với tổ hợp phím đặc biệt, nó có ích cho cả mục đích thử nghiệm lẫn đùa vui.
Hãy chắc rằng bạn đã có 1 bản sao lưu dự phòng Registry trước khi thực hiện việc này nhé!
Thực hiện:
Nhấn Start -> Run, bạn gõ Regedit -> Enter
Trong Registry Editor bạn tìm đến khóa
HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Services\i8042prt\Parameters
Bạn tạo một giá trị DWORD(nếu chưa có) mang tên CrashOnCtrlScroll
Hãy nhập giá trị 1 cho khóa này nếu muốn hệ thống sinh ra màn hình xanh,
Giá trị 0 nếu muốn xóa bỏ chức năng đó
Thực hiện xong, hãy khởi động lại máy
Bạn tự hỏi, công việc này có tác dụng gì? Vâng, ở đây dịch vụ i8042prt sẽ xử lý dữ liệu đựơc nhập từ bàn phím, vì thế nó cho phép hệ thống của bạn phải sinh ra màn hình xanh thông qua tổ hợp phím Ctrl + Scroll + Scroll (hãy sử dụng Ctrl bên phải nhé). Từ đây, khi bạn nhấn tổ hợp này, hệ thống của bạn sẽ hiển thị màn hình xanh ngay lập tức
Lên Trên
Gõ dấu tiếng việt trong Notepad của Win XP
Những tài liệu Word (đuôi *.DOC) thường rất nặng so với tài liệu Notepad (đuôi *.TXT) chứa cùng một lượng dữ liệu. Nếu không cần định dạng chữ chỉ cần hiện đúng tiếng Việt trong tài liệu, bạn sử dụng Notepad thay vì MS Word. Notepad có sẵng trong Windows, và máy tính có dung Windows 2000 trở lên thì càng tiện lợi hơn với nhữnng font hỗ trợ Unicode như Tamaho, Arial…
Trong phần mềm gõ tiếng Việt (Unikey chẳng hạn), bạn chọn bảng mã Unicode, kiểu gõ VNI (hoặc tùy chọn).
-Mở Notepad lên.
-Vào Thuc don Format\Font, chọn font Tamaho.
-Gõ một đoạn văn bản tiếng Việt có dấu vào cửa sổ Notepad, bạn thấy tiếng Việt hiển thị rất chính xác.
-Vào Thuc don File\Save, dòng Encoding chọn UTF-8. Bấm Save.
Chú ý : Khi mở một file Notepad chứa mã Unicode, có thể bạn sẽ thấy toàn mã lạ, đừng lo, vào Format\Font, chọn font Tamaho, mọi thứ sẽ trở lại bình thường.
Lên Trên

Tự động làm sạch thư mục Prefetch khi shutdown
Thủ thuật sau sẽ giúp bạn tự động xóa các tập tin được lưu trữ trong thư mục Prefetch khi shutdown máy tính.
Bạn mở Notepad lên và nhập đoạn mã sau vào:
Dim fso
Set fso = Createobject("Scripting.FileSystemObject")
Dim MyVar
MyVar = MsgBox ("Xoa cac cache duoc luu tru trong Prefetch", 0, "Xoa Prefetch")
fso.DeleteFile("C:\WINDOWS\Prefetch\*.*")
Trong đó C: là ổ đĩa cài đặt hệ điều hành Windows XP.
Bạn đặt tên cho tập tin này là clearprefetch.vbs.
Tiếp theo, bạn vào Start\ Run > gõ gpedit.msc > nhấn OK.
Trong khung bên trái, tìm đến mục Computer Configuration\ Windows Settings\ Scripts (Startup/Shutdown). Trong khung bên phải, nhấp đôi chuột vào mục Shutdown.
Trong hộp Shutdown Properties, nhấn Add, nhập đường dẫn của tập tin clearprefetch.vbs trong mục Script Name và nhấn OK.
theo Echip
Lên Trên

Thủ thuật cứu các file dữ liệu đã bị xóa
Tiện ích PC Inspector File ở địa chỉ http://www.pcinspector.de/file_recovery/UK/welcome.htm sẽ tìm ra những tập tin mà bạn đã bất cẩn xóa bỏ hoặc bị mất. Còn tiện ích đi kèm PC Inspector Smart Recovery (http://www.pcworld.com/downloads/file_description/0,fid,23069,00.asp) thì giúp lấy lại ảnh đã xóa vô ý từ bất kỳ phương tiện lưu trữ nào.
Bất kỳ ai từng sử dụng đĩa ghi CD-R/RW đều biết rằng nó rất dễ bị hư hại. CDCheck (http://www.elpros.si/CDCheck/Giup dolink.php?Giup dofn=overview) sẽ phát hiện những file bị hỏng và phục hồi để lưu trữ an toàn. Trình tiện ích hữu dụng này cũng sẽ cho phép bạn "kiểm tra sức khỏe" của những tập tin PC khác, được duyệt trên Windows Explorer.
Thùng rác Recycle Bin của Windows nhiều khi không đủ đáp ứng nhu cầu của bạn. Nếu bạn cần một trình ứng dụng mạnh để phục hồi tập tin tốt hơn, hãy chọn Restoration (http://www.freewareweb.com/cgi-bin/archive.cgi?ID=1672). Phần mềm này có khả năng cứu những file vô tình bị xóa bỏ ngay cả khi chúng không còn trong Recycle Bin hoặc bị xóa trong khi giữ chìm phím Shift.
Chương trình cũng có chức năng cho phép xóa không thể phục hồi mà bạn có thể dùng khi xóa những tài liệu mật. Vì Restoration có thể chạy từ đĩa mềm nên bạn sẽ không vô ý ghi đè một file “đã xóa” nhưng thật ra vẫn nằm đâu đó trong ổ cứng.
Lên Trên

