Chào Mừng Bạn Đến Chuyên Mục Hệ Thống Máy Tính
[Đăng Nhập|Đăng Kí]


Lên lịch chống phân mãnh cho ỗ đĩa
Tối ưu độ đọc ghi của các ổ đĩa quang
Soi password admin
Ghost nữa nè
Cắt bad ổ cứng
Phá password CMOS
Bí quyết tinh chỉnh hệ thống
Bài tìm hiểu tốc độ và tính năng PC
Tự động hoá quá trình sao lưu dữ liệu
Phân vùng ổ cứng không mất dữ liệu
thủ thuật sử dụng và bảo quản hệ thống
Cẩn thận với các chương trình phân vùng ổ đĩa
Tự động backup
Một số loại phân vùng
BIOS - Thông tin cơ bản cho người mới bắt đầu
DÙNG GHOST để chống phân mảnh đĩa cứng

Lên lịch chống phân mãnh cho ỗ đĩa
-Chạy Disk Defragmenter định kỳ là một phần của công việc bảo trì máy tính vì nó giúp tăng tốc quá trình truy xuất dữ liệu.
-Nếu không thích cài thêm nhiều phần mềm, bạn có thể tận dụng những gì có sẵn của Windows để thực hiện tác vụ này. Mở Notepad rồi nhập defrag c: (chỉ định thêm ổ đĩa khác bằng cách nhập defrag d:, defrag e: trên một dòng). Sau đó, lưu file vừa tạo với tên defrag.bat. Lưu file xong, bạn vào Thuc don Start > All programs > Accessories > System Tools > Scheduled Task. Tạo một task mới với tên Defrag Hard Drives, chỉ đường dẫn đến file defrag.bat vừa tạo, thiết lập thời gian mà bạn muốn chạy trình chống phân mảnh đĩa. Giờ thì bạn có thể yên tâm giao phó việc bảo trì cho Windows.
theo Thanh Niên Online
Lên Trên
Tối ưu độ đọc ghi của các ổ đĩa quang
Bạn vừa mới mua về 1 ổ quang...ổ đọc, ổ ghi chẳng hạn..Nhưng sau 1 thời gian sử dụng bạn cảm thấy hình như hoạt động đọc ghi của nó chưa tốt lắm như tốc độ đọc, ghi còn chậm ?Và cũng có cảm giác máy của bạn hình như bị chậm đi rất nhiều ?...Đó có thể là bạn chưa cấu hình đúng cho nó...Để xem mình đã cấu hình đúng cho ổ quang bạn chưa...Click chuột phải vào My Computer -> Properties -> Tab Hardware -> Device Manager -> IDE/ATA Controller. Trong các mục con, chọn Primary IDE Channel hoặc Second IDE Channel tùy thuộc vào cổng bạn cắm ổ quang ở đâu..Click chuột phải chọn Properties -> Advanced Settings...Nếu Trong Transfer Mode là PIO thì bạn hãy chọn DMA if Available...sau đó khởi động lại máy....Transfer Mode PIO là 1 phương thức trao đổi, xử lý dữ liệu cũ giữa Cpu và các thiết bị ngoại vị...Tốc độ xử lý chậm và hiện nay hầu hết các thiết bị ngoại vi như HDD,Optical Storage đều đã hỗ trợ chế độ DMA giúp giảm tối đa khả năng xử lý của CPu vào các thiết bị ngoại vi, để dành tài nguyên của Cpu cho các hoạt động xử lý khác quan trọng hơn...Mặc định khi cài đặt Ổ quang nó sẽ chỉ giao tiếp ở mode PIO..Để tối ưu hoạt động của nó bạn phải thay đổi nó đến DMA...
Lưu ý: Có 1 số vấn đề bạn có thể thường gặp như khi bạn khởi động lại thì nó lại trở về chế độ mặc định là PIO như cũ -> không có Effect gì cả...Tôi cũng đã gặp trường này nhưng sau 1 hồi loay hoay thì cũng đã giải quyết được....Trước tiên bạn hãy vào lại Primary IDE Channel hoặc Second IDE Channel, click phải chọn Properties -> Uninstall nó đi..Sau đó khởi động lại máy..Vào Bios trong phần cấu hình IDE Channel, hãy chọn cố định chế độ DMA cao nhất mà Ổ quang hỗ trợ(đừng chọn Auto)..Sau đó vào lại để máy tự nhận ra thiết bị...Vào lại kiểm tra xem nó đã chuyễn sang chế độ support DMA chưa nếu vẫn chưa thì hãy tắt máy,đổi lại jumper Master -> Slave và ngược lại...Cái này thì chắc chắn được nếu ổ của các bạn có hỗ trợ DMA....
Sau khi đã đổi lại thì không những tốc độ ghi đọc của các ổ đĩa tăng lên đáng kể mà máy chạy cũng nhanh và mượt mà hơn....
Các bạn thử đi nhé...
Lên Trên
Soi password admin
Bây giờ có rất nhiều công cụ dùng để dò pass
1 cách thì có thể sử dụng keylog
2 thì dùng công cụ đánh thẳng vào hệ thống, các công cụ dò thường theo 2 phương pháp, Brute và dictionary, nhưng nếu pass dài, cả số chữ và kí hiệu lơằng ngoằng dò ra mất cả buổi
Và tất nhiên là nếu bạn là 1 người có quyền admin dò pass quyền admin của 1 người khác dễ thôi
Trên mạng có 1 số công cụ do hacker viết ra, thậm chí có thể dò ra pass từ user user hay guest, hay từ 1 máy khác trên Internet tất nhiên tui sẽ ko chỉ cho bạn các công cụ đó
Nếu bạn chịu khó tìm hiểu thì tui nghĩ việc đó ko quá khó khăn đâu
Lên Trên
Ghost nữa nè
Mình đã tìm hiểu trên các diễn đàn về tin học nhưng chưa thấy topic này hoặc có đi chăng nữa cũng rất lờ mờ, ngay cả khi bạn là dân IT Pro thì cũng khó thực hiện được. Ở đây mình đề cập đến các phiên bản Ghost trên nền Dos khá quen thuộc, với topic này hy vọng sẽ giúp được các bạn phần nào...
Mong các bạn chỉ giáo thêm...!
Hoàn cảnh (Situation):
Thông thường lúc các bạn Ghost thì các bạn thường lưu file backup lên một Partition nào đó trên ổ cứng nhưng các bạn lại không ngờ đến: Có một ngày đẹp trời nào đó ổ cứng của bạn trở chứng, không thể nào truy cập được nữa, hoặc file bạn backup đã bị xóa, máy bị virus hoặc là bạn muốn thay đổi ổ cứng chăng? Khi đó bạn muốn phục hồi lại hệ thống thì sao hoặc là những người không rành về Ghost (thường nhầm lẫn tai hại), không rành về vi tính có thể dùng cách này một cách hiệu quả và hoàn toàn tự động....
Giải pháp (Solution):
Có nhiều cách để lưu các file backup đến một nơi khác ngoài ổ cứng nhưng ở đây mình xin giới thiệu cách ghi các file backup đó lên các đĩa CD/DVD, các đĩa này có khả năng tự chạy và phục hồi lại hệ thống một cách nhanh chóng.
Chuẩn bị (Prepare):
- Download file nén tự chạy (Bootable_Ghost_Rescue_CD-D.exe) dung lượng 3.25MB theo đường dẫn dưới dây: http://download-v5.streamload.com/T8yIxujO...ue%20CD-DVD.exe
- Máy tính phải cài phần mềm UltraISO để hỗ trợ.
Thực hiện:
- Giải nén file (Bootable_Ghost_Rescue_CD-D.exe) sẽ có 2 thư mục: Boot File và Edit File. Trong thư mục Edit File sẽ có 3 tập tin: ghost.bat, bootimage.iso và GHOST.EXE (phiên bản Symantec Ghost 11). Ở đây tôi không giới hạn các bạn dùng phiên bạn Ghost nào, tất cả các phiên bản Ghost trên Dos đều OK , nên dùng phiên bản Ghost nào phù hợp với các file backup của bạn.
- Như các bạn đã biết công dụng tuyệt vời của các đĩa Hirens.BootCD, nếu bạn có sẵn file GHOST.EXE rồi thì tốt, như trên tôi có cung cấp GHOST.EXE phiên bản 11, còn không bạn có thể lấy file GHOST.EXE từ đĩa Hirens.BootCD theo 2 cách sau:
+ Cách 1: Nếu máy tính của bạn có ổ đĩa mềm hoặc hoặc trong ổ cứng có ít nhất 1 Partition là FAT32: Khởi động máy từ đĩa Hirens.BootCD, chạy chương trình Symantec Ghost nhưng không làm gì hết, nhấn Quit để thoát ra Dos. Từ ổ R (Ổ đĩa RAM 50MB do Hirens.BootCD tạo) vào thư mục Tools, copy tập tin GHOST.EXE lên đĩa mềm hay lên Partition Fat32 -> Vậy là đã có file GHOST.EXE rồi. . .
+ Cách 2: Nếu các Partition ổ cứng của bạn toàn là NTFS, bạn copy 2 file uharcd.exe và Ghost.uha từ đĩa Hirens.BootCD vào bất kỳ một nơi nào đó trên ổ cứng. Sau đó cần chạy Dos trên Win bằng cách vào Run gõ cmd và Enter, di chuyển con trỏ Dos về thư mục mà bạn vừa copy 2 file xong và gõ uharcd x -y Ghost.uha -> Vậy là bạn cũng đã có file GHOST.EXE tại thư mục chứa 2 file uharcd.exe và Ghost.uha luôn rùi...hihihi
- Nếu bạn nghĩ file backup sau khi ghost có dung lượng lớn hơn CD hay DVD (nếu ghi lên CD hay DVD) thì bạn phải nghĩ đến là chia nhỏ file trong quá trình ghost để có thể ghi lên nhiều CD/DVD, thị trường có rất nhiều loại đĩa ghi CD dung lượng 650MB,700MB và DVD 4.7GB, 8.5GB...Hirens.BootCD cung cấp cho bạn chức năng Split 700MB trên Thuc don tùy chọn nhưng mình nghĩ nó không thích hợp với bạn ngay tại thời điểm này (không thể ghi lên CD 650MB, đối với CD 700MB thì cộng với các file chức năng như giới thiệu ở trên có dung lượng khoảng 4MB hay 5MB thì không thể ghi được, còn đối với DVD thì bạn có thể chia tùy ý, không nhất thiết phải 700MB, ở đây mình khuyến cáo nếu bạn có ý định ghi lên DVD thì nên chia 4000MB mặc dù có thể ghi hơn, nếu chia vượt con số 4000MB này thì xem như chưa đọc topic này). Thực hiện theo cách sau có thể chia file theo dung lượng tùy ý trong quá trình ghost:
* Cũng như cách lấy file GHOST.EXE đã chỉ ở trên (Cách 1): gõ vào từ dấu nhắc Dos ở ổ đĩa RAM là: R:/Tools/ghost.exe -split=640 -autoname Còn đối với Ghost 6.5 và Later thì: R:/Tools/ghost.exe -split=640 -auto (640 ở đây là 640MB ví dụ, có thể lấy số khác tùy ý) thì sẽ vào lại được chương trình Ghost để bạn thực hiện Ghost chẻ file Split theo dung lương đã định.
- Việc tiếp theo cần phải Edit nội dung của file ghost.bat:
GHOST.EXE -clone,MODE=pload,SRC=%CDROM%\Ghost000.GHO:1,DST=1:1 -sure bạn chỉnh Ghost000.GHO bằng với tên file backup đầu tiên của bạn.
- Cuối cùng bạn mở phần mềm UltraISO lên, vào Thuc don File, mở Open, chọn file bootimage.iso. Sau đó bạn Kéo và thả các file trong thư mục Boot File và 2 file ghost.bat, GHOST.EXE trong thư mục Edit File và File backup đầu tiên của bạn nữa vào File bootimage.iso bạn vừa mở -> Chọn Burn ra đĩa CD/DVD từ đây luôn. Đối với các file backup còn lại bạn chỉ cần ghi như ghi data lên đĩa mà thôi, không cần phải làm gì hết. Tới đây xem như công việc của bạn đã thành công, good luck...!
Lưu ý:
- Không được chẻ file backup quá 4Gb (4096MB), nếu bạn muốn ghi đầy lên các DVD thì có thể chẻ nhỏ các file backup theo tỷ lệ hợp lý.
- Nên dùng đĩa ghi xóa để ghi thử file backup đầu tiên lên đĩa để phục hồi hệ thống thử có thành công hay không, các file backup còn lại có thể để tạm trên ổ cứng. Boot và Restore lại hệ thống từ đĩa này, chạy xong đĩa này chương trình sẽ tự động yêu cầu cho đĩa thứ 2 vào hoặc là cho phép chỉ đường dẫn trên ổ cứng đối với các file backup còn lại.
- Đĩa sau khi khởi động se xuất hiện 3 Thuc don tùy chọn:
+ Boot computer with support for CD-ROM.
+ Boot computer without support for CD-ROM.
+ Restore partition/drive with Ghost.
Để phục hồi lại hệ thống chọn lựa chọn cuối cùng, chương trình sẽ tự động phục hồi lại ở ổ C (của ở cứng 1 và partition 1) mà không hỏi bất kỳ câu hỏi nào đến khi hoàn thành (nên lưu ý).
Lên Trên
Cắt bad ổ cứng
Thông thường khi ổ cứng (HDD) của bạn bị hư hỏng (xuất hiện Bad Sector) thì để bảo đảm an toàn dữ liệu, cách tốt nhất là thay đĩa cứng mới. Tuy nhiên, giá một ổ cứng không phải rẻ, bạn đừng vội vất nó vào sọt rác mà hãy cố gắng cứu chữa nó bằng các tiện ích chuyên dùng.
Nhận biết đĩa cứng bị bad:
1. Trong lúc đang cài đặt Windows hệ thống bị treo mà không hề xuất hiện một thông báo lỗi nào (đĩa cài đặt Windows vẫn còn tốt), mặc dù vẫn có thể dùng Partition Magic phân vùng cho HDD một cách bình thường.
2. không Fdisk được: khi Fdisk báo lỗiKhongfixed disk present (đĩa cứng hiện tại không thể phân chia) hoặc Fdisk được nhưng rất có thể máy sẽ bị treo trong quá trình Fdisk.
3. không Format được HDD: khi tiến hành format đĩa cứng máy báo lỗi Bad Track 0 – Disk Unsable.
4. khi đang format thì máy báo Trying to recover allocation unit xxxx. Lúc này máy báo cho ta biết cluster xxxx bị hư và nó đang cố gắng phục hồi lại cluster đó nhưng thông thường cái ta nhận được là một bad sector!
5. đang chạy bất kì ứng dụng nào, nhận được một câu thông báo như Error reading data on dirver C:, Retry, Abort, Ignore, fail? Hoặc A serious error occur when reading driver C:, Retry or Abort?
6. khi chạy Scandisk hay NDD (Norton Disk Doctor) hay bất kỳ phần mềm kiểm tra bề mặt đĩa (surface scan) nào, ta sẽ gặp rất nhiều bad sector.
Cách khắc phục:
(tất cả các chương trình giới thiệu dưới đây nằm gọn trong đĩa Hiren’s Boot có bán ở các cửa hàng phần mềm tin học phiên bản 7.7 hoặc 7.8). *Cách 1: Dùng partition Magic cắt bỏ chỗ bad.
Thực hiện như sau:
Đầu tiên dùng chương trình NDD, khởi động từ đĩa Hiren’s Boot, ở Thuc don của chương trình chọn mục 6. Hard Disk Tools, chọn tiếp 6. Norton Utilities, chọn 1.Norton Disk Doctor.
Sau khi dùng NDD xác định được vị trí bị bad trên HDD, tiến hành chạy chương trình Partition Magic cắt bỏ phần bị bad bằng cách đặt partition chứa đoạn hỏng đó thành Hide Partition.
Ví dụ: khoảng bị bad từ 6.3GB đến 6.6GB, bạn chia lại partition, chọn partition C đến 6GB, partition D bắt đầu từ 7GB, cứ như thế bạn tiến hành loại bỏ hết hẳn phần bị bad.
Cách này sử dụng rất hiệu quả tuy nhiên nó chỉ khắc phục khi đĩa cứng của bạn có số lượng bad thấp.
Cách 2: dùng chương trình HDD Regenerator:
o Thông thường nhà sản xuất luôn để dự phòng một số sector trên mỗi track hoặc cylinder, và thực chất kích thước thực của sector vẫn lớn hơn 512bytes rất nhiều (tùy loại hãng đĩa). Như thế nếu như số sector bị bad ít hơn số dự phòng còn tốt thì lúc này có thể HDD Regenerator sẽ lấy những sector dự phòng còn tốt đắp qua thay cho sector bị hư, như vậy bề mặt đĩa trở nên “sạch“ hơn và tốt trở lại. Dĩ nhiên nếu lượng sector dự phòng ổ cứng ít hơn thì ổ cứng sẽ còn bị bad một ít. Bạn có thể quay lại cách 1.
Cách thực hiện:
Khởi động hệ thống từ đĩa Hiren’s Boot. Cửa sổ đầu tiên xuất hiện, chọn 6.Hard Disk Tools, chọn tiếp 2. HDD Regenerator, bấm phím bất kì để xác nhận. Kế đến ở dòng Starting sector (leave 0 to scan from the beginning) gõ vào dung lượng lớn nhất hiện có của HDD, gõ xong bấm Enter để chương trình thực hiện. Thời gian chờ, tùy thuộc vào dung lượng đĩa và số lượng bad.
phần mềm dùng : Disks Manager,Zezofill, Lowformat
Chạy trong môi trường Dos tốt hơn,ra tiệm CD mua đĩa CD boot LHT
Chúc bạn thành công
Lên Trên
Phá password CMOS
Cài password CMOS được xem là một trong những biện pháp khá hữu hiệu để bảo mật máy tính. Phá password CMOS là một điều hết sức khó khăn nhưng không phải là không thể làm được. Tuy nhiên để thực hiện thành công cũng đòi hỏi bạn phải có một “tay nghề” nhất định.
Có một vài cách để phá password CMOS như: thay chip BIOS, ngắt mạch chip BIOS, sử dụng jumper, tháo pin trên mainboard, phá password CMOS bằng một số lệnh, nhập vào các password mặc định của nhà sản xuất… nhưng đối với giới tin học “bình dân học vụ” như chúng ta thì may ra có 2 phương pháp sau là tạm có thể áp dụng được.
1. Nhập vào các password chuẩn của BIOS do nhà sản xuất đã mặc định sẵn.
- Đối với loại Award BIOS thì ta có thể nhập vào các password mặc định sau để thử bẻ khóa password đã đặt trước đó: AWARD SW, AWARD_SW, Award SW, AWARD PW, _award, awkward, J64, j256, j262, j332, j322, 01322222, 589589, 589721, 595595, 598598, HLT, SER, SKY_FOX, aLLy, aLLY, Condo, CONCAT, TTPTHA, aPAf, HLT, KDD, ZBAAACA, ZAAADA, ZJAAADC, djonet.
- Đối với loại Ami BIOS thì dùng: AMI, A.M.I., AMI SW, AMI_SW, BIOS, PASSWORD, HEWITT RAND, Oder.
- Một số password dùng chung cho Ami, Award và một số BIOS khác có thể thử như: LKWPETER, lkwpeter, BIOSTAR, biostar, BIOSSTAR, biosstar, ALFAROME, Syxz, Wodj.
Nhưng thực ra phương pháp này cũng không hiệu quả lắm vì ngoài những nhãn hiệu Award, Ami… thì còn hàng chục nhãn hiệu BIOS khác mà hầu như ta không thể biết được các password mặc định là gì.
2. Phá password CMOS bằng phần mềm chuyên dùng hoặc câu lệnh ở môi trường DOS:
Nếu bạn được phép sử dụng một máy tính đang được cài password CMOS thì bạn có thể dùng một số lệnh DEBUG chạy trong môi trường DOS để phá password. Đây là những lệnh có thể làm mất hiệu lực bộ nhớ BIOS, giúp cho nó trở về trạng thái nguyên thuỷ, tức trước khi bị cài password. Nhưng thực chất việc này cũng hết sức khó khăn vì không phải lúc nào cũng có thể vào được môi trường DEBUG.
Một cách hiệu quả hơn là bạn vào địa chỉ http://www.cgsecurity.org/cmospwd-4.8.zip để tải về công cụ mang tên “Cmos Password Recovery Tools 4.8” -> Giải nén file này -> Tìm đến thư mục Windows -> Kích hoạt file cmospwd_win.exe để file này tự động xóa đi bộ nhớ BIOS hiện tại. Nếu may mắn thì lần khởi động sau sẽ không password BIOS nữa. Để “chắc ăn”, bạn nên vào thư mục “DOS” và kích hoạt file cmospwd.exe để thử lại một lần nữa.
3. Tháo hẳn cục pin mainboard để xóa hoàn toàn bộ nhớ BIOS.
Đây là thao tác tác động vào phần cứng để xóa hoàn toàn bộ nhớ BIOS được xem là hiệu quả nhất, nếu “gan” một chút thì ai cũng có thể làm được.
Ban đầu bạn phải tháo thùng máy ra -> Quan sát thật kỹ trên bản mạch máy tính để tìm ra một viên pin có đường kính cỡ như một đồng xu 200 đồng được gắn trong một ô hình tròn vừa khít với viên pin. Tìm được viên pin này thực ra cũng không khó lắm -> Quan sát kỹ và tháo viên pin ra bằng cách bấm vào cái “jumper” như hình minh họa -> Lấy pin ra và chờ khoảng 30 phút cho “chắc ăn”, tức đảm bảo cho mọi dữ liệu lưu trong BIOS sẽ “bay hơi” hết -> sau đó gắn vào đúng như hình minh họa. Khi khởi động lại máy tính thì BIOS sẽ tự động trả về mọi thứ đúng như mặc định ban đầu và dĩ nhiên password cũng sẽ biến mất.
Đảm bảo rằng đa số trường hợp tháo pin ra đều thành công còn nếu khi gắn pin vào mà password vẫn còn nguyên thì bạn lại phải tháo ra và chờ đợi thời gian “bay hơi” lâu hơn nữa, có thể là cả ngày.
Lên Trên
Bí quyết tinh chỉnh hệ thống
Bạn có thể nhanh chóng nâng cấp máy ảnh số, máy nghe nhạc MP3, mạng máy tính và máy tính cá nhân nhằm cải thiện tốc độ, bổ sung những tính năng mới và nâng cấp dung lượng lưu trữ. Việc nâng cấp ở đây chỉ đơn giản là tải về phần mềm, thay đổi phụ kiện và chỉnh lại vài cấu hình cần thiết.
ĐÔI ĐIỀU LƯU Ý
Bạn cần biết rằng một số việc nâng cấp hay tinh chỉnh thiết bị có thể vi phạm các qui định bảo hành của nhà sản xuất. Cũng lưu ý có một số nhà sản xuất khá dễ dãi, cho phép tinh chỉnh - như Intel và NVidia, thậm chí còn cung cấp cho người dùng các công cụ tinh chỉnh cần thiết, nhưng nhiều hãng khác rất khắt khe và cố tình “làm khó” người dùng. Dù trong bất kỳ trường hợp nào, bạn cần phải nhớ các lưu ý sau:
- Trước hết hãy sao lưu tất cả dữ liệu hoặc bắt đầu công việc từ một thiết bị hoàn toàn “trống”. Việc nâng cấp có thể tiến hành rất nhanh, tuy nhiên việc khôi phục dữ liệu mất khá nhiều thời gian.
- Lưu lại các trình điều khiển gốc, trong trường hợp xấu xảy ra thì bạn vẫn có thể khôi phục lại trình trạng làm việc cũ.
- Trước và sau tiến hành nâng cấp, hãy dùng một phần mềm kiểm tra hệ thống chuyên dụng để đánh giá mức độ cải thiện hiệu năng máy tính.
- Ngắt điện khi tiến hành thao tác với thiết bị trong thùng máy. Hãy cẩn thận và đừng làm rơi bất kì dụng cụ, ốc vít hay vật dụng gì bằng kim loại vì chúng có thể gây chạm điện và làm hỏng thiết bị.
PHẦN CỨNG
Ép xung máy tính
Những biện pháp cơ bản
Liệu có biện pháp nào cải thiện tốc độ máy tính mà không cần nâng cấp phần cứng? Câu trả lời rất đơn giản, hãy sử dụng một thủ thuật thông dụng: ép xung máy tính (overclocking). Các CPU hiện nay có thể xử lý các tác vụ nhanh và hiệu quả hơn nếu chúng ta tinh chỉnh cẩn thận vài thông số cần thiết. Ép xung không phải là một phép mầu để hóa cỗ máy cũ thành một siêu máy tính nhưng sẽ phần nào giúp bạn vắt kiệt hiệu năng hệ thống sẵn có.
Hai thông số chính ảnh hưởng đến tốc độ làm việc CPU là tốc độ bus và hệ số nhân. Để xác định tốc độ làm việc thật của CPU, bạn hãy nhân hai thông số trên. Ví dụ với tốc độ bus 100MHz và hệ số nhân 5,5 sẽ cho tốc độ hoạt động của CPU là 550MHz. Công thức này được áp dụng cho hầu hết các bộ xử lý Intel Celeron, Pentium II, Pentium III, IV và cả bộ xử lý AMD.
Một số tổ hợp bo mạch chủ (BMC) và CPU cho phép thay đổi một hoặc cả hai thông số trên để thiết lập một tốc độ mới cho hệ thống. Thường thì các BMC và CPU vẫn làm việc tốt khi ép xung CPU lên 10-20% so với tốc độ chuẩn. Việc chỉnh tốc độ bus cũng có thể ảnh hưởng đến tốc độ bus PCI và AGP, điều này phụ thuộc vào chipset được tích hợp trên BMC và cách thức mà chipset đó kết nối với các thành phần khác.
Một kinh nghiệm khi tiến hành ép xung là biết dừng ở giới hạn cho phép của CPU, bus hệ thống và bộ nhớ RAM. Nếu thiết lập xung nhịp quá cao trong BIOS, máy tính có thể không hoạt động. Khi ấy, bạn cần dùng trình cài đặt PC Setup để cấu hình lại các thông số trong CMOS RAM. Trong vài trường hợp, bạn phải khôi phục CMOS RAM hoàn toàn bằng cách tháo nguồn pin nuôi CMOS hoặc dùng jumper có kí hiệu “Clear CMOS” trên BMC. Nếu máy tính dùng switch (nút gạt) hay jumper để thiết lập xung nhịp và hệ số nhân thì bạn cần đặt chúng lại ở tốc độ thấp hơn.
Một vài tiện ích như NTune của NVIDIA (tải về tại www.pcworld.com.vn, Download, ID:46554) có thể giúp bạn dễ dàng thực hiện thay đổi các thiết lập. Tuy nhiên, một vài hệ thống của Dell, Gateway, HP, IBM và nhiều máy Pentium I, II, III không cho phép bạn thực hiện ép xung hệ thống.
Ép xung CPU bằng tiện ích BIOS
Hầu hết các BMC được sản xuất trong 3-4 năm trở lại đây như Asus, Abit, MSI và Tyan đều được cài sẵn chương trình thay đổi xung nhịp CPU trong BIOS. Khi máy tính khởi động, bạn sẽ thấy xuất hiện thông báo chỉ định một phím để kích hoạt trình PC Setup. Tài liệu của BMC sẽ hướng dẫn bạn xác định các thông số liên quan đến việc điều khiển tốc độ CPU.
Tiện ích PC Setup (hình 1) của bo mạch Abit KA7 đưa ra nhiều thông số cho việc ép xung khi tùy chọn CPU Operating Speed được thiết lập ở chế độ “User Define”. Thông số CPU FSB/PCI Clock cũng ảnh hưởng đến tốc độ của bus PCI. Thực tế cho thấy hầu hết các card PCI có thể được ép xung như CPU.
Người dùng có thể ép xung CPU AMD Athlon XP+ 2600 trên bo mạch ECS KT-600A chỉ qua một thao tác cài đặt. Hệ số nhân xung nhịp của CPU Althon XP+ 600A là 11,5, cho tốc độ CPU đạt từ 1910MHz (166x11,5) đến 2288MHz (199x11,5). Qua thử nghiệm thực tế của PC World Mỹ, chipset này có thể hoạt động hiệu quả khi được ép xung đến 2200MHz.
Cấu hình trên bo mạch chủ
Trước khi các nhà thiết kế cho phép thay đổi tốc độ CPU bằng phần mềm, các switch và jumper trên BMC đảm nhận công việc này. Việc tiến hành ép xung CPU bằng cách thiết lập jumper cũng tựa như trình PC Setup: bạn chỉ việc tăng tốc độ bus và hệ số nhân để tăng tốc độ làm việc của CPU cho đến khi tìm được tốc độ giới hạn làm việc ổn định. Hình 3 và 4 chỉ ra vị trí các jumper xác lập tốc độ FSB của CPU (từ 100MHz đến 110MHz). Bạn có thể thấy bảng hướng dẫn thiết lập các jumper/switch được khắc trên BMC (tuy nhiên đừng quá tin vào chúng, hãy tham khảo tài liệu hướng dẫn đi kèm của BMC để có thông tin cấu hình chính xác nhất).
Tăng tốc độ xử lý đồ họa
Đa phần việc ép xung không nhằm làm cho PC chạy nhanh hơn mà nhằm làm cho việc chơi game “trơn tru” hơn. Bạn có thể ép xung bộ xử lý của chip đồ họa theo cách giống như CPU. Nâng tốc độ đồ họa không đòi hỏi người dùng phải thao tác với các thiết bị bên trong thùng máy, đơn giản bạn chỉ cần tải về tiện ích nâng cấp. Thậm chí, hãng NVIDIA đưa luôn thiết lập ép xung vào trình điều khiển (phiên bản mới nhất). Để kích hoạt, bạn hãy chạy trình Windows Registry bằng cách nhấn Start.Run, gõ vào regedit và nhấn Enter. Tìm mục HKEY_LOCAL_MACHINE/SOFTWARE/NVIDIA Corporation/Global/NVTweak/, nhấn phải chuột vào cửa sổ bên trái và chọn New.Dword value, đặt tên coolbits và gán giá trị là 3 (hệ Hex). Ở tab NVIDIA (hình 5) trong cửa sổ cấu hình thiết bị đồ họa, cửa sổ “Clock Frequency Settings” cho phép bạn chỉnh dung lượng bộ nhớ và tốc độ xung của chip đồ họa. Chọn nút “Detect Optimal Frequencies” nếu bạn muốn tiện ích tự động đưa ra một con số an toàn cho việc ép xung card đồ họa.
ATI thì đưa vào tab “Overdrive” trong cửa sổ Display Properties/Settings/Advanced, bạn có thể thay đổi các thông số cho card Radeon trên hệ thống của mình. Để tinh chỉnh tốt hơn, hãy tải về tiện ích ATITool (www.pcworld.com.vn, Download, ID:46428), chương trình sẽ tự động xác lập tốc độ nhanh nhất cho card đồ họa của bạn.