.“Ảo hoá” đa hệ điều hành
Hầu hết các hệ điều hành ngày nay đều hỗ trợ giải pháp cài đặt đa hệ điều hành trên nhiều phân vùng khác nhau của ổ đĩa cứng. Nhưng đã bao giờ bạn đã nghĩ đến việc có thể chạy cùng một lúc nhiều hệ điều hành chưa? Ảo hoá sẽ giúp bạn thực hiện điều đó.
Điều kiện để có thể thực hiện thành công “ảo hoá” PC của bạn phải bảo đảm có được một dung lượng bộ nhớ RAM đáng kể - tối thiểu phải là 512MB – dung lượng ổ đĩa cứng còn trống tương đối lớn và tốc độ bộ vi xử lý cũng phải tương đối một chút.
Trước tiên, chúng ta hãy tìm hiểu khái niệm “ảo hoá”. “Ảo hoá” ở đây là cho phép hệ điều hành chủ của bạn có thể chạy nhiều hệ điều hành khác nhau ở dạng cửa sổ hoặc toàn màn hình. Hệ điều hành chủ – có thể là Linux hoặc là Windows – cùng với phần mềm ảo hoá cấp tài nguyên cho hệ điều hành ảo hoạt động bình thường.
Phần mềm ảo hoá cho phép bạn cài đặt thêm một hệ điều hành ảo mà không cần phải định dạng phân vùng lại ổ đĩa hoặc khởi động lại hệ điều hành chủ giúp bạn thử nghiệm rất nhiều thứ, thậm chí bạn có thể thử nghiệm thiết lập mạng LAN giữa hệ điều hành gốc và hệ điều hành ảo. Hoặc giả bạn có truy cập Internet bị nhiễm bất kỳ một loại phần mềm độc hại nào thì cũng chỉ nguy hiểm đến hệ điều hành ảo mà thôi chứ không ảnh hưởng đến hệ điều hành chủ.
Nghệ thuật của Xen
Xen 3.0 của XenSource là một phần mềm ảo hoá máy chủ mã nguồn mở và miễn phí, tương thích với các phiên bản Linux. Xen 3.0 được cài đặt sẵn các phiên bản hệ điều hành SuSE Linux 10.1, OpenSuSE 10.1, Red Hat Enterprise Linux 5 và Fedora Core 5.
Xen vận hành như là một phần trong nhân Linux nên khả năng vận hành rất tốt. Chỉ cần bạn cung cấp đủ bộ nhớ, hệ điều hành ảo sẽ chạy nhanh như hệ điều hành chủ. Tuy nhiên, Xen cũng có một số hạn chế là các phiên bản hệ điều hành đều phải lập trình lại để tương thích với Xen và Xen không tương thích với Windows.
VMWare: Không phải lựa chọn tốt lắm
Nếu bạn Windows thì VMWare sẽ là lựa chọn của bạn. Hiện đã có phiên bản VMWare Virtual Server. Phần mềm này cũng mang lại những lợi ích tương tự như Xen 3.0 nhưng có một điều là tốc độ của hệ điều hành ảo không được như mong muốn cho lắm.
Khi bạn đã cài đặt thành công VMWare Virtual Server bạn có thể cài đặt ngay một hệ điều hành khác lên máy ảo hoặc có thể tài về rất nhiều phiên bản hệ điều hành ảo khắc đã được cài và cầu hình tương thích với VMWare tại địa chỉ http://www.vmware.com/vmtn/appliances/directory/
Sản phẩm của Microsoft
Còn nếu bạn muốn thử nghiệm ảo hoá theo một cách khác thì bạn hãy thử sản phẩm của Microsoft - Microsoft Virtual Server 2005 R2. Tuy nhiên, để sử dụng sản phẩm này thì bạn phải là người khá “lành nghề” trong lĩnh vực ảo hoá đấy. Phần mềm này chỉ tương thích với Windows XP Professional và Windows Server 2003.
PC World
Lên Trên

Một số mẹo khi dùng máy tính
Nhiều mẹo nhỏ và những thủ thuật tưởng rằng mình đã làm đúng nhưng thực tế lại không phải, hoặc ngược lại. Hãy chia sẻ những kinh nghiệm của bạn với mọi người xung quanh.
1. Tắt máy tính mỗi đêm để giữ máy?
Sai! Máy tính của bạn không cần tắt đi mỗi ngày để nó chạy tốt. Nhiều người rất bực mình khi chờ Windows đóng và cũng không thoải mái khi phải chờ nó khởi động lại. Càng nhiều chương trình và ứng dụng thì thời gian này càng lâu. Tại sao không sử dụng XPHibernation, chức năng ngủ đông của XP bằng cách sau:
Start/turn off computer/stanby, giữ Shift nhấn Hibernation. Và lúc này máy của bạn đã được ngủ đông, khi khởi động nhanh hơn và vẫn giữ được công việc bạn đang làm dở dang.
2. Lỡ đổ một chút nước uống vào bàn phím, tức là đã tiêu bàn phím đó?
Sai! Bàn phím của bạn vẫn tồn tại trừ khi nước đổ vào quá nhiều. Bạn hãy đặt úp nó xuống một cái khăn và để đó một lát. Sau đó lau lại bàn phím và làm việc bình thường sau đó. Tuy nhiên với laptop thì không dễ vậy vì chất lỏng thấm xuống các linh kiện điện tử phía dưới, có thể làm hỏng luôn những linh kiện này. Đáng tiếc là không có bảo hành cho trường hợp này nên bạn cần đề phòng với laptop hơn.
3. Để nam châm cạnh đĩa mềm, nội dung trong đĩa sẽ bị xóa?
Đúng! Đặt nam châm vào đĩa mềm thì nội dung trong đĩa sẽ bị xóa hết.
4. Cứ dùng phần mềm quét virus được cập nhật để kiểm tra virus thường xuyên là an tâm?
Sai! Nếu bạn có phần mền quét virus đã được cập nhật, bạn vẫn có thể bị spyware. Nó chạy ở nền windows và cho máy chậm lại. Hãy tìm các phần mềm diệt spyware mạnh để điều trị nó.
5. Sẽ không thể bị spyware nếu có phần mềm diệt spyware hoạt động hiệu quả?
Sai! Vì các phần mềm diệt spyware có hiệu quả rất khác nhau. Theo trắc nghiệm mới đây của PC World, các phần mềm này chỉ diệt được 66%-90% là cùng. Nên cài 2 phần mềm cùng lúc sẽ chắc ăn hơn.
6. Pin của laptop sẽ kém nhanh nếu cứ sạc trước khi nó hết điện?
Sai! Trừ khi bạn đang sở hữu một máy laptop sản xuất đã lâu lắm rồi. Ngày nay mọi laptop đều dùng pin lithiumion nên không cần phải đợi đến hết pin mới được sạc.
Xã Hội Thông Tin
Lên Trên