HỆ ĐIỀU HÀNH
Để Windows hiệu quả hơn
Tinh chỉnh Windows
Quá trình thay đổi các thông số trong Windows đòi hỏi người dùng phải nhớ chi tiết từng bước thực hiện, chính xác tính năng từng thông số. Thật là phức tạp! X-Setup Pro (www.x-setup.net) của XQDC có thể giúp cho việc này trở nên đơn giản. Phần mềm cho phép truy cập đến hàng trăm thông số quan trọng điều khiển hoạt động của Windows hoặc các ứng dụng. Hơn thế nữa, X-Setup Pro còn cho bạn biết ý nghĩa của từng tham số và tác động của chúng đến hệ thống.
Tuy vậy, trước khi tiến hành cấu hình lại Windows, bạn hãy dùng vài biện pháp đơn giản hơn được đề cập trong bài “Trẻ hóa Windows” trong số báo này, trang 103. Với những yêu cầu cao hơn, bạn có thể điều chỉnh vài tham số để cải thiện tốc độ làm việc của Windows. Hệ thống sẽ hoạt động hiệu quả hơn nếu bạn thay đổi dung lượng và đĩa cứng mà Windows sử dụng để lưu các tập tin tạm và dùng làm bộ nhớ ảo (hình 6).
Thay đổi hai thông số chính
Trước khi tiến hành thay đổi các thông số trên, bạn hãy dọn dẹp ổ cứng theo các bước sau:
1. Mở cửa sổ My Computer, nhấn phải chuột lên ổ C: và chọn Properties.
2. Nhấn Disk Cleanup và chờ công cụ này thực hiện xong công việc, sau đó nhấn OK vàCođể xóa các tập tin rác.
3. Nhấn OK để đóng cửa sổ Properties.
Tiếp đến, tiến hành tinh chỉnh Windows lần lượt theo các bước sau:
1. Nhấn phải chuột lên My Computer và chọn Properties.
2. Chọn tab Advanced và nhấn Environment Variables.
3. Trong hộp thoại Environment Variables, chọn TEMP và TMP, thay đổi đường dẫn để bạn dễ dàng nhận biết vị trí của chúng. Sau đó nhấn OK.
4. Ở tab Advanced, trong phần Performance chọn nút Settings.
5. Trong cửa sổ Performance Lua chon, chọn tab Advanced.
6. Trong phần “ Virtual memory” nhấn nút Change.
7. Chọn Custom size, điền vào cùng giá trị cho Initial và Maximum sizes, sau cùng nhấn nút Set (hình 6). Bạn nên thiết lập kích thước tập tin tạm (swap file) tối thiểu bằng 1,5 lần kích thước bộ nhớ RAM hệ thống. Ví dụ ở hệ thống 256MB RAM, kích thước tập tin tạm có thể là 384MB. Tuy nhiên qua thực tế, ở những hệ thống được trang bị nhiều RAM như 512MB hay 1GB RAM, bạn chỉ cần đặt các kích thước tập tin tạm này là 512MB và 768MB.
8. Nhấn OK để đóng hộp thoại và khởi động lại Windows.
MẠNG MÁY TÍNH
Tùy chỉnh các thông số kết nối
Sự an toàn và tốc độ của mạng phụ thuộc vào việc cấu hình hai thông số là RWIN (Receive Windows) và MTU (Maximum Transmission Unit) trong Windows. Bạn có thể dùng Windows Registry để thay đổi chúng theo hướng dẫn tại find.pcworld.com/46436 hay sử dụng tiện ích miễn phí DrTCP (tải về tại www.pcworld.com.vn, Download, ID:46436).
Tham số RWIN thay đổi dung lượng bộ đệm dữ liệu nhận trong giao thức TCP/IP. Giá trị càng cao, tốc độ tải càng nhanh và con số này không có giới hạn. Theo kinh nghiệm của đa số người dùng, giá trị RWIN trong khoảng 32768 và 65536 sẽ cho tốc độ tốt nhất (nếu bạn không thiết lập, giá trị mặc định của RWIN sẽ gấp 4 lần giá trị MTU). Tham số MTU sẽ thiết lập dung lượng lớn nhất của gói dữ liệu gửi/nhận, và con số này phụ thuộc vào loại kết nối (dial-up, LAN hay ADSL). Giá trị mặc định cho giao thức TCP/IP là 1500; nhưng ở kết nối dial-up (quay số), giá trị này là 576; với giao thức PPPoE (cáp hay DSL), giá trị này phải nhỏ hơn 1492. Một vài ISP và mạng riêng ảo (VPN) yêu cầu giá trị thấp 1300 để kết nối các hệ thống với nhau và mã hóa dữ liệu.
Để tăng thêm tốc độ, bạn có thể chỉnh số lượng kết nối cùng lúc đến máy chủ. Nếu đang sử dụng đường truyền tốc độ cao (cáp hay DSL) thì thay đổi các thông số này làm cho việc tải trang web đáp ứng nhanh hơn. Một vài máy chủ dịch vụ web giới hạn hai kết nối cùng lúc vì vậy bạn sẽ không thấy tăng tốc ở tất cả các site.
Máy tính êm và mát hơn
Làm mát CPU
Khi máy tính hoạt động, nhiệt độ trong thùng máy sẽ nóng lên, tốc độ xử lý càng cao thì nhiệt độ cũng không ngừng tăng theo. Hầu hết các máy tính đều được trang bị hệ thống tản nhiệt và quạt làm mát, tuy nhiên các thiết bị này tỏ ra “bất lực” với các hệ thống máy tính được thực hiện ép xung. Một vài thiết bị tản nhiệt và quạt làm mát mới có thể làm giảm nhiệt độ CPU và tạo ra ít tiếng ồn hơn. Ví dụ như quạt làm mát CNPS7000B giá 50USD của hãng Zalman dùng cho các CPU Athlon và Pentium 4 hay hệ thống tản nhiệt CL-P0092 giá 40USD của Thermaltake dùng cho hệ thống Pentium 4.
Các hệ thống tản nhiệt và quạt làm mát có thể là chọn lựa tốt cho người dùng thông thường. Hiện nay, nhiều hệ thống máy tính ép xung được trang bị hệ thống tản nhiệt bằng nước (giá dao động từ 100 đến 180USD) thường được sử dụng trong các siêu máy tính. Nguyên lý hoạt động của các hệ thống này là luân chuyển nước qua một miếng tản nhiệt đặt trên mặt CPU, bơm lên và sau đó dùng quạt thổi hơi nóng ra. Phương pháp này rất hiệu quả cho việc ép xung trên CPU, chipset và card đồ họa. Tuy nhiên, bạn cần phải có đủ không gian trong thùng máy và xung quanh CPU để trang bị hệ thống làm mát như vậy.
Tăng công suất và giảm tiếng ồn
Việc ép xung CPU và tinh chỉnh máy tính có thể dẫn đến tình trạng thiếu nguồn điện. Khi ấy, bạn cần nâng cấp nguồn công suất lớn hơn. Antec Phantom giới thiệu bộ nguồn rời 350 watt không có quạt giá 170USD (hình 10). Bộ nguồn này có trang bị phiến tản nhiệt bên trong đủ làm mát mà không cần dùng quạt và do vậy giảm thiểu tiếng ồn.
Để PC hoạt động êm hơn
Bộ nguồn đã hoạt động êm hơn, giờ đến lúc xử lý cho máy tính. Bạn không thể bỏ qua tiếng ồn do quạt. Một biện pháp để giải quyết vấn đề là dùng quạt làm mát tự động điều chỉnh tốc độ theo nhiệt độ của Thermaltake A1214 giá 6USD. Dù vậy, những rung động từ quạt và ổ đĩa cứng có thể vẫn làm bạn khó chịu. Các nắp đậy phẳng hai bên thùng máy cũng có thể gây ra tiếng ồn cho máy tính. Bạn có thể khắc phục phần nào tiếng ồn này nếu sử dụng các miếng dán chống rung của DampTek (hình 11) giá 50USD/hộp 3 miếng.
MÁY ẢNH SỐ
Chỉnh sửa hình ảnh
Biến Canon EOS 300D thành Canon 10D
Chỉ đơn giản bằng cách tải về một tập tin và nâng cấp “firmware”, chiếc Canon EOS300D của bạn sẽ nhanh chóng có được những tính năng tương tự dòng máy cao cấp Canon 10D, bao gồm chỉnh độ nhạy ASA/ISO 3200, Thuc don tính năng tùy chọn, chụp không dùng thẻ nhớ Compact Flash. Bạn có thể tham khảo tại find.pcworld.com/46442 để biết thêm thông tin về cách nâng cấp này.
Tuy nhiên trước khi tiến hành, hãy tải về bản nâng cấp “firmware” mới nhất (của EOS 300D) từ website của Canon, phòng trường hợp quá trình nâng cấp gặp trục trặc bạn có thể cài đặt lại từ “firmware” này. Sau đó, bạn tuần tự làm theo các bước sau:
1. Tải về “firmware” máy Canon 10D tại find.pcworld.com/46444.
2. Dùng máy ảnh để “format” lại thẻ CF (dung lượng ít nhất là 8MB) và chép “firmware” vừa tải về lên thẻ nhớ này.
3. Cho thẻ CF vào máy.
4. Mở máy, và thiết bị sẽ tự động nhận biết “firmware” mới và hướng dẫn bạn cách thực hiện ngay trên màn hình LCD (đơn giản chỉ là chấp nhận cấu hình mới và khởi động lại thiết bị).
Lấy ảnh từ máy Dakota
Bạn mua máy ảnh dùng một lần Dakota và bây giờ cần đem đến tiệm để rửa ảnh. Không cần thiết, chỉ với vài thao tác bạn hoàn toàn tự làm được chuyện ấy bằng cách tham khảo tài liệu hướng dẫn cách kết nối USB thiết bị này tại find.pcworld.com/46446, hoặc cách chép 25 bức ảnh trong máy ra theo các hướng dẫn tại find.pcworld.com/46448.
MÁY NGHE NHẠC SỐ
Lưu trữ nhiều hơn
Nâng cấp ổ cứng cho máy nghe nhạc Nomad Zen
Một khi dung lượng 20GB của chiếc máy nghe nhạc số Nomad Zen không đáp ứng yêu cầu lưu trữ hay đơn giản bạn muốn tăng dung lượng thì nên nâng cấp ổ đĩa cho máy. Việc nâng cấp chỉ mất chừng 30 phút với vài thao tác rất đơn giản. Mọi hoạt động của máy Zen đều nằm trong “firmware”, do vậy bạn có thể thay đổi ổ cứng dễ dàng mà không phải lo ngại bất cứ chuyện gì ngoài tem bảo hành bị rách.
Bước thứ nhất, bạn phải có sẵn một ổ cứng thay thế. Theo Creative, máy Nomad Zen sử dụng ổ cứng dành cho máy tính xách tay của Fujitsu và bạn không quá khó để tìm một ổ đĩa dung lượng 20GB, 40GB hay thậm chí 60GB.
Bạn nhớ cài phần mềm của Nomad Zen vào máy tính trước và sao lưu lại tất cả các tập tin nhạc hiện có.
Tiến hành tháo ổ cứng cũ khỏi máy theo các bước sau:
1. Tháo 4 con vít ở mặt sau máy
2. Tách nắp đậy khỏi thân máy, bạn sẽ thấy ổ cứng được gắn với một đai bằng kim loại.
3. Tháo đai ra bằng cách nạy các cạnh xung quanh và nhớ giữ lại khung này.
4. Nhẹ nhành nâng ổ cứng lên ở đầu đối diện các đầu nối.
5. Cẩn thận kéo ổ cứng lên bằng cách giữ chặt các mạch điện và đầu nối.
6. Lúc này, bạn sẽ nhận ra một tấm bọt biển mỏng (hình 12) có tác dụng chống va chạm, hãy giữ lại nó.
Lúc này, bạn đã hoàn thành được nửa chặng đường và hãy cố gắng hoàn thành các công đoạn lắp vào và “format” ổ cứng mới:
1. Một lần nữa hãy giữ chặt các mạch điện và đầu nối, cẩn thận cắm ổ cứng mới vào đầu nối đó.
2. Lắp ổ vào thân máy.
3. Đặt lại đai kim loại xung quanh ổ đĩa mới và cẩn thận gài chúng vào thân máy (hình 13).
4. Gắn lại mặt sau máy và siết chặt 4 con vít đã gỡ trước đó.
Các bước tiếp theo để hoàn tất quá trình:
1. Kết nối bộ chuyển đổi nguồn AC với thiết bị và đừng kết nối thiết bị với máy tính.
2. Bật máy Zen, trên màn hình sẽ hiển thị Thuc don “rescure mode”. Nếu không thấy gì, bạn hãy nhấn và giữ nút Play/Pause và khởi động lại máy.
3. Chọn tùy chọn Format All, quá trình sẽ kéo dài khoảng vài giây nhưng không phải là định dạng lại ổ đĩa mới mà là tải lại firmware cho thiết bị.
4. Tiếp đến, hãy kết nối Zen với máy tính. Nếu bạn đã cài sẵn chương trình Nomad Zen, thiết bị sẽ được tự động nhận dạng và hộp thoại “ZenUniversalUpgrade” sẽ xuất hiện. Nếu không, bạn cần tháo thiết bị ra và cài lại phần mềm trên máy tính.
5. ChọnCođể tiến hành cập nhật “firmware”, sau vài giây bạn sẽ thấy xuất hiện hộp thoại “JukeBox Information” hiển thị thông tin phiên bản firmware và dung lượng ổ đĩa mới.
6. Tải nhạc vào thiết bị và sử dụng thiết bị như bình thường.
Theo PCWorld Vietnam
Lên Trên
Bài tìm hiểu tốc độ và tính năng PC
Đầu tiên nói tới chuyện nhanh + ổ định, hai cái này khó đi chung với nhau khi người dùng chỉ muốn "nhanh". Kết quả sài máy cho thấy nhanh chưa chắc là ổn định.
Có rất nhiều người đưa ra một số bài viết về tăng tốc máy tính, dựa trên internet, hoặc tự làm rồi thấy . Nhưng không đưa ra giải thích tại sao làm vậy. Topic này bắt đầu phong trào giải thích tại sao lại làm như vậy là tốt, cái nào có lợi, cái nào có hại, thế nào là ổn định.
Đầu tiên cơ bản nhất là cấu trúc foler +files trên ổ cứng : Khởi động vào, mở explorer ra, thấy vô vàng thư mục+ tập tin nằm lung tung. Đối với hệ thống máy tương đối chậm, việc để dữ liệu nằm lung tung, cấu trúc thư mục hổn tạp-> việc trình duyệt file tiềm kiếm, quản lý không hiệu quả. Vấn đề phân mảnh ổ cứng cũng có liên quan nhiều tới thói quen sắp xếp trên ổ đĩa. Vì vậy cần phải sắp xếp hệ thống thư mục + tập tin cho thật đơn giản có cấu trúc. Tiến hành chạy chống phân mảnh ổ cứng định kỳ để ổ đĩa truy suất tới dữ liệu hiệu quả hơn.
Có thể sử dụng tool có sẳn của windows hoặc một tool của 1 hảng khác như norton system works,...
Tiếp theo nói tới folder cài đặt HDH windows và các trình ứng dụng loại lớn( office, đồ hoạ,..)
Trước hết cần phải nói tới các trình ứng dụng office, đồ hoạ, làm phim. Mọi người cần biết thêm file bộ nhớ ảo, file swap của HDH, file này có kích thước thay đổi tùy thuộc vào số lượng phần mềm đang chạy trên máy , số lượng công việc và CPU phải giải quyết. MS quy định file này nằm trên ổ đĩa C, nằm chung chổ với thư mục windows . Vì thế để nâng cao hiệu suất sử dụng , nhiều người khuyên nên cài mấy phần mềm đó trên một ổ đĩa khác, ổ C chỉ nên chứ windows và 1 số trình ứng dụng nhỏ. Không nên để ổ cứng truy cập trên cùng một ổ cứng vừa các file hệ thống, các tệp nhớ ảo, tệp trình ứng dụng.( nếu có hiểu biết về cấu trúc ổ cứng/cách hoạt động sẽ dễ hiểu hơn ở chổ này).
Kế tiếp nói về folder windows và một số folder khác( những folder này xuất hiện sau khi cài một số phần mềm, hoặc sau 1 thời gian sài các phần mềm này).
Sau khi cài office của MS sau khi cài vào máy, Người ta còn thấy thêm một thư mục khoảng 200MB thông tin về bộ office, mọi người vẫn thích xóa nó đi để lấy lại trên 200MB này. Thông tin lưu lại này giúp cho việc bảo trì bộ office và một số thao tác khác. Việc xóa nó đi cần phải cân nhắc. Đồng thời khi cài bộ office cũng như các phần mềm lớn khác cũng nên để ý một điểm. Các phần mềm lớn đều có hỏi, bạn có muốn cài toàn bộ/1phần trên đĩa cứng. Nếu thấy dung lượng còn dư thừa, mọi người nên cài toàn bộ phần mềm đó trên ổ cứng. Việc cài chỉ một phần lên ổ cứng sẽ dẫn tới chuyện hỏi đĩa CD mỗi khi chạy trình ứng dụng đó. Chuyện này làm một số người bực lên.Chuyện cài nhiều/cài ít ảnh hưởng tới tốc độ của máy một phần và ảnh hưởng tới tâm lý người sử dụng một phần.
Các thư mục để file tạm, file rác, fiel quarantee của các trình giết virus cần phải xem xét lại. Định kỳ xóa rác chứa trong các thư mục đó, bằng tay hay dùng một phần mềm nhiều chức năng như Beclean, tuneup, norton systemworks... . Windows Xp,server 2003, có thư mục Prefetch, mỗi user có thư mục temp/internet temporary/history/ , Yahoo Hop thu có thư mục cache/profile (việc xóa hay không tùy thuộc vào bạn)... Các trình diệt virus đều có thư mục quarantee. Chú ý đặc biệt tới BKAV, trình giết virus này không giết được virus thì nó sẽ cách ly con virus đó( file chứa virus) vào trong thư mục cách ly của nó. Có trường hợp người dùng không biết, thư mục này đầy lên, làm tràn ngập ổ C.(Người Việt Nam thích dùng đồ BKAV do dễ dùng)
Vì thế người ta khuyên nên tạo một thư mục chung để chứa file rác, file tạm của HDH windows. trong Control Panel-System-thẻ Advanced có một chổ là Environment Variables. trong đó bà con sẽ thấy Ô User variables cho tên_user_hiện_hành , và system variables. Để tiện quản lý file tạm, file rác nên để cho 2 thư mục TEMP và TMP của người dùng/hệ thống chung một chổ . Tạo một thư mục chứa file rác duy nhất. Sau đó khai báo lại đường dẫn bằng cách Edit, rồi nhập lại đường dẫn thư mục.
Kế tiếp nói tới phần quan trọng nhất, các thư mục liên quan tới HDH windows. Nhiều người post bài nói là xóa hết một số thư mục có trong thư mục windows, nằm ngoài thư mục này sau khi cài HDH.
Người dùng nên biết sơ về các thư mục được nói tới sau đây trước khi xóa nó đi.
Một thư mục ẩn mà windows tạo ra để chứa cache(bộ đệm/bộ lưu trữ) cho các phần mềm cài vào máy: c:\MSOcache.
Thư mục này chứa thông tin thêm về bộ Office 2003 của MS, nó cần thiết cho việc bảo trì, thông tin phụ thêm.. mỗi khi chạy office và sửa đổi sau này. Việc này có nói sơ qua ở bài trên. Xóa hay không thì tuỳ. Vì nếu Office có hỏi gì thì bỏ CD-ROm vào lại.
Trong thư mục windows, có rất nhiều người người nói nên xóa này nọ kia.
Thứ nhất khi vào trong c:\windows thấy có vô số thư mục dạng c:\windows\$Uninstall----$ , những thư mục này chứa thông tin để gở bỏ các bản update của windows. Nếu xóa nó đi thì không thể uninstall mấy cái bản update tương ứng. Nếu update hoạt động tốt thì xóa đi chẳng có vấn đề gì xảy ra.
Thư mục kế tiếp được người ta xóa tiếp là c:\windows\downloaded installations\. Thư mục này chứa bộ intall, installer của một số phần mềm , nó cần thiết khi có update hay repair thành phần của phần mềm tương ứng. Vậy cũng phải coi lại nên xóa cái gì trong thư mục đó. Không nên xóa nguyên mục này.
Một em thư mục "d" nửa là driver cache. Thư mục này cần cho windows khi người dùng muốn add/remove thành phần nào đó của windows, hay driver của linh kiện nào đó. Vậy có xóa đi thì cũng coi lại. Giải phóng thêm vài chục MB ổ cứng sau khi xóa nội dung trong thư mục này. Chưa lãnh đạn chuyện lợi/hại của việc xóa thư mục này. Hay chuyện thư mục này có liên quan tới quá trình khởi động windows.
Thư mục dưới driver cache cũng hay bị xóa là Giup do. Toàn bộ thông tin về giúp đở(Giup do and support) đều nằm ở đây.
thư mục windows/inf chứa thông tin drivers của HDH, tùm lum thứ driver tích hợp sẳn, driver của phần cứng cài riêng ... Nếu không có gì thay đổi về phần cứng, việc xóa cũng có thể xem xét.
Thư mục Prefetch chứa thông tin về các lệnh/tập tin người dùng từng gỏ vào Start->Run để thực thi lệnh/mở tập tin đó, có thể xóa đi. Còn chuyện xóa nó đi để HDH khởi động nhanh hơn thì chưa thấy có con số/nơi đàng hoàng để kiểm chứng.
Thư mục repair chứa thông tin về registry khi HDH được cài đặt. Nó cần thiết cho quá trình phục hồi lại registry. Xóa nó đi nếu chuyện cài lại HDH/ghost dễ làm hơn.
Thư mục system32 có nhiều thư mục con được nhiều người đưa vào diện xóa mà không nói rõ các thư mục đó chứa thông tin gì.
thư mục dllcache chứa toàn bộ thông tin backup của toàn bô file hệ thống mà HDH sử dụng. Vì thế việc phục hồi file hê thống là vô nghĩa lý gì khi xóa thư mục này.
tương tự với thư mục restore, thư mục này chứa các restore point, các điểm hệ thống, kể cả tool restore. Nếu xóa bay luôn thư mục thì chuyện phục hồi toàn bộ hệ thống không có điểm nào để roll back( quay về).
Lên Trên
Tự động hoá quá trình sao lưu dữ liệu
Bạn luôn ý thức được rằng dữ liệu luôn luôn quý giá và dùng một số phần mềm sao lưu dữ liệu giúp bạn cất giữ an toàn các tài liệu quan trong tuy nhiên mỗi khi muốn sao lưu bạn lại phải thực hiện công việc khá khó khăn và mất nhiều thời gian này một cách thủ công? Vậy tại sao bạn lại không dùng thử phần mềm sao lưu dữ liệu một cách tự động mang tên File Backup Watcher 2.7.
Với FBW, việc sao lưu của bạn sẽ được tự động hoá hoàn toàn theo thời gian bạn sắp đặt và bạn chỉ cần thiết lập một lần ngay từ bây giờ cho mọi công việc sao lưu sau này.
FBW là một phần mềm dạng shareware, tương thích với mọi hệ điều hành, bạn có thể tải bản dùng thử của chương trình tại địa chỉ http://www.download.com/File-Backup-Watche...4-10516518.html.
Thực hiện sao lưu dữ liệu
Sau khi cài đặt và khởi động chương trình, bạn sẽ hoàn toàn bị chinh phục bởi giao diện tuyệt đẹp và rất chuyên nghiệp của FBW. Việc sao lưu các dữ liệu cần thiết cũng được thực hiện rất nhanh chóng.
Giả sử bạn muốn sao lưu các dữ liệu ở thư mục Documents và bạn muốn cứ 1 ngày chương trình sẽ tự động cập nhật các dữ liệu mới ở thư mục này, sao lưu chúng vào file cũ hoặc tạo file sao lưu mới. Bạn thực hiện như sau:
- Chọn Profile>New Profile để tạo dự án mới.
- Chọn tiếp chế độ sao lưu là Express Setup, nhấn Next để sang cửa sổ tiếp theo. Trong khung Name bạn nhập tên cho file sao lưu, nếu muốn thêm các ghi chú riêng cho file sao lưu bạn nhấn chọn Add your comments và ghi nội dung vào trong khung ở dưới.
Nhấn Next lần nữa để sang cửa sổ Source Folder. Mục này để bạn chọn lựa thư mục hoặc file sẽ sao lưu. Nhấn vào ô màu xanh ở cuối dòng và sau đó dẫn đến vị trí folder chọn, khi bạn nhấn Next tiếp một lần nữa, mục Destination Folder sẽ hiện ra cho phép bạn chọn lựa folder đích để cất giữ các file sao lưu.
- Mục Methol sẽ cho bạn 2 chọn lựa chế độ sao lưu: Manual (thực hiện thủ công), hay Automatic (tự động hoá). Nếu bạn chọn chế độ là Automatic, một bảng lịch sẽ hiện ra trong đó bạn có thể tuỳ chọn ngày tháng, giờ xác định để chương trình tự động thực hiện công việc sao lưu một cách định kỳ.
Ví dụ muốn việc sao lưu diễn ra hàng ngày bạn chọn ngày và giờ, từng tháng thì chọn tháng và giờ... Đến đúng thời điểm chọn, chương trình sẽ đưa ra hộp thông báo đang tạo điểm checkpoint (điểm sao lưu) cho bạn thấy.
Nhấn Finish để kết thúc quá trình thực hiện sao lưu, bạn sẽ thấy file sao lưu hiện ra trong bảng liền kề.
Phục hồi dữ liệu
Sẽ có các thông tin cụ thể về các file sao lưu mới được tạo, nếu muốn phục hồi file nào ở thời gian nào đó xác định, bạn chọn file đó và chọn Restore.
Ngoài ra trên giao diện chương trình còn tích hợp công cụ ghi đĩa dữ liệu CD/DVD hoặc tạo file ISO. Khi kích hoạt chế độ này, cửa sổ chương trình sẽ được chia thành 2 khung riêng biệt như các trình ghi đĩa khác có tên PC và CD. Muốn tạo file ISO bạn chọn ISO và muốn ghi ra đĩa CD/DVD bạn nhấn mũi tên sổ xuống, chọn ổ đĩa ghi của mình, sau đó kéo - thả dữ liệu cần ghi vào khung thứ 2.
theo Thanh Niên Online
Lên Trên
Phân vùng ổ cứng không mất dữ liệu
Nếu trước đây, có lẽ bạn chỉ mới biết có anh chàng siêu sao là Partition Magic 805 phân vùng ổ đĩa, nay bạn cần biết thêm một đối thủ mới thật sáng giá là Acronis Disk director suite 90.
Hãng Acronis dự định đè bẹp anh chàng PowerQuest PM805 nên đã có cải tiến thật đáng chú ý là chạy Aconis DS 90 cứu hộ này bằng một đĩa CD PE (CD ở môi trường trước khi vào windows) mà không còn dùng DOS cổ lỗ sỉ như PM 805 và giao diện làm việc thật đẹp và dễ dàng thao tác y hệt như trong windows.
Do vậy, nếu máy tính của bạn đã cài XP mà không có MS- DOS (không dùng được PM 805 cứu hộ) nên thay thế Acronmis Disk selector suite 90 sớm: một giải pháp tốt nhất để phân vùng lại đĩa cứng cho bạn.
Lưu ý với các bạn mới vừa làm quen với các chương trình phân vùng ổ đĩa: dù nổi tiếng không làm mất dữ liệu) nhưng vẫn nguy hiểm khi có cúp điện đột xuất đang làm, hoặc ổ C của bạn có lost link, bad link mà bạn không thử tìm trước khi làm phân vùng.
Do vậy điều thật an toàn cho bạn là bao giờ cũng phải biết sao lưu ổ C hay các tư liệu quí (My documents hay các thư lưu trữ vào 1 nơi thật an toàn trước khi phân vùng lại cho ổ đĩa của bạn. Sao lưu bằng chương trình nào tốt nhất?: Norton ghost 11 với các bạn quá rành và Drive Image 2003 với các bạn khác chưa rành.
Một ưu điểm đáng nói nữa về Acronis Disk director suite 90 là bạn chỉ cần có CD key là cài được chứ không như PM 805 phải đăng ký bằng hàng loạt số dài ngoằng qua điện thoại (telephone) hoàn toàn không phải dễ làm nếu bạn chưa quen với đăng ký bằng loại CDkey phức tạp này.
Trong lúc cài gần xong, bao giờ nó cũng hỏi bạn có cần làm một CD cứu hộ (Media builder) tự boot trong PE kích thước gần 15MB, do vậy bạn nên chuẩn bị 1 CDRW để nó làm giúp đĩa này.
Sau đó bạn nên dùng UltraISO 861 làm ra file ISO cho đĩa này và để chung file ISO này cùng với Hiren 60, XPE và nhiều thứ khác vào một DVD boot đa năng nếu bạn có thêm BCDW 201.
Mở chương trình ra để chạy lần đầu, bạn sẽ thấy chia làm 2 phần rõ rệt: bên trái và phải.
1) Phần bên phải:
Liệt kê cho bạn biết các ổ đĩa (phân vùng) trong đĩa cứng của bạn và bạn chỉ cần click nút phải vào từng ổ đĩa để làm mọi tác vụ thường gặp như resize ( phân lại kích thước ) delete, format...
ở phía dưới bên phải, cũng chỉ rõ phân vùng nào là primary (chỉnh yếu tự boot) hoặc logical hay unallocated (chỗ trống mới dời đi mà chưa có tên) .
Nhớ điềun rất quan trọng này là khi phải chọn delete( xoá ) bất cứ phân vùng nào, bạn phải create( tạo ) ra một tên mới để tránh tên các ổ đĩa bị đôn tên lên lộn xộn, khiến bạn sẽ khó nhận ra các phân vùng mang tên cũ .
2)Phần bên trái rất quan trọng liệt kê khá nhiều tác vụ được xếp từ trên xuống như sau:
A) Wizard:
Dành cho các bạn mới quen lần đầu với phân vùng, biết cách làm qua hướng dẫn từng bước thật dễ dàng như create partition ( tạo ra một phân vùng mới ); increase free space ( tạo thêm khoảng trống giữ các ổ đĩa ) , copy ( chép phân vùng này qua một nơi khác ) recover partition ( phục hồi phân vùng nào mà bạn lỡ xoá nhầm ).
Operations (tác vụ): gồm có : copy( chép phân vùng ); move ( di chuyển đi nơi khác ) ; resize ( thay đổi kích thước của phân vùng); change label ( đổi tên ổ đĩa ), format, delete( xoá ), check ( kiểm tra liệu ổ đĩa này có bad link hay không: quan trọng để khỏi hư ngưng đột ngột; defragment ( chống phân mảnh) , properties ( đặc tính từng ổ đĩa )
C) Advanced ( cao cấp ):
Gồm có change drive letter( đổi ngay chữ ổ đĩa và bạn khỏi phải vào Windows Explorer hoặc Disk management); convert ( chuyển đổi qua lại giữa FAT 32 hay NTFS); hide ( giấu đi ổ đĩa khi có 2 hệ điều hành trong 1 ổ đĩa ); change cluster size ( để giảm bớt khoảng trống phí phạm trên ổ đĩa ); change type ( đổi qua các dạng khác ngoài NTFS..); Edit ( kèm thêm Acronis Disk Editor rất mạnh , khá nguy hiểm chỉ dành dành cho các bạn thật chuyên nghiệp, nếu là dân không chuyên xin đừng rớ vào đây nhé ) .