Sổ tay PC: Tối ưu hóa cho Windows
Tắt chế độ Log-in trong XP
Vào Start -> Run -> nhập "control userpasswords2" và Enter. Khi hộp thoại mở ra, bạn bỏ dấu chọn trước dòng ". must enter a user name and password to use this computer", OK để lưu lại thay đổi.
Lưu ý: chỉ nên tắt chế độ Log-in nếu máy tính của bạn không đòi hỏi bảo mật cao.
Máy tính trong Word
Thay vì khởi động Calculator của Windows, bạn thử mở Calculator trang bị sẵn trong Word. "Bí kíp" là vào View -> Toolbars -> Customize, trong thẻ Commands, bạn chọn Tools -> Tools Calculate. Click&drag để đặt Calculator trên Toolbar ở bất cứ chỗ nào bạn thích. Khi cần tính toán, bạn bôi đen phép tính và click "Tools Calculate". Kết quả được lưu trong Clipboard, nếu muốn in ra, nhấn Paste hoặc Ctrl+V.
Tối ưu hóa đĩa cứng
Windows "giấu" một chức năng khá hay giúp bạn tối ưu hóa đĩa cứng. Để tận dụng nó, bạn phải vào Start -> Run -> nhập Regedt32, HKEY_LOCAL_MACHINE\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\OptimalLayout, tìm REG_DWORD có tên"EnableAutoLayout;" và thiết lập giá trị là 1 (nếu tìm không ra, bạn có thể tự tạo bằng cách click chuột phải -> New -> DWORD Value). Nhớ là phải khởi động lại máy để xem điều kỳ diệu gì sẽ xảy ra.
Đọc file PDF trong Windows
Acrobat Reader có thói quen mở trình duyệt để hiển thị riêng trang PDF mỗi lần bạn click lên link khiến tốc độ xử lý máy bị chậm hẳn lại. Để trị bệnh này, bạn vào Edit -> Preference -> Internet, tắt chế độ "Display PDF in browser" và "Allow Fast Web View". Bây giờ bạn đã có thể đọc file PDF trong Windows bình thường mà không hề ảnh hưởng đến tốc độ máy.
Tự update giờ cho máy tính
Với WinXp, bạn có thể yêu cầu máy tính tự đồng bộ hóa giờ của hệ thống với giờ trên Internet bằng cách: vào Start -> Run -> nhập Regedt32 và tìm đến thư mục HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\ControlSet001\Services \W32Time\TimeProviders\NtpClient. Bạn thiết lập giá trị cho "SpecialPollInterval" theo đơn vị giây. Tuyệt đối đừng chọn 1, vì nó sẽ làm khó máy tính của bạn bằng việc liên tục cập nhật thay đổi mới. Lựa chọn tối ưu là để máy tính cập nhật từng giờ, hoặc từng ngày, giá trị từ 3600 hay 86400 là được.
Mệt mỏi với AutoComplete
Windows có một chức năng mặc định khiến nhiều người cảm thấy rất khó chịu là AutoComplete. Để diệt kẻ quấy rối này, bạn vào Start -> nhập Regedt32 -> tìm đến khóa HKEY_CURRENT_USER\ Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Explorer\AutoComplete và tạo DWORD mới có tên là "Autocomplete In File Dialog" với giá trị là 0. Những lần mở và save file sau, chức năng AutoComplete sẽ chính thức "thúc thủ" và chẳng dám làm phiền bạn.
"Chuyển nhà" cho My Documents
Một ngày đẹp trời, bạn ngẫu hứng muốn My Documents chuyển sang địa chỉ mới. Rất đơn giản, bạn chỉ cần vào Start, click chuột phải lên My Documents và chọn Properties, nhập "địa chỉ mới" cho My Documents. Hoặc nhanh gọn hơn, bạn có thể tận dụng phím Move, và chọn địa chỉ mới được liệt kê sẵn trong list. Trong trường hợp gặp trục trặc thì bạn nhập lại địa chỉ mặc định của My Documents là C:\Documents and Settings\[tên User]\My Documents.
Theo Thanh Niên Online
Lên Trên

10 bước "phòng thủ" cho Windows
Mỗi virus, phần mềm gián điệp, thư rác bùng lên đều có thể khiến máy tính của bạn bị tê liệt. Để giữ cho máy tính của bạn không bị đe dọa, chúng tôi đúc kết những lời khuyên về bảo mật thành 10 bước cơ bản. Những bước bảo mật này rất nhanh và dễ dàng thực hiện. Chúng sẽ bảo vệ bạn cả phần cứng, phần mềm, và cả dữ liệu.
Bước 1. Cập nhật các bản sửa lỗi một cách tự động: Phải đảm bảo rằng Windows của bạn có thể tự động cập nhật. Trong Windows XP, nhấn nút Start ->Control Panel->Security Settings->Automatic Updates.Trong Windows 2000, nhấn nút Start ->Settings->Control Panel->Automatic Updates. Chắc chắn rằng cả hai bản windows này đều chọn "Automatic(recommended)". Bạn sẽ nhìn thấy cảnh báo trước khi tải các bản cập nhật, bạn cũng có thể tự cài đặt chúng bằng tay. Những bước trên có thể hơi khác một chút trên bản Windows 98, Me.
Bước 2. Đừng đợi Windows: Nếu bạn tắt máy trong vài ngày, đừng đợi Windows tự động cập nhật. Hãy truy cập vào trang web cập nhật này của Microsoft:http://www.windowsupdate.com/. Hơn nữa, các bản vá lỗi sẽ chậm cập nhật hơn khi "Window Update" gửi tới. Vào mỗi tháng, Microsoft phát hành các bản sửa lỗi vào Thứ Ba của tuần thứ hai. Do đó, sẽ an toàn hơn nếu bạn kiểm tra các bản cập nhật này hai tuần một lần. Và chắc chắn bạn đừng quên cập nhật các công cụ diệt virus, phần mềm chống gián điệp một cách tự động hoặc tự cập nhật chúng hàng tuần bằng tay.
Bước 3. Sử dụng công cụ quản lý bảo mật của XP: Windows XP SP2 có thêm tính năng là Trung tâm bảo mật (Security Center). Đây là chức năng đưa ra cảnh báo khi tường lửa và chương trình chống virus bị tắt hoặc chưa cập nhật.Tuy vậy, chức năng tường lửa của XP chỉ bảo vệ bạn trước các hiểm họa từ bên trong, nó không cảnh báo cho bạn về những khả nghi từ bên ngoài. Do đó, chúng tôi đề nghị bạn tắt tính năng tường lửa của XP và hãy sử dụng thay thế bằng tường lửa của các hãng thứ ba như ZoneAlarm của Zone Lab chẳng hạn. Địa chỉ tải ZoneAlarm ở cuối bài.
Công cụ quản lý bảo mật của XP
Bước 4. Hãy làm hiện các tên đuôi tập tin của bạn: Một vài loại vi rút giả mạo như là các loại tập tin bằng cách thêm vào phần mở rộng không có thật vào cuối tên của chúng, ví dụ như; "funnycartoon.jpg.exe". Nếu Windows của bạn đặt ẩn tên đuôi tập tin thì lúc đó bạn sẽ chỉ nhìn thấy là ".jpg" chứ không phải là ".exe". Để giải quyết vấn đề đơn giản này, bạn chỉ cần mở Windows Explorer hoặc bất cứ cửa sổ thư mục nào, và nhấn vào Tools ->Folder Lua chon ->View-> Bỏ chọn mục "Hide protected operating system files(Recommended)."
Mẹo nhỏ: Nếu bạn muốn hiển thị tất cả thông tin của thư mục cài đặt Windows, tập tin hệ thống, bạn chỉ cần chọn vào mục "Show hidden files and folders" và bỏ chọn mục "Hide protected operating system files (Recommended)."
Bước 5. Giữ IE được an toàn: Rất nhiều người nhận thấy rằng ở mức bảo mật trung bình của IE 6 rất dễ dàng để cho các điều khiển ActiveX, các JavaScript - những đoạn mã kích hoạt trên máy của họ. ActiveX và JavaScript cho phép trang Web có thêm nhiều tính năng hay như mẫu hóa đơn đặt hàng, quét bảo mật... Nhưng chúng cũng có thể chạy các đoạn mã phá hoại, cấp quyền cho hacker truy cập vào hệ thống của bạn. Để cho IE trở nên an toàn hơn, bạn nhấn nút Tools -> Internet Lua chon -> Security->Custom Level -> Trong khung hội thoại Security Settings, chọn mục "High" , sau đó nhấn nút Reset, Yes, OK.
Thật không may, khi đặt chế độ bảo mật mức cao, trình duyệt IE có thể sẽ hiện ra một loạt các cảnh báo, cửa sổ pop-up mỗi lần bạn ghé thăm một trang. Giải pháp là bạn hãy thêm các trang mà bạn thường truy cập vào danh sách các trang Web đáng tin cậy của IE: Chọn Tools-> Internet Lua chon-> Security-> nhấn chuột vào biểu tượng "Trusted Sites", sau đó nhấn chuột vào nút "Sites".Nhập địa trang Web, nhấn nút "Add", và lặp lại các bước cần thiết (xem màn hình "Trusted Sites" bên dưới). Bỏ chọn "Require server verification (https:) for all sites in this zone.". Khi hoàn thành thành, bạn nhấn nút "OK".
Bước 6. Làm cho Firefox bảo mật hơn: Chỉ có duy nhất một cách để bạn chặn đứng các đoạn JavaScript trong trình duyệt Firefox là tải và cài đặt trình NoScript cài đặt thêm được viết bởi Giorgio Maone tại địa chỉ:
https://addons.mozilla.org/extensions/morei...=firefox&id=722
NoScript sẽ đặt một thanh cảnh báo ở cuối tất cả các trang Web mà bạn ghé thăm có sử dụng JavaScript. Nhấn chuột vào thanh này để xem các lựa chọn các Script của từng trang(có thể là tạm thời hay vĩnh viễn), chặn các đoạn kịch bản, và các hoạt động khác như chặn các đoạn hoạt hình bằng Flash các trình cài thêm trong Firefox.
Bước7. Xử lý các liên kết trong thư của bạn thật cẩn thận: Nếu máy tính của bạn bị nhiễm vi rút, thì rất có khả năng là qua thư điện tử của bạn. Để giảm rủi ro từ thư điện tử, bạn đừng nhấn vào các liên kết tới các thư khả nghi( các đoạn văn bản có thể che dấu địa chỉ trang Web thực sự). Vì vậy, bạn nên tự gõ tên địa chỉ trang web đó bằng tay, duyệt qua các liên kết trong trang Web đó thật cẩn thận.
Bước 8. Quét vi rút các tập tin đính kèm: Chạy chương trình diệt vi rút qua từng tập tin đính kèm trước khi bạn mở chúng. Bạn không nên nhấn đúp tập tin đính kèm đó để mở trực tiếp, bạn nên lưu tập tin vào đĩa cứng trên máy của bạn. Bạn mở Windows Explorer,nhấn phím phải vào tên tập tin và chọn lựa chọn "Scan it for virues", tên lựa chọn này có thể khác tùy thuộc vào chương trình diệt vi rút mà bạn đang dùng. Cách tốt nhất là bạn nên đặt lựa chọn quét tất cả các thư gửi và nhận một cách tự động.
Bước 9. Đóng cửa sổ khung xem trước: Một số thư hiểm độc chỉ cần bạn mở chúng ở khung xem trước trong chương trình thư của bạn là chúng đã có thể kích hoạt. Chính vì lẽ đó, chúng tôi thành thật khuyên bạn nên đóng cửa sổ khung xem trước này. Trong Outlook Express: Chọn View -> Layout -> bỏ lựa chọn Preview Pane. Trong Microsoft Outlook 2003, nhấn nút View -> Reading Pane-> Off. Trong Mozilla Thunderbird, nhấn nút View -> Layout và xác nhận bỏ chọn "Message Pane" (nhanh hơn bạn chỉ cần nhấn F8).
Bước 10. Bạn nên đọc thư ở chế độ văn bản thô: Bởi vì rất nhiều thư quấy rối phụ thuộc vào mã HTML để đạt được mưu đồ xấu, bạn có thể chặn chúng lại bằng cách chỉ xem thư bằng văn bản thô. Trong Out look 2003, chọn Tools ->Lua chon -> Read và chọn "Read all standard mail in plain text." Trong Outlook Express 6, chọn Tools ->Lua chon ->Read và chọn "Read all messages in plain text." Trong Mozilla Thunderbird, chọn View -> "Message Body As" -> "Plain Text".
Địa chỉ tải các công cụ:
Tường lửa: ZoneAlarm của Zone Labs, miễn phí (cá nhân, thiếu một số tính năng so với bản đăng kí).
http://www.pcworld.com/downloads/file_desc...8,tk,srx,00.asp
Diệt vi rút: AVG của Anti-Virus System, miễn phí(không thương mại)
http://free.grisoft.com/softw/70free/setup...ree_344a618.exe
Mã hóa thông tin: PGP Desktop 9 của PGP giá $199 hoặc $70 nếu đăng kí một năm.
http://www.pgp.com/products/desktop/index.html
Theo VietnamNet
Lên Trên

Ghi đĩa trực tiếp từ Windows Explorer
Chương trình ghi đĩa One-click CD/DVD Writer (OW) của công ty Streamware Development thực sự phù hợp với những người "chuộng" sự đơn giản. Song, tốc độ ghi của phần mềm cũng không kém phần "trang trọng".
Với các chương trình ghi đĩa thông dụng khác, bạn phải mất khá nhiều thời gian xử lý qua nhiều tiến trình khác nhau trước khi thực hiện việc ghi đĩa. Còn với OW, bạn có thể rút ngắn thời gian và các thao tác xử lý đến mức tối thiểu.
OW cho phép bạn ghi các dĩa CD/ DVD chứa dữ liệu, ghi các đĩa audio CD/DVD và ghi các file ảnh ISO vào đĩa CD/DVD trực tiếp ngay trên context Thuc don của Windows Explorer (Thuc don xuất hiện khi bấm phải chuột).
Điều thú vị là khả năng tùy biến của chương trình rất cao. Nếu mục đích của bạn là ghi các đĩa CD/DVD chứa dữ liệu thì trên context Thuc don chỉ xuất hiện dòng lệnh Write data disk… Khi bạn cần ghi một đĩa audio CD/DVD từ các file nhạc MP3, wma, wav, ogg có sẵn, lúc đó trên context Thuc don sẽ xuất hiện thêm dòng lệnh Write audio disk… Và nếu bạn muốn ghi một file ảnh ISO vào dĩa CD/DVD trắng thì trên context Thuc don lúc đó chỉ xuất hiện dòng lệnh Burn image to disk…
Ghi dĩa CD/DVD chứa dữ liệu
Bạn gom tất cả các file dữ liệu vào một thư mục nào đó. Tiếp theo, sử dụng tổ hợp phím Ctrl + A để chọn tất cả các file này rồi bấm phải chuột (hoặc bấm phải chuột vào thư mục chứa các file này). Tiếp đó, bạn bấm chọn dòng lệnh Write data disk… Trong cửa sổ vừa xuất hiện, bạn nhập vào tiêu đề cho đĩa cần ghi ở thẻ Disk title. Sau cùng, bấm vào biểu tượng để chương trình thực hiện việc ghi đĩa.
Ghi đĩa audio CD/DVD
Bạn gom tất cả các file nhạc audio (như mp3, wav, wma, ogg) vào một thư mục nào đó. Tiếp theo, bạn sử dụng tổ hợp phím Ctrl + A để chọn tất cả các file này, bấm phải chuột và chọn dòng lệnh Write audio disk… Trong cửa sổ xuất hiện, bạn xác định số lượng đĩa cần ghi ở thẻ Writing Lua chon > Copies. Sau cùng, bấm vào biểu tượng để chương trình thực hiện việc ghi đĩa.
Ghi file ảnh ISO vào đĩa CD/DVD
Bạn bấm phải chuột vào file ISO cần ghi và chọn dòng lệnh Burn image to disk… Các bước tiếp theo, bạn thực hiện tương tự như khi ghi các đĩa audio CD/DVD.
Phiên bản mới nhất OW v1.0 có dung lượng 1.62 MB, tương thích với mọi Windows, hỗ trợ 3 tính năng ghi đĩa như đã nêu ở trên. Bạn có thể tải về bản dùng thử tại địa chỉ http://www.streamware-dev.com/cdwriter10.exe.
Lên Trên