D) Boot media builder:
Giúp bạn làm đĩa cứu hộ tự boot khả năng chạy hoàn toàn trong môi trường PE (preinstallation environtment) hiện đại mà không phải là MS-DOS như PM805 với một giao diện cực đẹp y hệt như trong windows .
Bạn có thể chọn làm phần cứu hộ là bằng nhiều đĩa mềm hay chỉ 1 đĩa CD, CDRW . Nhưng theo ý riêng của tôi bạn không bao giờ nên chọn làm bằng các đĩa mềm vì cần quá nhiều trên 10 đĩa (15MB) nếu lỡ hư 1 đĩa thì mệt không còn cứu hộ gì được.
E) Details:
Phần này cho bạn biết chi tiết của từng ổ đĩa đã sử dụng bao nhiêu rồi (used space) và còn trống bao nhiêu( free space ) để xem liệu cần chỉnh lại kích thước hay không( cần giảm bớt hay tăng thêm ).
Kết luận:
Acronis Disk selector suite 90 rất xứng đáng cài vào máy bạn cũng như có file ISO để làm đĩa cứu hộ chung với các phần khác như cài đặt XPSP2 , bản sao Ghost của C, D , XPE, Hiren 60 trong chỉ một đĩa DVD multiboot tối cần cho bạn trong mọi trường hợp khi có sự cố đột xuất.
Theo XHTT
Lên Trên
thủ thuật sử dụng và bảo quản hệ thống
Thủ thuật máy tính
* Những thủ thuật nhỏ để sử dụng Windows thuận tiện hơn. Bạn nhớ sao lưu hệ thống trước khi thực hiện những thay đổi trong Registry.
Cách Reinstall Internet Explorer nhanh
Chỉ qua vài thao tác đơn giản: Cho CD WinXP vào ổ CD Rom. Click vào nút Start , chọn Run (hay nhấn phím tắt Windows + R). Hộp thoại Run xuất hiện, ta gõ:
- Rundll32.exe setupapi,InstallHinfSection DefaultInstall 132 c:\windows\inf\ie.inf. Click Enter là xong.
Cách gỡ bỏ Windows Hop thu nhanh chóng
Đối với người dùng hệ điều hành Windows XP, có thể gặp sự phiền phức khó chịu với Windows Hop thu được kèm sẵn trong phiên bản XP mà rất khó gỡ bỏ. Mỗi khi Windows XP khởi động là ta lại bắt gặp Windows Hop thu trong Tray Bar (phía dưới bên trái) yêu cầu nhập Username và Password. Có rất nhiều cách để gỡ bỏ Windows Hop thu ra khỏi Windows. Sau đây là cách thức gỡ bỏ nhanh nhất chỉ với vài bước.
Vì Windows XP có phiên bản mới đính kèm Service Pack 1, nên ta chia làm 2 trường hợp:
+ Cách gỡ bỏ nhanh: Click vào nút Start , chọn Run (hay nhấn phím tắt Windows + R). Hộp thoại Run xuất hiện, ta gõ: runDll32 advpack.dll,LaunchINFSection %windir%\INF\msmsgs.inf,BLC.Remove. Nhấn Enter. Khởi động lại máy và bạn sẽ thấy sự phiền toái biến mất.
+ Gỡ bỏ trong Add/remove Programs: Vào Control Panel. Chọn Add/Remove Programs. Click lên "Add/Remove Windows Components" bên trái. Bỏ chọn "Windows Hop thu ". Chọn Next. Chọn Finish. Khởi động lại máy.
Thay đổi text trên Internet Explorer 6
Bạn muốn thay đổi dòng chữ nhàm chán trên Internet Explorer 6 (Microsoft Internet Explorer) bằng TP143 Internet Explorer - VSC 2005 chẳng hạn , thì chỉ cần vài bước sau vớiNhomPolicy trong Windows:
Click vào nút Start , chọn Run (hay nhấn phím tắt Windows + R). Hộp thoại Run xuất hiện, ta gõ: gpedit.msc. Chọn User Configuration > Windows Setting > Internet Explorer Maintenance > Browser User Interface. Double Click lên Browser Title. Chọn vào Customize Title Bars và sau đó điền vào dòng chữ mà bạn muốn Internet Explorer hiển thị trên thanh Title Bar. Nhấn OK và thoát ra. Bạn thử mở lại Internet Explorer để xem kết quả.
Xóa sạch Page File khi Shutdown
Khi làm việc trên PC, như sử dụng Microsoft Word, các văn bản hay các trang web được mở ra đồng nghĩa với việc những trang đó, văn bản đó được nạp vào RAM, nhưng để tiết kiệm RAM, Windows cho nhiều loại files khác nhau vào trong Pagefile (có chức năng giống bộ nhớ ảo dùng lưu trữ). Microsoft cũng cho mặc định chế độ xoá Pagefile khi shutdown là OFF, nên ta có thể thay đổi lại chế độ này theo cách sau:
Vào Registry Editor, bằng cách nhấn Start - Run, gõ regedit rồi Enter.
Chọn đến: HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\Session Manager\Memory Management. Chọn ClearPageFileAtShutdown trên danh sách bên phải. Phải chuột , ta chọn Modify để chỉnh sửa . Thay đổi giá trị là 1 để kích hoạt chức năng xóa PageFile khi shutdown. Thoát ra và khởi động lại máy tính.
Chú ý: Chức năng này sẽ làm tăng thời gian shutdown máy của bạn, nhưng sẽ đem lại lợi ích cho việc dọn dẹp Windows System của bạn.
Cách chuyển từ FAT32 sang NTFS
Đối với phiên bản Windows NT trở lên, Microsoft cung cấp thêm định dạng NTFS với nhiều cơ chế bảo mật và lợi ích hơn. Nên khi muốn thay đổi từ bảng FAT32 sang NTFS, ta chỉ cần thao tác như sau:
Vào Start - Run, gõ cmd. Hộp thoại Windows Command sẽ xuất hiện với dấu nhắc ở C:\. Tùy theo ta muốn thay đổi (convert) cho ổ đĩa nào trên HDD mà ở đây, ví dụ là ổ C thì ta sẽ gõ:
CONVERT C: /FS:NTFS.
Tuy nhiên, cách tốt nhất là dùng 1 chương trình từ nhà sản xuất thứ 3 để làm việc này, đơn cử một chương trình khá tốt và được sử dụng rộng rãi là Partition Magic. Partition Magic sẽ giúp bạn làm nhiều việc hơn với giao diện thân thiện, dễ sử dụng
* Khởi động nhanh chức năng System Restore
Bạn có thể thực hiện nhanh việc khởi động chức năng System Restore của Windows trong cửa sổ Commander theo các bước sau. Chú ý: Bạn phải đăng nhập với tài khoản người quản trị (Administrator).
- Mở Start – Run – gõ cmd – Enter. Cửa sổ Windows Commander xuất hiện. Bạn gõ
%systemroot%\system32\restore\rstrui.exe. Nhấn Enter. Hộp thoại của System Restore sẽ khởi động.
Shutdown nhanh trong Windows với Shortcut
Trong Windows 95/98*TrieuQuocBao và Windows XP, bạn phải chuột trên Desktop, chọn New – Shorcut. Cửa sổ mới xuất hiện yêu cầu bạn gõ vào đường dẫn. Nếu bạn đang sử dụng Windows 95/98/ME, ta gõ: c:\windows\rundll.exe user.exe,exitwindows (Ở đây, C: là ổ đĩa cài đặt Windows).
Nếu sử dụng Windows XP, gõ: SHUTDOWN -s - t 01. Nhấn Next và Finish. Bây giờ, mỗi khi muốn shutdown máy, bạn chỉ cần nhấn đúp lên shortcut vừa tạo trên Desktop.
Khóa chức năng lưu trữ hoạt động trên Windows XP
Đây là một thủ thuật nhỏ cho phép bạn vượt qua việc ghi lại những hoạt động trên Windows, hay do các phần mềm bảo mật như AntiVirus, tường lửa …) đối với các tài khoản giới hạn hay guest.
Đăng nhập với tài khoản bị giới hạn hay Guest trong Windows XP, vào thư mục:
C:\WINDOWS\system32\config. Bạn chỉ cần đặc lại thuộc tính cho các tập tin sau thành Readonly (hoặc nếu được cho phép thì bạn thêm thuộc tính attrib):
- AppEvent.Evt
- SecEvent.Evt
- SysEvent.Evt
Hoặc nếu bạn muốn các trình bảo mật cũng không lưu trữ lại các hoạt động trên máy của bạn như Norton AntiVirus thì vào %programfilesdir%\norton antivirus\activity.log và đặc thuộc tính Readonly và Attrib
*
Sao lưu và phục hồi hệ thống Registry
Việc sao lưu hệ thống Registry rất quan trọng vì registry được xem là “trái tim” của hệ điều hành, mỗi khi bạn thực hiện một thay đổi trong registry cũng có nghĩa là bạn đã thay đổi cấu hình cho hệ thống. Khi xảy ra trục trặc, bạn có thể làm theo các bước sau để khôi phục:
- Sao lưu các giá trị Registry: Nhấn Start - chọn Run, gõ “regedit” và nhấn OK. Trong Thuc don File, bạn chọn “Export”. Trong hộp thoại Save, chọn những hộp thoại bên dưới tùy ý để sao lưu từng nhánh giá trị hay toàn bộ hệ thống Registry. Tiếp theo, bạn chọn lựa chỗ sao lưu tập tin *.reg với tên tuỳ ý. Ví dụ: tp143system.reg.
- Khôi phục giá trị Registry: Khi cần khôi phục lại những giá trị registry đã được xuất ra (tp143system.reg), bạn chỉ cần double click vào tập tin *.reg (vd: tp143system.reg) mà bạn đã sao lưu trước.
Thủ thuật với Internet Explorer 6
- Giữ phím CTRL và sử dụng con lăn (scroll) của mouse để tăng hay giảm nhanh font chữ.
- Giữ phím SHIFT và sử dụng con lăn (scroll) của mouse để trở về (Back) hay tiến lên (Forward) giữa các trang web.
- Để thay đổi thư mục mặc định khi Download với Internet Explorer, bạn làm theo các bước sau: Nhấn Start - Run , gõ "regedit" rồi Enter để vào Registry Editor. Chọn theo đường dẫn: HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Internet Explorer. Bên cửa sổ bên phải, ta thay đổi đường dẫn của Download Directory theo đường dẫn mà ta muốn. Hoàn tất việc thay đổi đường dẫn mặc định cho IE.
Thay đổi kích thước Icon trong Windows
Ta có thể dễ dàng thay đổi kích thước của các icon trong Windows với các bước đơn giản sau: Chọn Start – Settings – Control Panel. Nhấn đúp lên Display. Chọn thẻ Appearance. Chọn Icon từ Item: trong hộp thoại xổ xuống. Bạn có thể tinh chỉnh kích thước của icon ở phần Size. Nhấn Apply để thực thi thay đổi và OK để thoát ra.
Chú ý: Thông thường kích thước của các icon là 32x32, 16x16 hoặc có thể lớn hơn, nhưng các bạn đừng cho kích thước quá khác biệt có thể gây trục trặc cho kích thước Icon.
Thủ thuật với thư mục trong Windows
Thông thường thì Windows có thể nhớ khoảng 400 cấu hình khác nhau cho thư mục. Khi số lượng cấu hình khác nhau tăng lên hơn mức này, thì Windows sẽ tự động bỏ đi nhiều cấu hình. Bạn có thể thay đổi số 400 này thành 8000 để Windows có thể lưu trữ nhiều hơn chỉ với vài thao tác đơn giản sau:
Mở Notepad và tạo một tập tin có nội dung như sau: Windows Registry Editor Version 5.00
[-HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\ShellNoRoam\BagMRU]
[-HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\ShellNoRoam\Bags]
[HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\Shell]
"BagMRU Size"=dword:00001f40
[HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\ShellNoRoam]
"BagMRU Size"=dword:00001f40
[HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Policies\Explorer]
"NoSaveSettings"=dword:00000000
Sao lưu lại tập tin với tên là folder8000.reg , bạn nhớ để chế độ All Files cho Notepad khi save để tránh sao lưu thành một tập tin văn bản bình thường. Double Click lên folder8000.reg để nhập thông số trên vào Registry.
Sửa chửa các tập tin bị hỏng trong Windows XP
Thủ thuật này sẽ hướng dẫn bạn sửa chửa các tập tin bị hỏng trong Windows XP một cách dễ dàng. Bạn cần có CD Windows XP và hệ điều hành Windows XP đang sử dụng rồi thực hiện các bước sau: Cho CD Windows XP vào ổ CD. Bỏ qua giao diện cài đặt tự động của Windows CD. Nhấn Start , chọn Run. Gõ “sfc /scannow” (Không có dấu ngoặc kép). Windows sẽ thực hiện việc dò tìm và tải lại các tập tin bị hư hỏng.
Khóa chức năng Shutdown trong Dialog Box
Trước hết bạn cần sao lưu lại registry, sau đó, vào Registry Editor bằng cách: Vào Start – Run, gõ regedit rồi Enter. Tìm đến key:
HKEY_CURRENT_.oftwareMicrosoftWindowsCurrentVersionPoliciesExplorer
Trong cửa sổ phải, chú ý đến key “NoClose”. Nếu chưa có key “NoClose” ta có thể tạo bằng cách phải chuột ở cửa sổ phải, chọn New – String, đặt tên là “NoCloseKey”. Sau đó, ta phải chuột lên “NoCloseKey” và chọn Modify để chỉnh sửa. Gõ 1 vào ô giá trị (Value Data Box).
Khi muốn phục hồi lại như cũ, bạn chỉ cần thay đổi giá trị của “NoCloseKey” thành “0” hay xoá luôn cả giá trị “NoCloseKey”.
Chú ý: Cách thức này chỉ thực hiện được từ Windows 98 trở lên.
Không hiển thị ổ đĩa trong My Computer
Thủ thuật này có thể sẽ hữu ích cho các dịch vụ Net nhằm bảo mật thông tin với khách hàng, bạn sẽ che giấu các partition không cho hiển thị trong My Computer.
Vào Registry Editor, Start – Run, gõ regedit. Tìm đến key:
HKEY_CURRENT_.oftwareMicrosoftWindowsCurrentVersionPoliciesExplorer
Trong cửa sổ bên phải, ta phải chuột tạo New – DWORD và đặt tên là “NoDrives”. Sau đó, ta chọn “NoDrives” , phải chuột rồi chọn Modify để chỉnh sửa giá trị thành 3FFFFFF (Hexadecimal). Nhấn F5 để thực thi thay đổi. (Đôi khi phải restart lại máy để thực hiện thay đổi).
Bạn vào My Computer và sẽ thấy không có ổ nào được hiển thị. Muốn trở lại như cũ, bạn chỉ cần vào lại registry và xóa đi DWORD “NoDrives”.
Thay đổi vị trí cài đặt mặc định
Khi cài đặt các phần mềm hay các chương trình nào đó, Windows thường mặc định sẵn ổ đĩa (thường là C) nhưng bạn lại muốn Windows tự động chọn một ổ đĩa hay đường dẫn khác, ta chỉ cần tìm đến giá trị và thay đổi tùy ý bạn:
HKEY_LOCAL_MACHINESoftwareMicrosoftWindowsCurrentVersionSetupSourcePath
* Reset mật khẩu của Admin và user trong Windows XP
Thủ thuật này không áp dụng được khi bạn chỉ có tài khoản guest hay tài khoản bị giới hạn. Windows sẽ yêu cầu bạn nhập mật khẩu admin khi reset mật khẩu của user. Bạn cần kết nối và download một tiện ích là CIA COMMANDER phiên bản hiện tại là 2.0 tại đây.