Một số thủ thuật đơn giản trên WIindows
Thay đổi thư mục mặc định của Explorer Bất cứ khi nào khởi động Windows Explorer, chương trình đều tự động dẫn bạn đến thư mục mặc định sẵn, thường là My Documents. Bằng thủ thuật đơn giản sau, bạn có thể "bắt" chương trình phải mở thư mục mà bạn cần.
Click chuột phải vào icon của Windows Explorer, chọn Properties, và thay đổi dòng lệnh "%SystemRoot%\explorer.exe" thành "%SystemRoot%\explorer.exe /n, /e, [đường dẫn đến thư mục]". Click OK để kết thúc và lưu lại thay đổi.
Tắt chế độ Auto-Canvas
Mỗi lần dùng đến AutoShapes để vẽ hình, Microsoft Word lại tự mở textbox với dòng chữ "Create Your Drawing Here" ngay nơi bạn định vẽ. Để tắt chế độ này, bạn vào Tools -> Lua chon -> General Tab và bỏ dấu tick trước dòng "Automatically create drawing canvas when inserting autoshapes".
Xóa buttons khỏi màn hình Internet Explore (IE)
Để mở IE ở chế độ full screen, bạn nhấn F11. Thế nhưng trên màn hình vẫn còn một số button và Thuc don. Để xóa chúng, bạn click chuột phải vào shortcut IE, vào Properties -> Target và thêm "-k" vào cuối để có dòng lệnh như sau: "C:\Program Files\Internet Explorer \IEXPLORE.EXE" -k. Save lại.
Phím tắt trong Yahoo! Mail
Khi mở mailbox, nhấn Ctrl+Shift+C để check mail, Ctrl+Shift+P để soạn mail, Ctrl+Shift+F để mở thư mục, Ctrl+Shift+S để tìm kiếm và Ctrl+Shift+H để được trợ giúp.
Tự tắt trình ứng dụng bị lỗi
Mỗi lần có trình ứng dụng nào bị "Not responding", bạn đều phải dùng đến bộ ba Ctrl+Alt+Delete để mở hộp thoại Windows Task Manager và tìm "thủ phạm" để nhấn End Task. Windows có một chức năng khá đặc biệt buộc trình ứng dụng nào bị lỗi tự tắt. Để thực hiện, bạn vào Start -> Run, nhập REGEDT32 vào hộp thoại và chọn HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Desktop. Bạn thay thông số trong AutEndTasks từ 0 thành 1.
Xóa file trong tất cả thư mục
Nếu muốn xóa tất cả file cùng loại trong một thư mục, hay ổ đĩa, bạn vào Start -> Run, nhập CMD vào hộp thoại. Khi dấu nhắc hiện ra trên màn hình, vào thư mục hay ổ đĩa mà mình cần xóa, gõ DEL /F /S [*.loại file cần xóa]. Ví dụ, nếu muốn xóa toàn bộ file MP3 trong máy tính, bạn sẽ gõ CD C:\ tại dấu nhắc, rồi gõ DEL /F /S *.mp3. Tất cả các file MP3 sẽ “bốc hơi” khỏi ổ đĩa C ngay. Nếu bạn không muốn xóa file trong các thư mục con thì đừng gõ /S.
Theo Thanh Niên Online
Lên Trên

Mẹo nhỏ cho hệ điều hành Windows
Hai mẹo nhỏ sau sẽ giúp bạn tiết kiệm thời gian cho thao tác tìm kiếm file và tương tác với các file media (ảnh, nhạc... ) trong môi trường Windows.
Tăng tốc độ và khả năng tìm kiếm cho Windows
Mặc dù được tích hợp sẵn vào các hệ điều hành, thế nhưng chức năng tìm kiếm (Tim Kiem) trong Windows vẫn tỏ ra chậm chạp và không hiệu quả. Trên thực tế, có khá nhiều người dùng chuyển sang sử dụng một số phần mềm tìm kiếm trên ổ cứng máy tính như Google Desktop hoặc Yahoo Desktop Tim Kiem… Tuy nhiên, chức năng tìm kiếm của Windows sẽ trở nên nhanh hơn rất nhiều nếu bạn thay đổi một vài thông số nhỏ sau đây.
Kích hoạt chức năng tìm kiếm (Start --> Tim Kiem --> For Files or Folders). Trong phần này, bạn cần chú ý tới một chức năng có tên “Change Preferences”; hãy nhấn vào đây và tìm tới phần “With Indexing Service”, nhấnCovà nhấn OK để hoàn tất quá trình thay đổi.
Bắt đầu từ đây, Windows sẽ lập chỉ mục các file trên ổ cứng máy tính trong các khoảng thời gian rảnh rỗi (idle time), cho phép hiển thị nhanh hơn và hiệu quả hơn các kết quả tìm kiếm.
Mở nhanh các file media
Bản thân Windows không mang lại khả năng này, mà thay vào đó bạn phải tìm trợ giúp của các phần mềm bên ngoài để mở nhanh các file ảnh, video, nhạc…. Đó chính là tiện ích Irfanview mà bài viết này đề cập. Đây là một chương trình tương đối nhỏ, cho phép hệ thống có thể tiếp cận nhanh hơn tới các file media, giảm thiểu thời gian chờ đợi và thời gian tải file. Tải miễn phí tại: http://www.irfanview.com/
Theo vnMedia
Lên Trên

Thay đổi thông tin đăng ký trong System Properties Windows XP
Bạn mới mua máy tính về, khi mở System Properties, bạn sẽ thấy thông tin đăng ký (thanh vien to) là một người dùng nào đó. Thủ thuật sau sẽ giúp bạn điều chỉnh thông tin đăng ký này thành tên của bạn rất dễ dàng. Bạn mở Notepad và nhập đoạn mã sau vào.
Option Explicit
Set ws = WScript.CreateObject("WScript.Shell")
Dim ws, t, p1, p2, n, g, cn, cg
Dim itemtype
p1 = "HKLM\Software\Microsoft\Windows NT\CurrentVersion\"
n = ws.RegRead(p1 & "thanh vienOwner")
g = ws.RegRead(p1 & "thanh vienOrganization")
t = "Change Owner and Organization Utility"
cn = InputBox("Type new Owner and click OK", t, n)
If cn <> "" Then
ws.RegWrite p1 & "thanh vienOwner", cn
End If
cg = InputBox("Type new Organization and click OK.", t, g)
If cg <> "" Then
ws.RegWrite p1 & "thanh vienOrganization", cg
End If
Lưu lại với tên là changeinfouser.vbs và chạy nó. Một hộp thoại sẽ yêu cầu bạn nhập tên mới cho máy tính. Nhập xong, bạn có thể vào lại System Properties để kiểm tra những thay đổi.
Lên Trên

Sử dụng Briefcase trong Windows XP
Magnifier là tiện ích kính lúp kèm theo Windows lâu nay được người dùng biết đến với chức năng phóng đại một vùng của màn hình desktop, nơi con trỏ chuột chỉ vào. Nay chúng ta tận dụng chức năng của Magnifier để bắt hình desktop có luôn cả con trỏ chuột mà trước đây bạn phải nhờ đến các phần mềm bắt hình chuyên dụng mới làm được.
Trước tiên, bạn kiểm tra máy mình đã có sẵn Magnifier chưa. Vào Start/ Programs/ Accessories/ Accessibility/ Magnifier. Nếu không thấy, bạn phải cài đặt bổ sung: Đưa đĩa CD chứa HĐH của máy vào ổ đĩa. Mở Start/ Settings/ Control Panel/ Add/Remove Programs/ Windows Setup, chọn Accessibility > Nhấp Details > Chọn Accessibility Tools > Apply.
Khởi động Magnifier. Chọn Magnification level bằng 2. Kéo cửa sổ Magnifier vào giữa màn hình rồi chỉnh lại độ rộng cửa sổ như mong muốn.
Dùng chuột trỏ vào khu vực cần bắt hình sao cho vùng cần bắt nằm trọn trong cửa sổ Magnifier. Bấm tổ hợp Alt+Print Screen để chép cửa sổ vào clipboard (cửa sổ Magnifier phải là cửa sổ hiện hành). Bây giờ chỉ việc chọn nơi để dán hình đã bắt vào, đảm bảo có cả con trỏ chuột mà trước nay đành chịu.
St
Lên Trên

Sử Dụng Win 2000/NT Key/XP Để khôi phục Password
Windows XP / 2000 / NT Key là một chương trình thiết lập, khôi phục password cho hệ điều hành XP/2000/NT 4.0 trong trường hợp bạn quên password, mất đĩa reset password.
Ưu điểm nổi bậc của chương trình là tốc độ khôi phục đạt 100%. Bạn còn có thể lưu trữ chương trình lên đĩa CD để làm một CD Bootable . Ngoài ra, chương trình còn hỗ trợ cho tất cả các phiên bản từ NT4.0 đến 2003 server.
Chương trình hoàn toàn dễ sử dụng, chỉ cần chạy chương trình, sau đó chọn phiên bản windows tương ứng là bạn sẽ được chương trình thiết lập password mới trong trường hợp quên password. Tốc độ tương đối chấp nhận được.
Bạn có thể download chương trình về dùng thử tại địa chỉ < a href="http://www.lostpassword.com/demos/winkeyd.exe">http://www.lostpassword.com/demos/winkeyd.exe. Dung lượng phù hợp cho một đĩa mềm , tương thích cho Windows 2000/NT4.0/XP/2003.
Lên Trên

Tăng Tốc Nén Thư Mục, Tập Tin Trong Win XP
Khi nén một tập tin có dung lượng lớn bằng công cụ nén Compressed Folder có sẵn trong Windows XP, nếu cảm thấy quá chậm, bạn có thể áp dụng thủ thuật sau để tăng tốc cho công việc nén file.
Bạn mở Notepad và nhập đoạn mã sau vào:
Windows Registry Editor Version 5.00
[-HKEY_CLASSES_ROOT\.zip\CompressedFolder]
[-HKEY_CLASSES_ROOT\CLSID\{E88DCCE0-B7B3-11d1-A9F0- 00AA0060FA31}}
[-HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Classes\CompressedFolder]
Bạn lưu tập tin này lại với tên là speedupzip.reg và chạy tập tin này.
Lên Trên

Tùy Biến Thao Tác Copy Và Cắt Trong HĐH Window
Nếu là người hay thực hiện công việc sao chép và di chuyển dữ liệu, chắc chắn, bạn không thể cảm thấy hài lòng với 2 lệnh Copy và Cut mặc định của Windows.
Thủ thuật này sẽ giúp bạn thêm vào Thuc don ngữ cảnh của tập tin và thư mục 2 lệnh mới là Copy To Folder... và Move To Folder... Lệnh Copy To Folder... tương tự như thao tác Copy/Paste, còn lệnh Move To Folder... tương tự như thao tác Cut/Paste. Điểm khác biệt của 2 lệnh mới này là bạn có thể chọn ngay nơi muốn sao chép hay di chuyển dữ liệu mà không cần phải mở hết thư mục này đến thư mục khác.
Để bắt đầu, bạn hãy sử dụng trình Notepad (Start\Programs\Accessories) và nhập vào đoạn text dưới đây: Sau khi nhập xong, bạn lưu lại tập tin này theo dạng REG bằng cách vào Thuc don File/Save. Lưu ý là khi đặt tên, bạn phải nhập luôn cả phần mở rộng, ví dụ như themlenh.reg chẳng hạn.
Bây giờ, bạn chỉ cần bấm đúp chuột lên tập tin REG vừa tạo là đã có thể sử dụng 2 lệnh mới này rồi đó.
Lên Trên

Các Bước Cần Thực Hiện Trước Khi Cài SP2 Cho Win XP
1. Không sử dụng chế độ cài đặt tốc hành (Express Installation) trong cả hai trường hợp cài trực tuyến và từ đĩa CD.
2. Nên thực hiện sao lưu dữ liệu nếu có nhiều tài liệu quan trọng trước khi nâng cấp.
3. Kiểm tra để chắc chắn rằng bạn có tất cả các trình điều khiển (driver) đã được cập nhật và không có phần mềm nào đang cài trên máy xung đột với SP2 (xem e-CHÍP 126).
4. Cần phải có ít nhất 2GB không gian trống trên đĩa hệ thống trước khi cài đặt SP2.
5. Kiểm tra các phần cứng trên máy tại Website của nhà sản xuất để chắc rằng chúng tương thích với SP2.
6. Chạy chương trình diệt virus được cập nhật gần nhất hoặc dùng các chương trình quét virus trực tuyến như: Kaspersky Online Virus Scanner (www.kaspersky.com/remoteviruschk.html), Panda ActiveScan (www.pandasoftware.com/activescan/com/activescan_principal.htm), Trend Micro House Call (http://housecall.trendmicro.com), Symantec Security Check (http://security.symantec.com/ssc/home.asp?j=1&langid=ie&venid=sym&plfid=22&pkj=FDCIHGQDHFFROWTGEKO).
7. Chạy chương trình Cleanup (Thuc don Start/ Programs/ Accessories/ System Tools/ Disk Cleanup) để xóa bỏ các tập tin rác, tập tin cũ không dùng.
8. Chạy chương trình giải phân mảnh đĩa tại Thuc don Start/ Programs/ Accessories/ System Tools/ Disk Defragmenter.
9. Ngắt tất cả thiết bị ngoại vi như: camera, scanner, printer...
10. Tạo điểm khôi phục cho hệ thống, vào Thuc don Start/ Programs/ Accessories/ System Tools/ System Restore.
11. Tắt tất cả chương trình đang chạy, bao gồm chương trình diệt virus.
12. Không nhấn bất kỳ phím nào trong quá trình cài đặt trừ khi cần thiết.
Lên Trên