CIA COMMANDER sẽ tạo một đĩa khởi động mà bạn có thể dùng để khởi động bất kỳ máy tính nào hay hỗ trợ bạn trên cả partition với định dạng NTFS. Bạn lựa chọn boot với floppy disk trong BIOS. Sau đó khởi động với floppy disk từ CIA COMMANDER, tiện ích sẽ hướng dẫn bạn mọi thứ với giao diện dễ sử dụng.
Sau khi boot máy, CIA COMMANDER cho phép bạn reset lại bất kỳ mật khẩu của user nào và thậm chí cả mật khẩu của admin. Nó cũng bao gồm một trình quản lý tập tin, registry editor, và trình soạn thảo text/hex.
Nếu không muốn dùng CIA COMMANDER, bạn cũng có thể sử dụng một chương trình là NTFS Pro, có cùng chức năng tương tự.
Chống treo máy khi khởi động
Nếu hệ thống của bạn thường bị treo khoảng 2 đến 3 phút mỗi khi khởi động, bạn không thể nhấn vào nút Start hay trên Taskbar, đó là do một dịch vụ của Windows (Background Intelligent Transfer) đang hoạt động ở nền của Windows. Để khắc phục tình trạng này, bạn có thể làm như sau:
- Vào Start – Run, gõ “msconfig” (không dấu ngoặc kép) và click OK.
- Hộp thoại System Configuration Utility xuất hiện, chọn thẻ Services.
- Tìm đến dịch vụ “Background Intelligent Transfer” và khoá lại bằng cách bỏ chọn nó.
- Nhấn OK và restart lại máy để thực hiện thay đổi.
Thay đổi thư mục mặc định cho Windows Explorer
Mặc định khi mở Windows Explorer sẽ hiển thị thư mục My Document. Để thay đổi thiết lập mặc định này, hiển thị tất cả các ổ đĩa thì theo các bước sau:
- Chọn Start – Programs – Accessories, sau đó phải chuột lên Windows Explorer, chọn Properties.
- Ngay mục Target với dòng hiển thị hiện tại là “%SystemRoot%\explorer.exe” , bạn hãy sửa lại thành “%SystemRoot%\explorer.exe /n, /e, /select, C:\”
- Nhấn OK và thử mở Windows Explorer ra lại để kiểm tra.
Nhận biết chương trình 16-bit
Để nhận biết các chương trình có phải là 16-bit hay không, ta chỉ cần thực hiện như sau: Mở Windows Explorer, tìm đến tập tin ứng dụng (.exe), phải chuột lên tập tin đó và chọn Properties. Nếu hộp thoại Properties không có thẻ Version thì đó là chương trình 16-bit.
Xóa các tập tin, thư mục tạm của Windows
Xóa thư mục tạm của Windows (Trong ổ C:\WINDOWS\Prefetch hoặc vào Start – Run, gõ Prefetch) mỗi 3 tháng. Windows XP lưu trữ những dữ liệu, chương trình được sử dụng thường xuyên trong một thư mục tạm (Prefetch Folder), việc này giúp dữ liệu hay chương trình được tải nhanh chóng khi cần. Nhưng đôi khi, thư mục này sẽ quá tải do nhiều dữ liệu và chương trình không được dùng tới, và điều này lại làm cho hệ thống của bạn trở nên ì ạch. Những tập tin trong thư mục này không chứa những gì quan trọng và an toàn để xóa.
Nâng tốc độ kết nối của Modem
Tốc độ kết nối Internet từ Modem phụ thuộc vào nhiều vào yếu tố nhưng bạn cũng có thể “ép” modem hoạt động ở mức cao nhất để có được tốc độ kết nối nhanh hơn bằng cách:
- Click Start – Settings, chọn Control Panel.
- Double click lên biểu tượng Modem, chọn Modem của bạn rồi nhấn Properties.
- Chọn thẻ Connection, click lên nút Advanced.
- Trong phần “Extra Settings” , bạn điền vào: S36=7
- Click OK để lưu lại thiết lập trên.
Tùy chọn title bar cho Windows Media Player
Đây là một thủ thuật nhỏ giúp bạn có thể chỉnh sửa text trên title bar của Windows Media Player ví dụ: Windows Media Player Professional [VSC – TP143 SOFT] . Các bước thực hiện:
- Vào Start – Run, gõ “regedit”, Enter để mở Registry Editor.
- Tìm đến khóa: HKEY_CURRENT_USER\Software\Policies\Microsoft , tạo một khoá (Key) mới là [WindowsMediaPlayer] , tạo một chuỗi (String value) tên là [TitleBar].
- Data Type: REG_SZ // Value Name: TitleBar.
- Double click lên TitleBar và gõ vào dòng text mà bạn muốn hiển thị.
- Đóng registry editor và reboot lại. Sau đó, mở Windows Media Player và kiểm tra lại thành quả của bạn.
* Không cho hiển thị Control Panel
Đối với các máy tính dung chung, để tránh cho những thiết lập của bạn bị thay đổi hay tinh chỉnh trong hệ thống thông qua Control Panel, bạn có thể ẩn Control Panel, không cho hiển thị nó bằng cách thiết lập thông số trong Registry như sau:
- Tìm đến khóa trong Registry Editor: HKEY_CURRENT_USER\Software\ Microsoft\Windows\CurrentVersion\Policies\Explorer
- Phải chuột ở cửa sổ bên phải, chọn New – Binary Value, đặt tên là: NoSetFolders - Double click vào NoSetFolders, nhập giá trị: 01 00 00 00 vào khung Value Data của hộp thoại Edit Binary Value.
- Thoát ra và khởi động lại máy tính để xem thay đổi.
Khi bạn muốn Control Panel hiển thị trở lại, thay giá trị cho NoSetFolders là: 00 00 00 00.
Ngoài ra, ta cũng có thể cho phép hiển thị Control Panel nhưng lại ẩn đi các thành phần trong đó hoặc ngăn chặn việc thay đổi các thiết lập.
- Trong Registry Editor, tìm đến khóa: HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Policies.
- Nhấn phải chuột vào khóa Policies ở cửa sổ bên trái, chọn New – Key, đặt tên là System.
- Phải chuột lên System rồi chọn New – DWORD Value. Tùy thuộc vào cách thiết lập cho thành phần nào trong Control Panel mà ta đặt tên cho DWORD Value vừa tao như sau: (một vài thiết lập cho Registry trong Windows 98)
- NoSecCPL: Ngăn không cho truy cập mục Password
- NoPWDPage: Ẩn giấu “Doi mat khau”
- NoProfilePage: Ẩn phần “User profiles”
- NoDispBackgroundPage: Ẩn phần background
- NoDispScrSavPage: Ẩn phần screensaver
- NoActiveDesktopChanges: ẩn phần thay đổi desktop
- NoDevMgrPage: Ẩn phần Device Manager trong System
- NoConfigPage: Ẩn phần “Hardware Profile”.
- Nhập giá trị 1 vào khung Value Data của hộp thoại Edit DWORD Value
- Tắt Registry Editor và khởi động lại máy để thực thi thay đổi. Nếu muốn khôi phục lại thiết lập cũ, bạn chỉ cần xóa đi hoặc thay đổi giá trị là 0.
Hiển thị tên bạn trên System Tray
Đây chỉ là một mẹo nhỏ nhằm thay đổi dòng chữ AM, PM ở kế phần hiển thị thời gian của System Tray. Đầu tiên, bạn vào Registry Editor:
- Tìm đến khóa: HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\International
- Xem bên cửa sổ bên phải, tìm giá trị s1159 (thông thường có sẵn ở Windows XP, nếu không có bạn có thể tạo New – String Value với tên s1159)
- Nhấn double click vào s1159 và điền vào tên bạn. Ví dụ: TP143
- Tìm đến giá trị thứ 2 là s2359, và điền vào tên trùng với s1159
- Tìm đến giá trị thứ 3 là sTimeFormat . double click và điền vào giá trị: hh:mm:ss:tt hoặc tt:hh:mm
- Thoát ra và khởi động lại máy để thực thi thay đổi.
Tự tạo nội dung InfoTip cho MyDocuments
Thủ thuật này hướng dẫn bạn thay đổi InfoTip hiện tại của Windows (nằm trong shell32.dll) cho MyDocuments thành nội dung tùy ý.
- Vào Registry Editor, tìm đến khóa: HKEY_CLASSES_ROOT\CLSID\{450D8FBA-AD25-11D0-98A8-0800361B1103}
- Bên cửa sổ phải, nhấn double click vào InfoTip
- Thay đổi đường dẫn hiện tại trong khung Value Data của hộp thoại Edit String với nội dung mà bạn muốn. Ví dụ: MyDocuments bài viết TP143 – TTO.
- Đóng registry Editor và refesh hoăc khởi động lại máy để thực thi thay đổi.
Ẩn Documents trên Thuc don Start
Thủ thuật này nhằm loại bỏ mục Documents (recent docs) trên Thuc don Start. Khi bạn mở bất kỳ một tập tin nào đó, Windows sẽ tự động lưu lại như là một recent docs mà bạn có thể truy xuất nhanh trong Documents trên Thuc don Start. Để xóa các tập tin này, bạn có thể vào Start – Run, gõ recent rồi Enter. Cửa sổ Recent Docs sẽ xuất hiện, bạn chỉ cần lựa chọn hoặc xóa hết các tập tin shortcut này. Nếu bạn muốn khóa luôn chức năng này của Windows thì có thể làm như sau:
- Vào Registry Editor, tìm đến khóa HKEY_CURRENT_USER\Software\ Microsoft\Windows\CurrentVersion\Policies\Explorer
- Bên cửa sổ phải, phải chuột chọn New – DWORD Value, đặt tên là NoRecentDocsThuc don
- Double click vào NoRecentDocsThuc don, nhập vào giá trị là 1 cho Value Data của hộp thoại Edit DWORD Value - Thoát ra và khởi động lại máy. Vào Thuc don Start để kiểm tra.
Để hiển thị Documents trên Thuc don Start trở lại, ta đặt giá trị cho NoRecentDocsThuc don là 0
*
Nhập các tùy chọn Command Prompt vào mỗi thư mục
Nếu bạn vẫn trung thành và thường hay sử dụng các câu lệnh trên DOS, thì với các phiên bản Windows như XP, bạn có thể thêm chức năng mở command prompt (hộp thoại câu lệnh) ở Thuc don phải chuột tại mỗi thư mục.
- Mở Registry, tìm đến khóa HKEY_CLASSES_ROOT\Directory\shell, phải chuột lên khóa shell trên cửa sổ trái.
- Chọn New / Key, đặt tên cho khóa mới là Command.
- Chọn khóa Command bên cửa sổ trái, nhấn double click vào “Default” , điền vào dòng text mà bạn muốn hiển thị trên Thuc don phải chuột, ví dụ: TP143 Command Prompt.
- Vẫn chọn khóa Command bên cửa sổ trái, bạn nhấn phải chuột ở cửa sổ phải, chọn New/Key, tạo khóa mới tên là command
(HKEY_CLASSES_ROOT\Directory\shell\Command\command)
- Bạn thay đổi giá trị của key command vừa tạo tùy thuộc vào phiên bản Windows:
- Windows 95, 98, ME: command.com /k cd "%1"
- Windows NT, 2000, XP: cmd.exe /k cd %1
Thoát ra và nhấn F5 để refresh. Kiểm tra lại bằng cách phải chuột lên thư mục bất kỳ, sẽ thấy xuất hiện “TP143 Command Prompt”
Ngăn việc nhập thiết lập mới vào Registry
Mỗi khi bạn double click vào tập tin có phần mở rộng là .reg , thì thiết lập trong tập tin sẽ được nhập vào Registry. Thủ thuật này giúp bạn thay đổi từ việc nhập sang hiệu chỉnh tập tin đó, điều này sẽ giúp bạn tránh được việc nhập các giá trị chưa biết cho Registry.
- Mở Registry, tìm đến khóa: HKEY_CLASSES_ROOT\regfile\shell.
- Bên cửa sổ phải, double click lên khóa “Default” , nhập “edit” vào khung Value Data
Một cách khác là vào Trong Windows Explorer hay My Computer, trên thanh Thuc don, chọn Tools – Folder Lua chon. Chọn thẻ File Types và tìm đến giá trị: “REG – Registration Entries”. Chọn Change để thay đổi trình sọan thảo cho tập tin “reg” (bạn nên chọn Notepad). Nhấn nút Advanced, chọn “edit” ở phần Actions và “Set Default”. OK và thoát ra ngoài, bạn hãy thử double click vào một tập tin ví dụ tp143.reg thì sẽ thấy mở ra một trình soạn thảo với nội dung chứ không nhập thẳng vào Registry.
Muốn nhập giá trị vào registry, bạn phải chuột lên tập tin đó, chọn Merge.
Sửa chửa cho Registry Editor
Đây có lẽ là một bước khá quan trọng đối với các bạn thường hay sử dụng các thủ thuật Registry. Thủ thuật này cho phép bạn “đưa” Registry Editor về trạng thái mặc định ban đầu với vị trí và các tham số khi Regedit không hiển thị chính xác thông tin.
Mở Registry, tìm đến khóa HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Applets\Regedit
Sao lưu các khóa sau: FindFlags, View, LastKey sau đó xóa chúng đi
Chỉ định chương trình chơi nhạc khi cho CD vào
Mỗi khi cho Audio CD vào ổ CD-Rom, bạn muốn chỉ định một chương trình làm mặc định để chơi Audio CD đó. Thủ thuật này sẽ giúp bạn làm điều đó, nhưng bạn phải để chế độ “autorun” hoạt động.
- Vào Registry, tìm đến khóa: HKEY_CLASSES_ROOT\AudioCD\Shell\Play\Command
- Tạo mới String Value hoặc nếu có sẵn, bạn tinh chỉnh cho khóa “Default” :
"C:\Program Files\Windows Media Player\wmplayer.exe" /prefetch:3 /device:AudioCD "%L" (đường dẫn tùy thuộc vào ổ đĩa chứa hệ điều hành của bạn)
Sưu tầm
Lên Trên
Cẩn thận với các chương trình phân vùng ổ đĩa
Có khá nhiều người khi đang làm Partition Magic 805 nửa chừng bị báo lỗi sau đó không còn khởi động vào windows được nữa, làm sao cứu hộ dữ liệu qúi giá đây?. Không thể làm gì cứu hộ được nữa một khi PM ngưng đột ngột báo lỗi như vậy hay bị cúp điện đột xuất.
Một vài chú ý cho bạn nào chưa rành mà dàm vọc vào các chương trình nguy hiểm như là Partition Magic 805.
Bạn phải biết mọi chương trình nhằm sắp xếp lại phân vùng ổ cứng dù nổi tiếng không mất dữ liệu như là PM 805, vẫn rất nguy hiểm với các bạn chưa rành...
Các chương trinh khác tương tự vậy như Bootmanager BOOTSTAR 90;.Harddisk Partitioner PartitionStar 1.49; Paragon Boot Manager 7.0; Paragon Partition Manager 2000.01; Ranish Partition Manager 2.38; Partition Commander 9.0.. và phục hồi đĩa cứng như Ghost 83 hoặc là Update BIOS đều gọi chung là chương trình tối nguy .Bạn không thể chưa rành mà sờ tới chúng được.
I) Những điều mà bạn cần phải; bắt buộc phải làm khi định làm các chương trình nguy hiểm nói trên: Luôn luôn bạn nên nhớ những điều căn bản sau đây:
1) Sao lưu ngay toàn bộ các dữ liệu quí giá nhất của mình để chung vào 1 thư mục là My Documents và di chuyển thư mục này sang nơi khác nằm ngoài ổ C nhu là ổ F.
Click nút chuột phải vào icon My documents trên desktop, chọn properties sau đó, chọn move đến nơi khác tuỳ ý.
Ngoài ra các thư từ (mail )quí của bạn cần lưu trữ phải làm y vậy cũng đưa vào nơi khác.