Nâng Cấp Window
Bạn nghĩ rằng Windows mạnh mẽ và tiện dụng chỉ dựa vào duy nhất những gì mà Microsoft đem đến? Đúng nhưng chỉ ở một phần rất nhỏ, vì hệ điều hành "hào hoa" này luôn nhận được vô số quà tặng là tính năng và công cụ hữu ích từ các tiện ích bổ sung khác. Bài viết sẽ giới thiệu 10 tiện ích bổ sung miễn phí được đánh giá là tốt nhất trong năm 2005.
Giảm kích thước tập tin
Nếu cần tăng tốc độ tải về cho website của mình hay bộ sưu tập ảnh hiện tại chiếm quá nhiều không gian đĩa, bạn hãy dùng thử tiện ích StripFile của Nuetools (www.pcworld.com.vn, ID:48192). Tiện ích này có khả năng thu giảm kích thước các tập tin HTML và tập tin ảnh (định dạng GIF, JPEG và PNG) bằng cách bỏ bớt những thông số không thật sự cần thiết như các profile màu và chú thích. Bạn có thể điều chỉnh các tùy chọn Settings của tiện ích này để xác định loại dữ liệu nào cần loại bỏ. Để tiến hành, bạn chỉ cần xác định một tập tin hay thậm chí cả một thư mục và nhấn Compress. Một cách khác là nhấn phải chuột lên một tập tin hoặc thư mục trong cửa sổ Explorer rồi chọn Strips để loại bỏ những thông tin không cần thiết. StripFile sẽ tạo một thư mục sao lưu cho các tập tin gốc để phòng trường hợp gặp trục trặc khi thực hiện.
Kết quả khác nhau tùy thuộc vào loại tập tin gốc, tuy nhiên tiện ích này hứa hẹn khả năng nén lên đến 50%. Qua thử nghiệm thực tế của PC World Mỹ, StripFile có thể thu giảm kích thước tập tin HTML xuống 7% và 6,3% với tập tin JPEG. Dù chưa tạo khác biệt rõ rệt ở mỗi tập tin nhưng với số lượng tập tin lớn, bạn sẽ tiết kiệm được đáng kể dung lượng đĩa cứng của mình.
Quản lý ảnh hiệu quả hơn
Hiện có nhiều cách quản lý bộ sưu tập ảnh nhưng chỉ một số ít được thiết kế tốt như phần mềm Picasa của Google (www.pcworld.com.vn, ID: 051101). Picasa thực hiện sắp xếp các tập tin ảnh và phim trên đĩa cứng của bạn vào một thư viện. Từ đó, bạn có thể sao chép, di chuyển, xóa và thực hiện nhiều thủ tục quản lý tập tin khác. Các tính năng chỉnh sửa ảnh của Picasa cho phép bạn thực hiện cắt, xoay, chỉnh tông màu và đưa vào các hiệu ứng đặc biệt trên ảnh (Hình 1).
Mặc dù bạn sẽ thấy kết quả chỉnh sửa ảnh dưới nhiều cách quan sát khác nhau của Picasa nhưng không có thay đổi nào trực tiếp ảnh hưởng đến ảnh gốc vì Picasa bảo quản ảnh này dưới dạng âm bản kỹ thuật số. Để lưu lại những gì vừa thực hiện, bạn phải xuất (export) bản sao hình đã chỉnh sửa sang một thư mục khác.
Một trong những tính năng được ưa thích ở Picasa là đặt lại tên cho một nhóm tập tin ảnh. Với tính năng này, bạn có thể tự động bổ sung thêm thông tin ngày tháng hoặc độ phân giải của ảnh vào tên tập tin. Bên cạnh đó, những tùy chọn khác cho phép tập hợp ảnh vào nhiều bộ sưu tập khác nhau mà không cần tạo thêm các bản sao. Tính năng slide-show có sẵn ở Picasa có thể tạo đĩa CD hay DVD, thuận tiện cho việc lưu trữ bộ sưu tập ảnh. Những tính năng khác giúp tạo ra bộ sưu tập ảnh của trang web, e-mail và các tài liệu từ những dịch vụ trực tuyến. Picasa không phải là Photoshop nhưng tiện ích này dễ sử dụng và cung cấp gần như tất cả công cụ chỉnh sửa ảnh mà nhiều người luôn cần đến.
Quản lý tập tin gọn gàng
Giữ cho các cửa sổ thư mục và cửa sổ ứng dụng khác nhau (đang mở) được sắp xếp chính xác khi bạn chuyển qua lại giữa chúng là một công việc khó khăn. Tuy nhiên, mọi thứ sẽ trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết với ExplorerXP (www.explorerxp.com). Tiện ích cho phép sắp xếp hoặc tổ chức lại các cửa sổ thư mục đang mở trong cửa sổ chính. ExplorerXP cung cấp một thanh công cụ có thể tùy biến, khả năng đặt tên lại cho nhiều tập tin và có khả năng kéo-thả các tập tin vào/ra cửa sổ Explorer cũng như cửa sổ riêng của nó. Tuy nhiên, ExplorerXP vẫn còn một số hạn chế. Tiện ích không thể hiển thị ở dạng hình thu nhỏ hoặc bất kỳ dạng hiện thị nào khác cho một tập tin, ngoài dạng Details. Tiện ích cũng không hỗ trợ duyệt các ổ đĩa mạng một cách đơn giản, dù bạn có thể sử dụng đường dẫn mạng UNC (chẳng hạn như \\server\share). Dù vậy, với nhu cầu quản lý tập tin ở mức cơ bản thì ExplorerXP là một tiện ích nhanh và hiệu quả.
Tạo nhanh tập tin PDF
Bạn có thể chuyển đổi bất kỳ tài liệu nào sang định dạng tập tin PDF (Portable Document Format) tiện lợi của Adobe hoàn toàn miễn phí. Một số tiện ích tạo tập tin PDF miễn phí khác thường lợi dụng để chèn các quảng cáo hoặc hình mờ vào tập tin kết quả, nhưng CutePDF Writer (www.cutepdf.com) thì không. Tiện ích này chỉ thêm vào hệ thống một biểu tượng máy in CutePDF. Để có được tập tin PDF, bạn chỉ cần chọn thao tác in tài liệu của mình với máy in ảo này, thay cho máy in thông thường. CutePDF Writer yêu cầu bạn phải tải về và cài đặt tiện ích chuyển mã bai vietcript là Ghostscript (cũng tại website trên). Thực tế, CutePDF không hỗ trợ thay đổi cấu hình nên bạn sẽ không tìm thấy những tính năng bảo mật, khả năng chọn font chữ hay tối ưu các tùy chọn của Adobe Acrobat. Tuy nhiên, CutePDF Writer thực hiện tốt việc chuyển đổi dữ liệu sang dạng tập tin PDF.
Biểu tượng MAC cho WINDOWS
Một hy vọng mới cho những tín đồ máy Mac hay bất kỳ người dùng nào muốn thay đổi phong cách "nhàm chán" của thanh tác vụ và trình đơn Start của Windows. Với tiện ích ObjectDock (www.objectdock.com), bạn sẽ được cung cấp một thanh công cụ với khả năng phóng to/thu nhỏ và hoạt hình bất cứ khi nào trỏ chuột lên trên một biểu tượng, như trong máy Mac (Hình 2). Ngoài ra, với 20 USD, bạn có thể nâng cấp lên phiên bản có khả năng hỗ trợ nhiều màn hình cùng nhiều tính năng khác.
Tự động hóa máy tính
Nếu rời khỏi máy tính trong thời gian dài, bạn có thể sử dụng công cụ Scheduled Task để Windows tự động quét virus và phần mềm gián điệp, tự động sao lưu dữ liệu và thực hiện những công việc bảo trì hệ thống khác. Bạn có thể tham khảo lại bài viết "Tùy biến Windows đóng mở theo ý bạn" (ID: A0406_112) để biết thêm nhiều cách thức thực hiện. Trong trường hợp muốn tắt máy vào cuối ngày? Hãy sử dụng các điều khiển đơn giản trong tiện ích LastChance (www.pcworld.com.vn, ID: 49268) để bổ sung thêm các ứng dụng và lệnh mà bạn cần chạy trước khi tắt máy. Khi thoát khỏi Windows, LastChance sẽ tạm ngưng quá trình tắt máy để thực hiện các lệnh mà bạn quy định trước. Bạn có thể thiết lập để tiện ích này thực hiện các lệnh khi một tài nguyên đặc biệt nào (như ổ đĩa mạng chẳng hạn) trở nên hiện hữu. Ngoài ra, bạn cũng có thể yêu cầu việc thực hiện tắt máy theo thời gian được định trước.
Sắp xếp nhanh màn hình
Một ngày nào đó, bạn bất ngờ nhận thấy các biểu tượng trên màn hình Windows được sắp xếp bừa bộn và trông thật rối mắt. Để khắc phục nhanh tình trạng trên, bạn hãy dùng tiện ích Icon Restore (www.pcworld.com.vn, ID: 48984). Tiện ích này bổ sung 2 lệnh mới vào trình đơn ngữ cảnh (hay còn gọi là trình đơn nhấn phải) ứng với biểu tượng My Computer cũng như hầu hết biểu tượng hệ thống khác. Trước hết, hãy sắp xếp vị trí các biểu tượng theo ý muốn, nhấn phải chuột lên biểu tượng My Computer và chọn Save Desktop Icon Layout. Từ đây về sau, bất kỳ khi nào màn hình xảy ra tình trạng các biểu tượng nằm lộn xộn, bạn chỉ cần nhấn phải chuột lên biểu tượng My Computer và chọn Restore Desktop Icon Layout. Trong trường hợp đã làm ẩn các biểu tượng hệ thống, bạn có thể nhìn thấy các lệnh tương tự bằng cách nhấn phải chuột lên biểu tượng Recycle Bin. Icon Restore không có khả năng xóa bỏ cài đặt (uninstall) nên bạn cần tải về thêm tiện ích UnInstall Icon Restore (www.pcworld.com.vn, ID: 051102).
Thanh tác vụ ngăn nắp
Windows với khả năng xử lý đa nhiệm có thể cho phép bạn thực thi cùng lúc nhiều ứng dụng, do vậy chẳng mấy chốc mà thanh tác vụ sẽ trở nên chật chội. Dù bạn có thể chuyển đổi qua lại giữa các cửa sổ ứng dụng bằng tổ hợp phím Alt-Tab, tuy nhiên cách này vẫn còn đôi chút phức tạp.
Tiện ích TaskArrange (www.pcworld.com.vn, ID: 48986) cho phép bạn kéo-thả tất cả các nút trên thanh tác vụ vào một cửa sổ duy nhất để sắp xếp chúng theo ý bạn. Hơn thế, bạn cũng có thể sắp xếp các biểu tượng này bằng cách sử dụng những điều khiển tiện lợi (Hình 3). Nếu bạn đã mở tính năng lập nhóm thanh tác vụ trong Windows XP (nhấn phải chuột lên thanh tác vụ và chọn Properties để tìm tùy chọn này), thì TaskArrange có thể sắp xếp lại tất cả khoản mục trong trình đơn pop-up.
Bạn nhớ thoát ra khỏi TaskArrange ngay khi đã đạt được trật tự mong muốn vì như vậy, tiện ích sẽ không chiếm dụng nhiều bộ nhớ và không yêu cầu một khay biểu tượng phiền phức.
Giấu khay hệ thống
Những biểu tượng đại diện cho nhiều tiện ích quan trọng luôn được sử dụng thường chiếm nhiều diện tích trên khay hệ thống vốn rất chật hẹp. Hãy "phát quang" khu vực này bằng tiện ích Tray Pilot Lite (www.pcworld.com.vn, ID: 48988). Tiện ích bổ sung thêm một nút nhấn bên cạnh khay hệ thống giúp bạn đóng/mở toàn bộ khay này (Hình 4). Ngoài ra, bạn có thể nâng cấp lên phiên bản có thể giấu đi khay hệ thống nhưng không làm mất đồng hồ.
Nâng cấp đồng hồ
Đồng hồ riêng của Windows (nằm trong thanh tác vụ) có kích thước nhỏ và đơn giản nhưng lại không hiển thị thông số giây và không có tính năng báo hiệu (alarm). Hãy thay chiếc đồng hồ cũ rích ấy bằng ClocX (www.pcworld.com.vn, ID: 48990). Tiện ích này có thể thiết lập chế độ báo hiệu thực hiện một lần duy nhất hay thường xuyên theo một lịch định sẵn. Tính năng báo hiệu có thể phát âm thanh, hiển thị một thông báo, khởi chạy một ứng dụng hoặc thoát khỏi Windows. Bạn có thể hiển thị lịch làm việc dạng pop-up để xem nhanh, hoặc xem cả ngày tháng lẫn thời gian trên đồng hồ (Hình 5). Bạn có thể chỉnh trong suốt, đổi giao diện cũng như những thiết lập khác để tăng khả năng dễ quan sát cho đồng hồ. Hãy thiết lập để ClocX luôn nổi trên màn hình hoặc kích hoạt tính năng "clickthrough" để đồng hồ này nằm dưới các cửa sổ đang mở.
Theo PCWorld Việt Nam
Lên Trên