Trước khi chạy các chương trình phân vùng đĩa cứng, bạn nên chạy NDD ( Norton disk doctor 2002 ) chương trình dành cho DOS để xoá hoặc chỉnh lại ( fix )ại các lost link hay bad cluster trong ổ C, D ...
Ban mà lười không chịu làm như thế, sẽ còn lỗi file trong ổ C; mọi chương trinh như PM 805, Ghost 82 hay Drive image2002( Image center 5.6 ) đều có thể ngưng đột ngột nửa chừng và bạn hết boot trở vào Windows được nữa đấy.
2) Nếu bạn thuộc dân lính mới (new bie) không bao giờ nên đụng vào PM805 dù bạn có thấy ổ C chật chội đến thế nào chăng nữa.
Muốn phân vùng lại ổ C nên nhờ người có chuyên môn làm giúp cho bạn Đừng táy máy, khó chịu gì cả đừng tự làm mà chưa sao lưu, có ngày đổ nợ mất hết dữ liệu quí giá..
Bạn chỉ nên làm PM 8 khi nào biết làm sao lưu bằng ghost 82 hay tối thiểu là Drive image 2002 còn chưa biết sao lưu ổ đĩa thì tuyệt đối không bao giờ nên thử nghiệm.,
3) Bạn chỉ nên làm Boot Magic 80 để có primary partition (phân vùng chính) là tương đối an toàn nhất vì dù không còn boot được vẫn còn cách vào ổ khác ngoài DOS để xoá được nút kiểm, nhằm ngưng xài BM80.
Còn các chương trình phân vùng khác như là Paragon Partition Manager; Bootmanager BOOTSTAR 90 .. tuyệt đối bạn khộng nên thử qua bao giờ có ngày hối hận khi 2 đĩa mềm khởi động dành cho nó bị hư đột xuất (một cái thôi).
4) Chỉ làm PM 805 khi đã có một đĩa CD, USB-HDD đã có bản sao lưu ổ C, hoặc D xong hoặc ít ra là bản lưu ghost trong ổ F đã dành cho C và D
5) Bạn chỉ vọc chương trình phân vùng khác như Ranisk Partition trong Hiren bootCD vì dù hư vẫn còn cứu hộ lại bằng đĩa CD, USB-HDD này chứ không phải
chỉ có đĩa mềm nhưng nhớ là vẫn phải có bản sao lưu ổ C, D nhé..
II) Những điều cần biết trong lúc làm phân vùng hay sao lưu ổ cứng:
1) Đang làm PM 805 bạn phải nhớ luôn là khi định lại kích thước làm rộng hay giảm ổ C đi là bạn phải kéo từ chỗ khác lấp thật đầy chỗ cũ, trưóc khi chọn apply cho nó thực hiện . Một khi đã làm rồi mà lỡ để 1 khoảng trống dù nhỏ, sẽ làm không thể phục hồi lại được nữa nhất là khi bạn làm trong DOS
2) Nên chọn thay dỗi kích thước phân vùng, chọn ngay bằng Partition Magic
3) 805 bản chọn từ trong Windows: nó sẽ chui ra DOS tự động làm. Nếu nó làm không được, khởi động windows vẫn còn y như cũ, còn làm trong DOS mỗi khi hư đột xuất là hư luôn và bạn khó lòng trở lại như cũ.
4) Phục hồi ổ cứng hay phân vùng bằng ghost, cũng nên chọn từ windows ra DOS làm ít sa chỗ hơn là chỉ làm trong DOS khó lòng sữa chữa và hết khởi động. Tránh dùng chuột dể chọn khi phục hồi bằng Ghost mà phải tập dùng 4 nút: Tab, nút Enter và 2 nút mũi tên lên, xuống để chọn: như thế sẽ ít chạy lung tung khi chọn nơi phục hồi lại.
5) Phải có bản lưu khác trong ổ cứng thay vì chỉ có 1 bản duy nhất trong đĩa CDRDW\DVDRW. Nhớ là đĩa này mà xoá vài chục lần sẽ hư đột xuất không ờ bạn vẫn ghi bình thường nhưng khi phục hồi lại mới biết.
Hư nữa chừng bạn sẽ hết khởi động vào windows, còn một bản lưu khác trong ổ cứng mới cứu nguy cho banù. Không bao giờ nên để chồng đĩa kên nhau nhất là loại dĩa CDRW\DVDRW.
6) Khi nó làm mà nó nói có bất cứ error nào đó; bạn nên ngưng làm ngay và phải chạy ngay NDD trong DOS để sữa lỗi. Chạy scandisk của chính windows không hoàn hảo hay dùng NDD32 2006 trong windows cũng vậy thôi.
7) Nếu bạn chưa thật rành rẻ về sao lưu phân chia ổ cứng, tôi khuyên bạn nên thử dùng đầu tiên Drive image 2002( hoặc Image center 56 trong Hiren 81 ) an toàn gấp trăm lần so với vì có sẳn nút kiểm để dánh dấu.
Và chỉ nên xài Ghost 83 khi nào bạn đã giỏi dùng chuột thật siêu mà không còn bị sai phạm, chết người nữa: máy hết boot..
8) Nhó là khi dùng Drive image 2002 nên lưu thêm một bản ở ổ cứng thay vì vào đĩa CDRW . Drive Image phục hồi nữa chừng mà hư với đĩa CDRW thì bạn mất luôn tên ổ đĩa ( không phải như ghost ). Bạn phải dùng PM 805 trong DOS để đặt tên thứ tự ổ đĩa lại; mới hy vọng phục hồi đúng y nơi cũ.
9) Cuối cùng, chương trình update BIOS cũng khá nguy hiểm nếu bạn chưa rành; cúp điện đột xuất mà bạn chưa làm xong thì tiêu đời mainboard. Cần đọc đọc Giup do thật kỹ coi BIOS ngày tháng và số hiệu chính xác trước khi câp nhật . Phải làm update BIOS cực nhanh trong 20- 30 giây là phải xong.
Cập nhật BIOS cho ổ ghi CDRW\DVDRW mà lỡ có cúp điện đột xuất cũng coi như tiêu và không nên để đĩa CD trắng trong ổ đĩa ghi lúc cập nhật BIOS và bao giờ phải làm cho thật nhanh mới an toàn.
Xã Hội Thông Tin
Lên Trên
Tự động backup
Sao lưu, hồi phục dữ liệu (backup) là một nhu cầu không thể thiếu đối với tất cả mọi đối tượng sử dụng máy tính. Thế nhưng chúng ta đôi lúc còn khá xa lạ với công việc này. Thậm chí nhiều người còn cho rằng công việc backup đơn giản chỉ là chép một bản dữ liệu dự phòng vào một nơi nào đó, để khi cần có thể phục hồi.
Tuy nhiên, Memeo AutoBackup sẽ làm thay đổi suy nghĩ của bạn. Điểm ấn tượng nhất của công cụ này chính là khả năng tự động theo dõi sự thay đổi của một số lượng dữ liệu cụ thể mà bạn cần quan tâm. Chính điều này làm bạn có thể chuyên biệt hóa hoạt động backup trên một số đối tượng cụ thể thay vì backup toàn đĩa.
Chương trình này còn có chức năng sử dụng các thiết bị như ổ cứng, các thiết bị lưu trữ cơ động như ổ USB, máy MP3, điện thoại di động... làm phương tiện sao lưu phục hồi, hoặc đồng bộ dữ liệu.
Cách thức cài đặt và sử dụng rất đơn giản vì chương trình đã chuyển tất cả các thao tác vào các wizard (bộ trình tự thao tác), tạo sự dễ dàng tối đa cho người dùng.Bạn có thể tải bản dùng thử theo link sau: Tải Tại Đây
Lên Trên
Một số loại phân vùng
Một số loại Phân vùng:
_FAT16. Với HĐH MS-DOS, hệ thống tập tin FAT (FAT16 – để phân biệt với FAT32) được công bố vào năm 1981 đưa ra một cách thức mới về việc tổ chức và quản lý tập tin trên đĩa cứng, đĩa mềm. Tuy nhiên, khi dung lượng đĩa cứng ngày càng tăng nhanh, FAT16 đã bộc lộ nhiều hạn chế. Với không gian địa chỉ 16 bit, FAT16 chỉ hỗ trợ đến 65.536 liên cung (clusters) trên một partition, gây ra sự lãng phí dung lượng đáng kể (đến 50% dung lượng đối với những ổ đĩa cứng trên 2 GB).
_FAT32. giới thiệu trong phiên bản Windows 95 Service Pack 2 (OSR 2), được xem là phiên bản mở rộng của FAT16. Do sử dụng không gian địa chỉ 32 bit nên FAT32 hỗ trợ nhiều cluster trên một partition hơn, do vậy không gian đĩa cứng được tận dụng nhiều hơn. Ngoài ra với khả năng hỗ trợ kích thước của phân vùng từ 2GB lên 2TB và chiều dài tối đa của tên tập tin được mở rộng đến 255 ký tự đã làm cho FAT16 nhanh chóng bị lãng quên. Tuy nhiên, nhược điểm của FAT32 là tính bảo mật và khả năng chịu lỗi (Fault Tolerance) không cao.
_NTFS: (New Technology File System) được giới thiệu cùng với phiên bản Windows NT đầu tiên (phiên bản này cũng hỗ trợ FAT32). Với không gian địa chỉ 64 bit, khả năng thay đổi kích thước của cluster độc lập với dung lượng đĩa cứng, NTFS hầu như đã loại trừ được những hạn chế về số cluster, kích thước tối đa của tập tin trên một phân vùng đĩa cứng.
_NTFS sử dụng bảng quản lý tập tin MFT (Master File Table) thay cho bảng FAT quen thuộc nhằm tăng cường khả năng lưu trữ, tính bảo mật cho tập tin và thư mục, khả năng mã hóa dữ liệu đến từng tập tin. Ngoài ra, NTFS có khả năng chịu lỗi cao, cho phép người dùng đóng một ứng dụng “chết” (not responding) mà không làm ảnh hưởng đến những ứng dụng khác. Tuy nhiên, NTFS lại không thích hợp với những ổ đĩa có dung lượng thấp (dưới 400 MB) và không sử dụng được trên đĩa mềm.
_Nếu không quan tâm đến vấn đề bảo mật, các dữ liệu được lưu trữ trên partition FAT16/32 có thể được bất kỳ người dùng nào (thậm chí truy cập qua mạng) đọc, chỉnh sửa và xóa. Vì thế, bạn không nên lưu những dữ liệu quan trọng trên partition được định dạng FAT16 hay FAT32. Với NTFS thì khác, bạn có thể sử dụng khả năng mã hóa của Windows NT kết hợp với tính bảo mật của NTFS để chia sẻ cũng như mã hóa dữ liệu cá nhân.
Good luck
Lên Trên
BIOS - Thông tin cơ bản cho người mới bắt đầu
Chắc là chẳng mấy khi bạn nghĩ đến các công cụ xử lý sự cố của máy tính chừng nào rắc rối xảy ra đối với bạn. Máy tính của bạn có một trung tâm xử lý sự cố của riêng nó, đó là BIOS (Hệ thống nhập/xuất cơ bản). Không có chỉ lệnh cho phép từ BIOS, hệ điều hành của bạn sẽ không khởi động.
Khi bạn bật máy tính lên, Bios lập tức hoạt động. Bios được xem là phần sụn (firmware)- là một loại phần mềm được tích hợp với phần cứng. Một loại Bios đời cũ hơn thường được tích hợp trong một chip ROM và gắn bo mạch vào hệ thống. Flash Bios là một loại Bios mới hơn và được lưu trong một chip nhớ flash mà bạn có thể xoá và lập trình lại.
Bạn có thể hiểu Bios là một chương trình tiền hệ điều hành, giúp một máy tính có thể làm bất cứ thứ gì nó có thể mà không truy nhập vào phần mềm từ một ổ đĩa. Mã được viết trong phần sụn này chịu trách nhiệm kiểm soát những thứ như các ổ đĩa; nhận biết sự hiện diện của các thành phần hệ thống chủ yếu (chẳng hạn như bộ vi xử lý và dung lượng bộ nhớ); giao tiếp với màn hình, bàn phím, chuột và các thiết bị ngoại vi khác, v.v... Nó khởi động hệ thống, kiểm tra tất cả các cấu hình thiết yếu để hệ thống có thể cho hệ điều hành khởi chạy. Khi hệ điều hành chạy, nó sẽ coi vai trò của Bios là xác nhận và kiểm soát các thiết bị ngoại vi.
Có phải tất cả các Bios đều giống nhau?
Không đúng. Có một số công ty sản xuất các Bios, vì vậy các phiên bản khác nhau có mã khác nhau. Những nhà sản xuất Bios hàng đầu bao gồm AMI (http://www.ami.com), Phoenix Technologies (http://www.phoenix.com), IBM (http://www.ibm.com) và Intel (http://www.intel.com). Một số nhà sản xuất Bios cũng sản xuất luôn toàn bộ hệ thống, trong khi các nhà sản xuất khác tập trung vào các thành phần, chẳng hạn các bộ vi xử lý và bo mạch chủ.
Làm thế nào để xác định được bạn đang có phiên bản Bios nào?
Nếu bạn có một máy tính đời cũ hơn, chẳng hạn máy đang cài Windows 98 hoặc phiên bản trước nữa, bạn có thể nhìn thấy chuỗi định danh Bios của bạn-một chuỗi dài các số và con chữ-trên màn hình khởi động khi bạn khởi động hệ thống. Tuy nhiên, trên các hệ thống mới hơn, Bios của bạn có thể được cấu hình để thực hiện một quá trình khởi động lặng lẽ hơn, có nghĩa là bạn sẽ không thấy các kết quả của quá trình POST (tự kiểm tra khi bật máy) mà Bios thực hiện khi hệ thống của bạn được bật lên. Vì vậy, bạn sẽ cần phải tìm phiên bản Bios của bạn ở một nơi khác.
Bạn hãy thử tìm phiên bản Bios của bạn trong trình System Information, một phần của Windows nằm trong Thuc don Start. Trong Windows XP, kích Start, All Programs, Accessories, System Tools và System Information. Thông tin mà bạn cần được liệt kê dưới System Summary.
Dưới Thuc don Start, mở công cụ System Information để tìm phiên bản và nhà sản xuất Bios của bạn. Trong ô bên phải, bên cạnh phần Bios Version/Date, bạn sẽ thấy tên nhà sản xuất Bios, phiên bản và ngày mà nó được tạo ra. Tất nhiên, những thông tin này không giúp cho bạn truy nhập vào Bios nhưng nó là những thông tin mà bạn nên biết. Thực ra, bạn nên sao chép dữ liệu này ra một mảnh giấy và giữ nó ở một nơi an toàn, đặc biệt là nếu bạn định sửa đổi Bios hiện tại của bạn hoặc nâng cấp lên một phiên bản mới hơn.
Một lựa chọn khác là tham khảo cuốn sổ tay người dùng của máy tính. Nó có thể cung cấp thông tin về cả phiên bản Bios lẫn phương thức truy nhập nó.
Cuối cùng, bạn có thể ghé vào web site của nhà sản xuất máy tính của bạn. Tại đó, bạn có thể biết được không chỉ loại Bios của bạn mà còn cả cách nâng cấp phiên bản đó. Bạn chỉ cần thực hiện một phép tìm kiếm đơn giản với từ khoá là “BIOS versions” hoặc“accessing the BIOS” là sẽ đến được nơi bạn cần trên web site. Bạn cũng có thể thu hẹp kết quả tìm kiếm bằng cách thêm nhãn hiệu máy PC của bạn vào điều kiện tìm kiếm.
Chẳng hạn, những người sử dụng máy tính IBM ThinkPad có thể vào một trang trên web site của IBM được dành riêng cho họ tại địa chỉ Truy Cập Dịa chỉ này Trang How To Access The BIOS được dành cho những người sử dụng ThinkPad đang chạy phiên bản tối thiểu là Win98 SE. Bạn hãy kích vào nút Detect Bios Version để quét qua hệ thống của bạn và phiên bản Bios của bạn sẽ được hiển thị trong một cửa sổ bật ra. Bạn cũng có thể kiểm tra một bảng trong trang này để tìm những hướng dẫn cụ thể về cách truy nhập Bios trên hệ thống của bạn.
Làm thế nào để mở Bios?
Đây không phải là một quá trình chung, thống nhất. Phương thức truy nhập Bios thường khác nhau đối với mỗi nhà sản xuất máy tính, nếu không phải là khác nhau với mỗi mẫu hệ thống. Bởi vì việc tinh chỉnh Bios thường không phải là một công việc cần thiết và thường là có hại nhiều hơn là có lợi nếu bạn không biết bạn đang làm gì nên một số nhà sản xuất máy tính thường ẩn chúng đi. Cũng giống như với Windows Registry, bạn không nên xới tung Bios lên trừ phi bạn chắc chắn là bạn biết mình đang làm gì và điều đó là hết sức cần thiết.
Có lẽ bạn sẽ rất may mắn khi có một hệ thống mà tiết lộ cho bạn biết tổ hợp phím để mở Bios khi bạn khởi động máy tính. Chẳng hạn, trên chiếc Gateway PC chạy WinXP, sau khi bật nguồn, màn hình đầu tiên mà chúng ta nhìn thấy có một thông báo là chúng ta có thể truy nhập vào các thiết lập Bios của chúng ta bằng cách nhấn phím F2.
Nếu màn hình khởi động không đưa ra bất cứ thông tin gì, bạn hãy làm theo phương pháp mà chúng tôi vừa đề cập ở trên để khám phá chuỗi định danh Bios của bạn. Nhà sản xuất hay cuốn sổ tay hệ thống của bạn sẽ có thể cho bạn biết làm thế nào để vào được Bios.
Khi bạn mày mò vào Bios, bạn có thể nhìn thấy từ viết tắt CMOS (Chất bán dẫn oxit kim loại bổ sung), đặc biệt là khi bạn có một hệ thống cũ. Đây là một loại chip RAM trên bo mạch hệ thống của bạn và là một nơi rất quan trọng để lưu giữ tất cả cấu hình hệ thống của bạn. Tuy nhiên, Bios sẽ đảm trách việc kiểm tra những thông tin cấu hình này mỗi lần bạn khởi động máy tính và, khi cần thiết, cập nhật những thiết lập trên chip CMOS. Bởi vì Bios và CMOS có liên hệ mật thiết với nhau nên giao diện Bios của bạn có thể được gán nhãn là CMOS Setup Utility hoặc một thứ gì đó tương tự nhưng về mặt kỹ thuật, chúng không phải là một.
Bạn có thể thay đổi thiết lập nào trong Bios?
Bios của bạn có thể được tổ chức khác với của chúng tôi, cho dù có thể chỉ khác ở cáchgán nhãn các phần. Tuy vậy, dưới đây là những điểm nổi bật trong nội dung củamột Bios đời mới điển hình. Chúng tôi chọn mô tả những tính năng được tập hợp theo nhóm nằm trên nhiều màn hình khác nhau trong Bios của chúng tôi(do Intel sản xuất).
Main
Trên màn hình giới thiệu này, bạn sẽ có một bức ảnh về cơ cấu các thành phần hệ thống của bạn: phiên bản Bios, chủng loại và tốc độ bộ vi xử lý, tốc độ bộ nhớ và bus hệ thống, cache RAM và tổng dung lượng bộ nhớ. Rõ ràng là bạn không thể thay đổi những con số này trừ phi bạn phải đổi cả chiếc PC của mình.
Những thiết lập duy nhất mà bạn có thể thay đổi trên màn hình chính là ngôn ngữ, ngày tháng và thời gian. Bạn sử dụng các phím mũi tên lên và xuống của bàn phím để chuyển tới trường thích hợp và nếu bạn cần đưa vào dữ liệu mới, nhấn Enter. Mặc dù bạn có thể thay đổi ngày tháng và thời gian của hệ thống trong Bios, bạn cũng có thể thay đổi những thông số này một cách dễ dàng hơn nhiều qua giao diện Windows.
Advanced
Bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu phần trung tâm của các thiết lập Bios. Các giá trị nhập vào đây, nếu đúng, sẽ giữ cho hệ thống của bạn hoạt động tốt. Nếu không đúng, chúng có thể làm cho hệ thống trục trặc, vì vậy bạn hãy cẩn thận khi mày mò vào đây. Một kinh nghiệm rất tốt là kiểm tra kỹ lưỡng phần thiết lập này của Bios bất cứ khi nào bạn nâng cấp hệ thống bằng phần cứng mới, dù là các thành phần bên trong hoặc thiết bị ngoại vi, để xem những thiết lập dưới đây có phù hợp với các thành phần mới của bạn hay không.
1. Peripheral Configuration (Cấu hình ngoại vi)
Sử dụng màn hình này để bật hoặc tắt các cổng song song và tuần tự, cộng với thay đổi nhiều thiết lập cụ thể khác. Trong các hệ thống DOS, có 4 cổng giao tiếp tuần tự được hỗ trợ:COM1, COM2, COM3 và COM4. Chỉ hai yêu cầu ngắt IRQ3 và IRQ 4 là sẵn dùng cho 4 cổng này để cho phép giao tiếp giữa các thiết bị và bộ vi xử lý. Khi bạn bổ sung một thiết bị ngoại vi mới, bạn sẽ phải chỉ rõ IRQ nào nó có thể sử dụng. Công nghệ Plug-and-Play (cắm là chạy) thường xử l?ý những thiết lập này một cách tự động, nhưng nếu có một vấn đề nảy sinh thì giờ đây bạn đã biết được phải vào đâu trong Bios để xử lý.
2. Drive Configuration (Cấu hình ổ đĩa)
Nếu bạn định cài đặt một ổ đĩa cứng mới, bạn sẽ muốn kiểm tra phần này để chắc chắn rằng những thiết lập mới đã được ghi lại. Chẳng hạn, trong Bios của chúng tôi, chúng tôi có một số lựa chọn thiết lập cho cấu hình ATA/IDE (Advanced Technology Attachment/Integrated Drive Electronics). ATA là một đặc tính kỹ thuật ổ đĩa cứng trong đó bộ điều khiển dữ liệu-một chip được sử dụng để giao tiếp với các thiết bị ngoại vi-được đặt trên ổ đĩa. ATA được dựa trên công nghệ IDE.
Cũng trên màn hình này là một danh sách các thiết bị IDE được dò ra cũng như chưa được dò ra. Khi Bios làm việc, nó tìm kiếm sự hiện diện của các thiết bị IDE được cài đặt hoặc được gắn kèm. Nếu một thiết bị được dò ra, bạn có thể tinh chỉnh một hoặc hai thiết lập, nhưng việc sửa đổi những thiết lập này sẽ không ảnh hưởng đến sự thực thi của các ổ đĩa IDE của bạn; Sự thực thi này được điều khiển bởi các trình điều khiển IDE và hệ điều hành của bạn.
3. Floppy Configuration (Cấu hình đĩa mềm)
Nếu bạn lắp đặt một ổ đĩa mềm mới, bạn có thể sẽ cần phải sửa đổi một số thiết lập nhất định ở đây. Bạn sẽ có thể lựa chọn dung lượng của ổ đĩa mới được lắp đặt, chẳng hạn một ổ đĩa kích thước 3.5 inch, dung lượng 2.88MB. Bạn cũng có thể bật hoặc tắt một tính năng chống ghi cho ổ đĩa này.
4. Event Log Configuration (Cấu hình nhật ký sự kiện)
Hệ thống của bạn có thể chứa một nhật ký sự kiện DMI (giao diện quản lý màn hình). Một nhật ký DMI theo dõi những thay đổi được thực hiện đối với một hệ thống, chẳng hạn như việc cài đặt chương trình. Màn hình này cung cấp cho bạn những lựa chọn để bật và tắt nhật ký và sau đó xem nội dung của nhật ký, xoá nó và đánh dấu nó là đã đọc.
5. USB Configuration (Cấu hình USB)
Các cổng USB (Bus nối tiếp đa năng) cung cấp các nối kết nhanh với các thiết bị ngoại vi chẳng hạn như chuột. Chuẩn USB có sẵn ở hai phiên bản: USB 1.1 (12Mbit/s) và USB 2.0 (còn được biết đến với cái tên Hi-Speed USB; 480Mbit/s). Bạn hãy xem xét phần thiết lập này của Bios để chắc chắn rằng phiên bản USB phù hợp đã có hiệu lực dựa trên các trình điều khiển đã cài đặt của bạn. Nếu Bios của bạn không hỗ trợ USB, bạn sẽ cần phải cập nhật nó trước khi nâng cấp lên một ngoại vi USB. Power. Đây là những thiết lập quản lý điện năng dựa trên các đặc tính kỹ thuật ACPI (Advanced Configuration and Power Interface). Các thiết lập ACPI cho phép bạn biết được bao nhiêu phần năng lượng hệ thống đã được dành cho mỗi thiết bị ngoại vi. Nếu đang ở chế độ không sử dụng, một máy tính có thể tắt một thiết bị để tiết kiệm tài nguyên hệ thống. Bạn cũng có thể bật và tắt một thiết lập loại “after power failure”, vốn xác định xem hệ thống của bạn phản ứng như thế nào trong trường hợp mất điện.
Với một số thiết lập Bios khác, những thiết lập quản lý năng lượng này thường được xử lý mà không gặp trở ngại gì bởi hệ điều hành của bạn.
Boot
Những lựa chọn của bạn ở đây bao gồm một hỗn hợp các thiết lập liên quan đến khởi động. Đối với những người mới bắt đầu, bạn có thể xác định thứ tự mà hệ thống của bạn khởi động các ổ đĩa của nó và các thiết bị tháo dời được. Bạn cũng có thể bật hoặc tắt tính năng khởi động ngầm (silent boot). Ngoài ra, bạn có thể bật và tắt các cảnh báo dò tìm cho các thành phần hệ thống, chẳng hạn các ổ đĩa, bàn phím và chuột của bạn. Nếu những cảnh báo này được bật lên, máy tính của bạn sẽ thông báo cho bạn với một tiếng bíp to nếu nó không thể dò ra một thiết bị.Thoát khỏi Bios một cách an toàn
Bios của bạn có thể chứa một màn hình Exit cho phép bạn thoát khỏi phần sụn này một cách an toàn. Bạn có thể lưu những thay đổi mà bạn đã thực hiện trong CMOS và thoát khỏi Bios hoặc không lưu gì cả rồi thoát ra.
Bios của bạn cũng có thể có một tính năng an toàn được xây dựng sẵn khác. Nếu bạn chọn cách thoát khỏi Bios bằng cách nhấn nút Esc, bạn sẽ được hỏi xem liệu bạn muốn hay không muốn lưu những thay đổi trước khi thoát. Tính năng an toàn này sẽ ngăn ngừa bạn giữ một thay đổi mà bạn đã vô tình thực hiện.
Đừng nghĩ rằng những lỗi như vậy sẽ không xảy ra. Bởi vì việc di chuyển trong Bios yêu cầu việc gõ phím thay cho việc kích chuột quen thuộc, bạn sẽ rất dễ vô tình thay đổi một thiết lập.
Và như chúng tôi đã cảnh báo, thậm chí một thiết lập sai trong Bios có thể thay đổi hiện thực của bạn từ “cả hệ thống hoạt động bình thường” thành “hệ thống hư hỏng”.
Làm thế nào để nâng cấp Bios?
Mr.Bios(http://www.mrbios.com) là một địa chỉ rất tốt để tìm một bản nâng cấp Bios trực tuyến, đặc biệt là nếu bạn có một Bios được sản xuất bởi các công ty được liệt kê trong ảnh chụp màn hình này.
Nói chung, các nhà sản xuất phát hành các bản cập nhật cho các phiên bản Bios vì một trong hai lý? do sau: để sửa một lỗi trong Bios hay để bổ sung các hỗ trợ cho phần cứng hoặc các tính năng mới. Tương tự, lý do tốt nhất để bạn nâng cấp Bios của bạn là khi bạn vừa nâng cấp các thành phần phần cứng chính, chẳng hạn một bộ vi xử lý, ổ cứng hoặc card màn hình.
Để tìm một phiên bản Bios cập nhật cho hệ thống của bạn, trước hết bạn hãy ghé vào web site của nhà sản xuất Bios của bạn. Nếu bản nâng cấp có ở trong web site này, nó sẽ cung cấp cho bạn những hướng dẫn từng bước về cách tải xuống và cài đặt tập tin này. Tất nhiên là quy trình này sẽ thay đổi đối với từng web site. Có site thì yêu cầu bạn điền vào một mẫu hoặc cho phép site đó quét qua hệ thống của bạn trước khi bạn có thể tải xuống tập tin nâng cấp phù hợp. Bạn hãy lưu tập tin đó vào ổ đĩa cứng, giải nén nó rồi lưu vào một đĩa mềm. Sau đó, bạn đưa đĩa này vào ổ mềm và để tập tin thi hành có trong đĩa thực hiện nhiệm vụ của nó.
Mặt khác, một số web site nâng cấp Bios thường lựa chọn cách gửi cho bạn đĩa mềm với tập tin cập nhật và những hướng dẫn cài đặt.
Một lựa chọn nữa là vào một web site nâng cấp Bios, chẳng hạn eSupport (http://www.esupport.com). Web site này cung cấp các bản nâng cấp cho một số nhà sản xuất Bios hàng đầu. Nó cung cấp cho bạn một số phương pháp để có được một Bios mới. Ngoài ra bạn cũng có thể vào BIOS-Drivers.com (http://www.bios-drivers.com), một web site cung cấp các kết nối tới hầu như tất cả các nhà sản xuất Bios hiện nay
Lên Trên
DÙNG GHOST để chống phân mảnh đĩa cứng
Ai cũng biết Ghost là một chương trình chuyên dùng để sao chép, sao lưu dự phòng và phục hồi dữ liệu ổ cứng. Tuy vậy, chương trình này còn có một tính năng rất hữu ích là dồn đĩa cực nhanh so với các chương trình khác.
Thực ra, ta lợi dụng chức năng sao lưu/phục hồi partition để phục vụ cho việc dồn đĩa tốc độ cao. Để dùng Ghost dồn đĩa, yêu cầu ổ cứng của bạn phải được chia tối thiểu hai partition (mỗi partition là một ổ đĩa logic) và dung lượng còn trống của partition này phải đủ chứa dung lượng dữ liệu của partition kia, giống như khi sao lưu partition bình thường.
Cách làm đơn giản như sau:
- Sao lưu ổ C thành một file hình ảnh đĩa cứng (image) chứa trong ổ D, khi sao lưu bạn có thể dùng chế độ nén để giảm nhỏ kích thước file này.
- Phục hồi ổ C từ file hình ảnh đã có trong ổ D. Trong quá trình phục hồi, Ghost sẽ xoá toàn bộ dữ liệu cũ và ghi lại dữ liệu mới theo kiểu tuần tự từ đầu đĩa trở đi - như vậy cũng đồng nghĩa với việc dồn đĩa cho khỏi phân mảnh.
- Bạn cũng làm như vậy với ổ D hay các ổ khác nếu ổ cứng của bạn có nhiều partition.
Tuy bạn phải sao lưu và phục hồi cho từng ổ đĩa logic nhưng vẫn rất nhanh so với thời gian dồn đĩa bằng các chương trình khác như Speed Disk hay Defrag (do các chương trình này phải tính toán việc di chuyển, kết hợp file, sử dụng không gian đĩa tạm thời nên rất mất thời giờ), còn Ghost ghi tuần tự không cần tính toán gì cả.
Lên Trên